• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


TIN SA-LÊ-DIÊNG THẾ GIỚI

Chúa Nhật 24 Thường Niên Năm A: Tha Thứ, Mùa Xuân Tình Yêu

Văn hào Nga, Lêon Tolstoi kể câu chuyện ngụ ngôn.

Có một người hành khách đến trước cửa nhà một người giàu có để xin bố thí. Nhưng mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến một lúc không chịu đựng đựơc những lời van xin đó, thay vì bố thí, người giàu có đã lấy đá ném vào người hành khất. Con người khốn khổ ấy lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: ta sẽ mang hòn đá này cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi.

Năm tháng trôi qua, lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Ngày hôm đó, người hành khất cũng chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu có vào ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong lòng, ông đi theo đoàn người áp giải, tay không rời hòn đá mà người giàu có đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng bên mình. Nhưng cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiều tuỵ đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: tại sao ta phải mang nặng hòn đá này từ bao nhiêu năm qua? Con người này giờ đây chỉ là một kẻ khốn khổ như ta mà thôi.

Có hai thứ mùa xuân. Xuân đất trời và xuân tâm hồn. Xuân đất trời, mầm non nẩy lộc, cây cối xanh tươi. Xuân tâm hồn, bình an thanh thản. Người hành khất đã tìm lại mùa xuân tâm hồn. Vì biết tha thứ nên tâm hồn mang nặng hờn căm oán ghét giờ đây đã hồi sinh, nảy mầm. Từ đây, cuộc sống trở nên tươi đẹp. Mới mẻ của mùa xuân tâm hồn con người là sự tha thứ.

Tin Mừng tuần trước, Chúa Giêsu dạy hãy sửa lỗi cho nhau. Tin Mừng tuần này, Chúa dạy hãy tha thứ. Góp ý xây dựng là một nét đẹp của tình yêu. Tha thứ là mùa xuân của tình yêu.

Trang Tin Mừng thuật lại cuộc đàm đạo về ơn tha thứ.

Phêrô đến gần Chúa Giêsu hỏi rằng: Thưa Thầy, nếu anh em con xúc phạm đến con thì con phải tha thứ đến mấy lần? Có phải bảy lần không?. Đối với người Do thái là “quá tam ba bận”. Có tha chỉ tha ba lần thôi, đến lần thứ tư phải trừng phạt. Họ suy luận:Thiên Chúa trừng phạt kẻ ác khi nó lỗi phạm lần thứ tư; người phàm không thể nhân lành hơn Thiên Chúa nên con người không thể tha thứ cho nhau quá ba lần. Trước lời suy luận và giảng dạy như thế của các kinh sư, Phêrô chắc mẫm sẽ được Thầy khen ngợi khi đề nghị tha bảy lần. Vì tha thứ bảy lần là đã gấp đôi truyền thống Do thái và còn cộng thêm một lần nữa. Phêrô đến với Chúa bằng tâm thức của luật dân Chúa đang tuân giữ "Thiên Chúa luôn tha thứ cho người công chính bảy lần" (Cn 24,16). Tha thứ bảy lần là tha thứ có giới hạn. Thế nhưng, câu trả lời của Chúa Giêsu đã làm bàng hoàng người nghe: Không phải chỉ bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy. Tha thứ đến 490 lần. Ở đây không thể hiểu theo nghĩa đen với công thức toán học để tìm ra con số lần phải tha thứ cho anh em mà là tha thứ không giới hạn, tha hoài, tha mãi.

Để các môn đệ hiểu bài học tha thứ không giới hạn này, Chúa Giêsu đã cụ thể hoá bằng câu chuyện. Một người đầy tớ mắc nợ vua mười ngàn nén bạc, có giá trị tương đương một trăm triệu, một số nợ khổng lồ vì một ngày công chỉ một đồng (x. Mt 20,9). Vua ra lệnh bán y, vợ con, tài sản của y để trả nợ. Người đầy tớ liền sấp mình, van lơn xin khất nợ. Nhà vua động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y.Tên đầy tớ được tha hết mọi nợ nần, được trả tự do, không còn làm nô lệ nữa. Trớ trêu thay, vừa được tha về, tên đầy tớ gặp một người bạn chỉ mắc nợ y một trăm đồng, một món nợ rất nhỏ so với món nợ khổng lồ y vừa được vua tha bổng, y tóm lấy, bóp cổ đòi trả nợ ngay. Người bạn sấp mình dưới chân y, van lơn xin khất nợ, nhưng y không nghe, bắt bạn tống giam vào ngục. Chuyện chướng tai gai mắt này đến tai vua, vì những người bạn của anh không thể nhắm mắt làm ngơ được. Kết cục, tên đầy tớ ác độc bị vua ra lệnh hành hạ. Kết thúc câu chuyện, Chúa Giêsu khẳng định: “Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình”.

Tha thứ cho nhau là điều kiện để được Thiên Chúa tha thứ. Chúa Giêsu cho thấy tính cấp thiết và cần thiết của ơn tha thứ.

- Phải tha thứ vì ai cũng lỗi lầm.

Nhân vô thập toàn”, không ai hoàn hảo cả. Là con người, ai cũng có những sai trái, những lầm lỗi. Xét lại bản thân, sẽ thấy chính mình cũng có nhiều sai trái, lắm khiếm khuyết và lầm lỗi. Vô ý và hữu ý, cố tình và vô tình xúc phạm nhau. Chỉ cần một chút cảm thông, một ít hiểu biết sẽ dễ dàng bỏ qua, không chấp nhất. Người mang nặng oán hờn là người không bao giờ bình an. Như người hành khất mang hòn đá căm hờn mười mấy năm nặng nề. Trong các thứ khổ hạnh, giữa những thứ đắng cay, có một thứ rất cay đắng, đó là thiếu vắng thông cảm, là tâm hồn mang hận thù. Khi thù ai, tâm hồn tôi không còn phẳng lặng. Khi tôi bị người khác thù hận, tôi sống trong đề phòng sợ hãi. Cả hai đều là ngục tối. Cả hai đều đánh mất bình an tâm hồn.

Tha thứ là việc vô cùng khó. Tha thứ vượt qua khả năng tự nhiên của con người, nhất là đối với người Việt Nam chúng ta “sống để bụng, chết đem theo”. Câu nói đó cho thấy người Việt Nam giận dai, thù dai, nhớ dai những xúc phạm của người khác như thế nào. Cần phải tha thứ cho nhau. Thánh Phaolô đã khuyên bảo: “Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4,32). Đức Phật cũng dạy lấy ơn trả oán chứ đừng lấy oán trả oán: Lấy oán trả oán, oán chập chùng. Lấy đức trả oán, oán tiêu tan.

- Mỗi người cần được thứ tha.

Mỗi người trong đời có biết bao lỗi lầm. Đời người là một chuỗi những vấp ngã được đan kết với bao thứ tha. Ơn tha thứ như dòng suối chảy vào đời người, nếu bị ngăn lại sẽ thành ao tù, nó sẽ trong lành khi chảy đến anh em. Luật “mắt đền mắt răng đền răng” là luật công bằng, nhưng ơn tha thứ mới đem lại mùa xuân cho cuộc đời. Thánh Phanxicô Assidi cũng đã xác định: vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ.

- Tha thứ để được Chúa thứ tha.

Chúa Giêsu nhấn mạnh điều này rất nhiều lần. Khi dạy kinh Lạy Cha, Chúa mời gọi mỗi người phải hứa tha thứ cho anh em khi xin Người tha thứ lỗi lầm cho mình. Ở cuối kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu căn dặn: Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6,14-15). Thánh Phaolô sống Lời Chúa dạy và đã tha thiết mời gọi: “Anh em hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em, người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau”(Col 3,13).

- Tha thứ là hồng ân của Thiên Chúa.

Trả thù là khuynh hướng nhân loại, tha thứ là hồng ân Thiên Chúa. Quan toà có thể không tha thứ cho tội nhân, nhưng Thiên Chúa luôn tha thứ cho người tội lỗi, nếu họ thực lòng ăn năn hối cải.

Trong lúc đau đớn tột cùng trên thập giá, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha tha thứ cho kẻ bách hại, lăng nhục, cáo gian và đóng đinh Người: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,34).

Thế giới hôm nay đang bị thống trị bởi bạo lực và oán thù. Những cuộc chiến tranh dai dẳng giữa các quốc gia; những hiềm thù giữa các bộ tộc anh em; những xung đột giữa những người khác màu da, khác tôn giáo, khác quan điểm chính trị; những thảm kịch vô phương hàn gắn trong gia đình. Con người để cho hận thù lôi kéo và không sao thoát ra khỏi cái vòng ân oán nghiệt ngã. Cần phải có những người dám chịu thiệt thòi, dám bẻ gãy oán thù bằng tha thứ, dám tin rằng tình thương có thể biến đổi quả tim chai đá của con người. Giáo hội vẫn luôn kêu gọi xây dựng một nền văn minh tình thương, vì chỉ khi ấy trái đất này mới có cơ may tồn tại.

Tha thứ là lời mời gọi duy nhất để tình yêu lớn lên. Tha thứ đem về mùa xuân cho tâm hồn đâm chồi yêu thương, nảy lộc bình an. Chúa đã tha thứ cho Phêrô, tình yêu bùng cháy, Phêrô đã sống hết mình cho sứ vụ Thầy trao. Phaolô đựơc ơn tha thứ, biến đổi cuộc đời, thành sứ giả lừng danh rao truyền Đức Kitô cho thế giới.

Ơn tha thứ làm nên vẻ đẹp của tâm hồn, vẻ đẹp của lòng khoan dung. Thế giới có “Ngày khoan dung quốc tế” (International day of tolerance) do Liên Hiệp Quốc thiết lập vào ngày 16.11.1995. Người khoan dung độ lượng là người không chấp nhất, nhưng thông cảm với những lầm lỗi của kẻ khác. Lòng khoan dung độ lượng được xây dựng trên ý thức về những yếu đuối, về khả năng phạm lỗi của chính bản thân mình, và của người khác. Mình cũng phạm lỗi sao mình lại kết án người khác? Thế giới có ngày khoan dung, người Kitô hữu cần cả đời khoan dung.

Ơn tha thứ làm nên vẻ đẹp của thế giới, một thế giới cảm thông chan hoà, một thế giới chan chứa tình huynh đệ, một thế giới mang vẻ đẹp của dung nhan Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định điều ấy: Thế giới không thể có hoà bình nếu thiếu sự tha thứ.

Chúa Giêsu vì yêu thương đã hiến dâng chính mình trên hy tế thập giá đễ ban ơn cứu độ cho nhân loại. Với hiến tế Thánh Thể, Người vẫn tiếp tục tuôn đổ ơn cứu độ. Đón nhận Thánh Thể là nguồn sức mạnh, nguồn tình yêu để chúng ta biết tha thứ cho nhau.

 

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Ngày Giới trẻ Sa-lê-diêng tại đảo Samoa với chủ đề ‘Chúng ta là gia đình’

Bài viết của tư giáo Kevin Fiema, SDB.

(Apia, Samoa – 09.09.2017) - Chủ đề được chọn cho ngày giới trẻ hôm nay được rút ra từ Hoa Thiêng 2017 của Cha Bề Trên Cả ‘Chúng ta là gia đình. Mỗi gia đình là trường học về sự sống và tình yêu’. Ngày Giới trẻ Sa-lê-diêng tại Samoa vẫn được gọi là ‘Sambosco’, đã khởi đầu với Thánh lễ do Cha Bề Trên phụ tỉnh Petelo Vito Pau chủ sự. Cùng đồng tế với Ngài có Cha Filipo Kapeli; Cha Nuku Leafai và Cha Taisali Leuluai. Cha Taisali đã chia sẻ với các bạn nửa tiếng đồng hồ qua bài giảng khá súc tích. Ngày giới trẻ năm nay được tổ chức rất chu đáo và có bài bản. Các huynh trưởng đã quy tụ về từ chiều hôm qua để chuẩn bị cho những sinh hoạt và chương trình của ngày hôm nay.

Vào ban sáng ngày Thứ Bảy, các bạn có màn thể dục đồng diễn, sau đó tất cả dùng điểm tâm sáng. Phần kế tiếp là những bài phát biểu quan trọng của một số quan chức trong chính phủ, như của ông Tuiatua Tupua, cựu Thống đốc tại Samoa; Ông Salausa, Bộ trưởng bộ Y tế; Ông John Schuster, cựu Thống đốc bang Manu và của một vị khác là quan chức trong bộ Thể thao và thanh niên. Sau khi nghe những bài phát biểu, các bạn trẻ tham gia vào những sinh hoạt theo chủ đề, hướng về đề tài gia đình.

Ngày giới trẻ năm nay được tổ chức rất sinh động theo phong cách Sa-lê-diêng, cùng với những trò chơi, những sinh hoạt, những màn ca hát và múa nhảy. Vào ban chiều, các bạn quây quần bên nhau để làm quen và phát huy tình bạn. Các bạn cũng thể hiện những quyết tâm, hứa sẽ cố gắng để trở nên những công dân lương thiện và những Kitô hữu tốt lành. Chắc chắn các bạn đã có được những phút giây không thể nào quên trong đời.

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Lễ Mẹ Lên Trời: Maria, Thầy dạy đức tin

Trong một đan viện nọ, có hai tu sỹ ngồi đàm đạo để cùng giúp nhau thăng tiến về đời sống thiêng liêng. Họ mở Kinh Thánh ra và cùng nhau chia sẻ. Đoạn Kinh Thánh được đọc lên, trích trong Tin mừng Luca chương 15, nói về dụ ngôn đứa con hoang đàng. Câu chuyên khá dài với nhiều tình tiết. Gấp sách lại, cả hai thinh lặng cầu nguyện và trao đổi. Một đan sĩ lên tiếng: “Tôi không hiểu tại sao thằng bé này lại bỏ nhà đi hoang. Nó có một gia đình khá đầy đủ về vật chất. Hơn nữa, nó còn có một ông bố yêu thương nó hết lòng. Vậy tại sao nó lại thoát ly gia đình?”. Suy nghĩ một lát, vị đan sĩ kia lên tiếng: “Đứa bé này bỏ nhà đi bụi, vì trong ngôi nhà ấy vẫn vắng bóng một người mẹ”.

May mắn, chúng ta có một người Mẹ tuyệt vời là chính Đức Maria. Người vừa là hiền mẫu, vửa là Thầy dạy đức tin và cũng là đấng phù trợ chúng ta trong cuộc lữ hành đức tin trần thế. Mừng lễ Mẹ lên trời hôm nay, Giáo hội cũng nhắc nhớ chúng ta hướng về người mẹ thiêng liêng và tuyệt diệu này. Đồng thời, chúng ta cũng nhìn về Đức Maria như là khuôn mẫu đức tin để noi theo.

Ý nghĩa mầu nhiệm Mẹ lên trời hồn xác

Năm 1950, Đức Thánh Cha Piô XII đã công bố tín điều này. Đây là tín lý thuộc đức tin mang tính thần khải và Công giáo. Giáo hội xác tín chân lý ấy dựa vào nhiều lý chứng.

Trước hết, bởi vì Mẹ là thụ tạo vượt trổi, đã được Chúa giữ gìn khỏi lây nhiễm tội lỗi. Tội tổ tông không để lại âm hưởng gì nơi Mẹ, đồng thời Thiên Chúa cũng gìn giữ mẹ luôn mãi vẹn tuyền. Ngay từ ban đầu, Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nên Ngài phó trao cho Mẹ những đặc sủng tương thích với sứ vụ cao cả này. Thân xác Mẹ cho dù có phải nếm trải sự chết giống như Đức Giêsu, nhưng thân xác vẹn tuyền đó không thể bị hủy hoại. Vì vậy Giáo hội xác tín rằng sau khi chết, Mẹ đã được đưa về trời cả hồn lẫn xác.

Thứ đến, cuộc đời của Mẹ đã gắn kết chặt chẽ với Đức Giêsu. Đức Giêsu đã phục sinh và lên trời. Mẹ cũng vậy. Phần thưởng nước trời dành cho Mẹ như một hệ quả tất yếu của sự hiệp thông vẹn tròn với Đức Giêsu.

Đọc lại Kinh Thánh, chúng ta sẽ thấy ngay từ những trang đầu tiên, Kinh Thánh đã nói đến sự chiến thắng của người nữ trên con rắn. Người nữ đạp dập đầu con rắn và con rắn rình cắn gót chân bà. Người phụ nữ này là hình tượng chỉ về Hội Thánh, về Đức Maria, về những con người sống hiệp thông chặt chẽ với Đức Giêsu trong nhiệm cục cứu độ. Cũng tương tự, người nữ trong sách Khải Huyền đã chiến thắng con rồng đỏ, cũng ám thị về Đức Maria và về toàn thể Giáo hội.

Giáo hội công bố tín điều này để mời gọi chúng ta hướng về Mẹ như khuôn mẫu đức tin. Mẹ chính là Thầy dạy Đức tin cho chúng ta.

Thầy dạy đức tin

Sau khi Chúa về trời, Kinh Thánh nói rất ít về Mẹ. Tin mừng Gioan chỉ tóm gọn trong một câu ngắn: “Từ lúc ấy, môn đệ đem Mẹ về nhà mình” (Ga 19,27). Sách Tông đồ Công vụ chỉ duy nhất một lần nói về sự hiện diện của Đức Maria giữa các tông đồ khi cầu nguyện tại Giêrusalem trong dịp lễ Ngũ Tuần. Sau đó, Chúa Thánh Thần đậu xuống trên các tông đồ và trên Đức Mẹ. (Cv. 1,12). Như vậy, sau biến cố Phục sinh, Mẹ đã hoàn toàn rút vào trong thinh lặng để suy niệm và cầu nguyện. Thái độ đức tin này cũng được Thánh Luca tóm kết bằng một câu đơn giản: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19). Vì vậy, qua phụng vụ hôm nay, Giáo hội cũng mời gọi chúng ta hướng về Mẹ như là Thầy dạy đức tin của mọi tín hữu.

“Phúc cho bà là kẻ đã tin” (Lc 1,45). Đây là lời được mặc khải qua miệng bà Elizabeth. Trước khi chúng ta chiêm ngắm các nhân đức và những đặc phúc nơi Mẹ, chúng ta hãy nhìn về Mẹ như là Thầy dạy đức tin của chúng ta.

Cuộc hành trình đức tin của Mẹ được dàn trải trong suốt cả cuộc sống, từ biến cố truyền tin đến cao điểm là phút giây hiệp thông trọn vẹn với Đức Giêsu dưới chân Thập giá. Thái độ đức tin đó được thể hiện bằng cách Mẹ luôn tìm kiếm và quy thuận thánh ý Thiên Chúa. Có lần, khi Chúa Giêsu đang giảng giữa đám đông, Đức Maria chợt đến. Người ta báo cho Chúa biết là ‘bà cố’ đang đến. Người trả lời: “Ai là mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Mc 3,31-35). Đức Giêsu gián tiếp đề cao thái độ đức tin nơi Mẹ. Tính cách làm Mẹ của Ngài hệ tại ở việc biết nghe lời Thiên Chúa và đem ra thi hành.

Mẹ được đem về trời cả hồn lẫn xác là dấu chứng của một cuộc vinh thắng, và đó chính là cuộc chiến thắng trong đức tin. Trong thư Rôma, thánh Phaolô so sánh Ađam với Đức Kitô (xem chương 5). Ađam gieo sự tội vào trần gian vì bất tuân, còn Đức Kitô đưa sự giải án tuyên công đến cho con người qua vâng phục. Cũng như Evà đã liên đới với Ađam trong tội nguyên tổ, thì Đức Maria được sánh ví như Evà mới, đã hiệp thông trọn vẹn với Đức Giêsu để đem ơn cứu độ đến cho con người. Nhiều thần học gia còn gọi Mẹ là Đấng ‘Đồng công Cứu chuộc’ (Corredemptorist). Sách Giáo lý Công giáo cũng mời gọi chúng ta hướng nhìn về Mẹ như là Biểu tượng Cánh chung (Eschatological Icon) cho toàn Giáo hội trong cuộc lữ hành trần thế (Giáo lý Công giáo số 972). Những điều này nói về Mẹ như là khuôn mẫu và Thầy dạy đức tin cho chúng ta.

Kết luận

Ở Đức, trong một vở kịch diễn lại Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, diễn viên trình diễn cảnh Giuđa sau khi phản bội đã ra đi tự vẫn. Trước khi chết, anh ta thét lên: “Khốn thân tôi, tôi biết chạy đến với ai bây giờ?. Nghe vậy, một đứa trẻ ở gần đó nói với mẹ: “Mẹ ơi, sao anh ta không chạy đến với Đức Maria”.

“Trên đời này, không có một kỳ quan nào cao cả và vĩ đại cho bằng trái tim của người mẹ”. Cũng vậy, chúng ta có Đức Maria là Hiền Mẫu, là Thầy dạy đức tin và cũng là nơi nương náu an toàn nhất trong cuộc lữ hành trần thế hôm nay.

 

Lm. Trần Văn Hào, SDB

Chúa Nhật 24 Thường Niên Năm A: Tha Thứ Vô Điều Kiện

Có một chàng thanh niên nọ đến gặp một võ sư Nhật Bản để xin thụ giáo. Vị võ sư già hỏi anh ta “Con đến đây xin học võ để làm gì”. Chàng thanh niên trả lời: “ Thưa thầy, để con đi trả thù”. Nhìn đăm đăm vào chàng trai trẻ, vị võ sư trả lời: “Được, ta sẽ dạy võ cho con để con trả thù. Nhưng trước hết, con hãy về nhà và đào sẵn hai cái huyệt, một cái để chôn kẻ thù của con và một cái để chôn chính con”. Đạo lý Kitô giáo mà Đức Kitô khai sáng được sánh ví như một quyển bách khoa từ điển dày cộm, nhưng trong đó tuyệt đối không có hạn từ ‘trả thù’. Chúa Giêsu không bao giờ dạy các môn đệ ý niệm về sự giận ghét hay thù oán. Là những môn sinh của Chúa, chúng ta phải sống luật yêu thương một cách tuyệt đối và vô điều kiện. Đây là giáo huấn mà Chúa Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay.

‘Đấu tranh’ là ‘tránh đâu’

Xã hội con người hôm nay thường đề cao tinh thần tranh đấu để sinh tồn. Người Việt nam có câu ‘Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh’. Học thuyết này do triết gia Darwin khởi xướng với châm ngôn ‘Struggle for life’ (đấu tranh để sinh tồn). Xét về mặt xã hội, điều này rất hợp lý, nhất là trong việc bảo vệ quê hương, hay bảo vệ những quyền lợi riêng tư cách chính đáng. Tuy nhiên trong trật tự nước trời, sự hợp lý này bị đảo lộn hoàn toàn. Nếu không cắm sâu vào mầu nhiệm Thập giá, chúng ta sẽ không thể nào chấp nhận giáo huấn rất nghịch thường mà Chúa Giêsu đã vạch dẫn: “Ai tát con má bên này, hãy chìa má bên kia ‘kính mời’ đối phương tát tiếp. Ai lột con chiếc áo ngoài, hãy ‘kính biếu’ nó luôn cả chiếc áo bên trong”. Theo suy nghĩ thông thường, đây là một giáo huấn rất nghịch thường và khó có thể chấp nhận.

Giáo huấn ấy tiếp tục được Chúa Giêsu nhắc đến trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngài dạy các học trò phải sẵn lòng tha thứ một cách tuyệt đối và vô điều kiện. Con số 70 lần 7 là một hình ảnh biểu trưng nói về sự tuyệt đối này. Theo văn hóa Semit, số 7 là con số biểu thị sự toàn hảo. Ngày xưa Môise đã viết lề luật cho phép báo thù trong giới hạn ‘mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân’ (Đnl 19,21). Điều đó phù hợp với não trạng văn hóa thời ấy. Nhưng khi Đức Giêsu đến trần gian, Ngài mặc cho lề luật cũ một chiều kích mới để giúp chúng ta đi sâu vào cốt lõi của lề luật, đó là việc thực hành đức ái cách tuyệt đối. Thánh Phaolô cũng xác định rằng: “Yêu mến là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

Xuôi theo dòng lịch sử, chúng ta thấy biết bao cuộc chiến khốc liệt đã từng xảy ra trên khắp thế giới. Bài học nhãn tiền mà mọi người đều có thể nghiệm ra, đó là trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, chẳng bao giờ có kẻ chiến thắng hay kẻ chiến bại, nhưng chỉ có những cảnh chém giết và sát hại nhau một cách kinh hoàng. Quân đội Phát xít Đức với giấc mộng bá chủ thế giới đã tiêu diệt hàng triệu người Do Thái, cuối cùng cũng phải nếm trải cay đắng khiến Hit-le phải tự vẫn trong nhục nhã. Phát xít Nhật cũng điên cuồng như vậy, và người dân Nhật đã phải hứng chịu thảm họa ghê sợ khi bị hai trái bom nguyên tử trút xuống trên thành phố Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945. Đất nước Việt nam đã trải qua nội chiến suốt 20 năm và hậu quả của chiến tranh là đất nước rơi vào vực thẳm của sự nghèo đói và lạc hậu. Chẳng có cuộc chiến nào có chính nghĩa để biện minh cho việc chém giết. Nếu không biết tha thứ và xây dựng hòa bình, chúng ta sẽ bị vùi chôn trong sự thù hận, và câu nói của dân gian quả rất đúng: ‘Đấu tranh là tránh đâu’.

Bài học tha thứ nơi Thập giá

Ngay từ bài giảng đầu tiên, Chúa Giêsu đã mời gọi dân chúng ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng. Đó là Tin mừng về lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa. Trong suốt 3 năm rao giảng, Chúa Giêsu không bao giờ kết án những tội nhân. Ngài luôn gần gũi và đồng bàn ngay cả với bọn đĩ điếm và phường thu thuế. Ngài còn nói với nhóm biệt phái: “Người khỏe mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau yếu mới cần’. Ngài nhẹ nhàng ngỏ lời bên tai thiếu phụ bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình: ‘Tôi không kết án chị đâu, chị hãy về và đừng phạm tội nữa’. Thánh Luca còn thuật lại 3 dụ ngôn trong chương 15 để quảng diễn lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa, đó là dụ ngôn người đàn bà thắp đèn tìm đồng bạc bị đánh rơi; dụ ngôn người chăn chiên đi lùng sục kiếm tìm con chiên lạc và nhất là dụ ngôn về người cha nhận hậu luôn dang rộng vòng tay, ngong ngóng đợi chờ đứa con đi hoang trở về. Chúa Giêsu không chỉ giảng dạy trên lý thuyết, nhưng chính Ngài chọn cái chết kinh hoàng trên Thập giá để hiển thị cách cụ thể và tròn đầy nhất lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa đối với con người chúng ta. Điều đó chứng tỏ rằng, tội của chúng ta cho dầu nhiều đến mấy, cho dầu nặng đến đâu cũng thua xa lòng thương xót Chúa, nếu chúng ta biết trải lòng mình ra để đón nhận sự tha thứ từ nơi Ngài. Mỗi khi dâng Thánh lễ, Giáo hội cũng mời gọi chúng ta lập lại lời kinh mà chính Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ năm xưa : “Xin Cha tha cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ mắc nợ chúng con”. Vì vậy, bài học Chúa nói hôm nay là bài học chúng ta phải đem ra thực hành hầu có thể hưởng nhận tình yêu tha thứ từ nơi Ngài.

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 mời gọi chúng ta ngày hôm nay phải sống với một nền văn minh mới, đó là ‘Nền văn minh của tình thương’. Giáo hội luôn chủ trương đối thoại chứ không bao giờ đối đầu. Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn thường xin mọi người cầu nguyện cho hòa bình thế giới, đặc biệt Ngài bày tỏ sự quan ngại trước cuộc khủng hoảng về nguyên tử trên bán đảo Triều Tiên. Nếu không có đối thoại, con người sẽ không thể kiến tạo hòa bình. Nếu không có hòa bình thật sự, con người sẽ tìm cách giết nhau và chúng ta sẽ tự đi đến hủy diệt.

Kết luận

‘Nếu không có sự bao dung và tha thứ, con người sẽ sống với nhau như hổ sói và lang thú’. Đây là nhận định của một triết gia vô thần. Cho dầu ông ta không tin vào Thiên Chúa, nhưng vẫn tin vào sức mạnh của tình yêu và sự khoan dung. Là những Kitô hữu, chúng ta đã quá quen thuộc với giáo huấn mà Chúa Giêsu nói đến hôm nay, nhưng trong thực tế, chúng ta đã hành xử như thế nào nơi mỗi gia đình, nơi mỗi cộng đoàn cũng như trong sự tương quan với những cận nhân sống chung quanh ?

 

Lm. GB Trần Văn Hào, SDB

Ngày 09 tháng Tám hằng năm được ấn định là Ngày Quốc tế các Dân tộc Bản địa trên thế giới

Cách đây 10 năm, vào ngày 13 tháng 09 năm 2007, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã thông qua Bản Tuyên ngôn Nhân quyền về các Dân tộc Bản địa, nhằm thúc đẩy sự hợp tác và liên đới giữa các dân tộc bản địa với các quốc gia thành viên.

Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, có khoảng 370 triệu người bản địa đang sống ở 90 quốc gia trên thế giới. Họ chiếm khoảng 5 phần trăm dân số thế giới, nhưng lại chiếm hơn 15 phần trăm trong tổng những người nghèo nhất thế giới. Họ sử dụng phần lớn các ngôn ngữ của thế giới với ước tính khoảng 7.000 ngôn ngữ, và đại diện cho gần 5.000 nền văn hoá khác nhau.

"Các dân tộc bản địa là những người thừa kế và duy trì các nền văn hoá độc đáo, và mối liên hệ gắn kết giữa con người và môi trường. Họ đã nắm giữ những đặc điểm xã hội, văn hoá, kinh tế và chính trị khác biệt với những nét đặc trưng riêng biệt ở những nơi mà họ đang sống. Mặc dù có sự khác biệt về văn hoá, người dân bản địa trên khắp thế giới lại dễ dàng chia sẻ những vấn đề chung liên quan đến việc bảo vệ các quyền của họ với những dân tộc khác."

Toà Thánh đã lên tiếng bênh vực mạnh mẽ và kiên định về các quyền của những người dân bản địa, và không ngừng thúc đẩy các chính phủ phải lưu tâm nhiều hơn đến việc “phát triển thực sự” của các dân tộc bản địa.

Đức Tổng Giám Mục Bernardito Auza, Đại diện và Quan sát viên thường trực của Toà Thánh đã đưa ra lời kêu gọi như thế vào ngày 25 tháng 04 năm 2017, khi tham dự diễn đàn thường trực của Liên Hiệp Quốc về các vấn đề bản địa, diễn ra vào ngày kỷ niệm 10 năm Tuyên ngôn nhân quyền về các dân tộc thổ dân.

Để thúc đẩy sự phát triển này, ngài còn nhấn mạnh đến đòi hỏi phải có sự hài hoà giữa "quyền phát triển văn hoá và xã hội của họ cùng với sự phát triển kinh tế".

Quan chức viên Vatican cho biết thêm, cần phải có được sự tham khảo của Tòa Thánh trong bất cứ sáng kiến nào liên quan các hoạt hoạt kinh tế mà có sự ảnh hưởng đến người bản địa.

Đức Tổng Giám mục Auza nói: “Những giá trị sâu sắc đã ăn sâu vào các nền văn hóa và truyền thống của người bản địa phải được coi như là ví dụ điển hình cho tất cả chúng ta hướng đến bảo vệ môi trường khỏi bị xuống cấp. Về vấn đề này, người bản địa không chỉ đáng nhận sự tôn trọng mà còn nhận được sự biết ơn và ủng hộ của chúng ta nữa”.

 

Ban Thông Tin chuyển ngữ

Chúa Nhật 21 Thường Niên Năm A: Chìa Khoá Nước Trời

Tin mừng hôm nay thuật lại biến cố thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa Hằng Sống; và với lời tuyên xưng này, thánh Phêrô đã được Chúa Giêsu trao “Chìa Khóa Nước Trời", tức là quyền lãnh đạo Dân Chúa.

Trong Kinh Thánh, chìa khóa tượng trưng cho quyền cai quản và điều hành, như Thiên Chúa ban cho Êliakim quyền điều hành nhà Ðavid (Is 22,20-22), hay quyền hành của Chúa Giêsu trên sự chết (Kh 1,17-18).

Chìa khóa, theo Thánh Kinh, là biểu tượng của sự tin tưởng, uy quyền và trách nhiệm. Chúa Giêsu đã trao chìa khóa cho thánh Phêrô. Chúa tin tưởng thánh Phêrô, trao cho Ngài quyền hành và trách nhiệm để hướng dẫn Giáo Hội trên trần gian: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa nước Trời; sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”. Quyền “cầm buộc và tháo cởi” có nghĩa là quyền tha tội, quyền đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh (GLHTCG, số 553). Đây là một quyền hành thật cả thể. Vì bản chất của quyền hành ở đây theo từ ngữ chuyên biệt trong tiếng Do thái có thể chỉ đến việc cầm buộc ma quỉ trong khi trừ quỉ, trong việc hành luật liên quan đến vạ tuyệt thông và trong những vấn đề phán quyết nghiêm trọng (NJBC, 659).

Ngoài ra, theo một số nhà chú giải Thánh kinh như Kevin O’Sullivan, OFM và Paul J Achtemeier, “Chìa khóa Nước Trời” ám chỉ đến hình ảnh một người đầy tớ với chìa khóa trong tay để mở cửa các phòng trong nhà. Người có chìa khóa trong tay không chỉ có quyền xác định ai được vào và ai không được vào, mà còn có trách nhiệm toàn quyền trông coi để ý mọi sự trong nhà của chủ mình. (Harper’s Dict 524-525).

Nếu trách nhiệm được trao không chu toàn, nếu quyền hành được ban bị lạm dụng, và bị mất tin tưởng, thì chắc chắn chìa khóa sẽ bị lấy lại. Tiên tri Isaia trong bài đọc 1 đã minh chứng điều đó. Sobna, quan cai đền thờ đã bị cách chức và trục xuất khỏi địa vị cũng chỉ vì đã lạm dụng quyền hành. Ông đã lạm dụng quyền hành bắt ép vua Hezekiah (716-687) nổi dậy chống lại Assyria và chạy đến Ai cập cầu cứu. Tiên tri Isaia đã hoàn toàn phản đối việc này. Ngài kêu gọi Giuđa phải nên tin tưởng vào Thiên Chúa của mình, chứ không phải nơi sự trợ giúp của dân ngoại. Nhưng Giuđa đã không tin tưởng nơi Thiên Chúa, và cuối cùng vào những thế kỷ sau đó, Giuđa và Giêrusalem đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Và như chúng ta được biết, chìa khóa của Sobna đã bị lấy lại và trao cho Êliaqim, con trai Helcia. (Kevin O’Sullivan, OFM, The Sunday Readings (A) 309-314). 

Trước lễ cung hiến Nhà thờ mới, có nghi thức trao chìa khoá mở cửa Nhà thờ. Đức Giám mục trao chìa khóa cho Linh mục Quản xứ để ngài mở cửa Nhà thờ. Nghi thức này muốn nói lên rằng: việc quản trị Nhà thờ trên toàn Giáo phận là thuộc Đức Giám mục Giáo phận, còn Linh mục Quản xứ chỉ là người nhận quyền từ Đức Giám mục, thay mặt Đức Giám mục trông coi, cũng như cử hành và ban phát các bí tích cho cộng đoàn Dân Chúa tại Nhà thờ này. 

Nếu hiểu chìa khóa là biểu tượng nói lên sự tin tưởng, quyền hành và trách nhiệm thì không chỉ riêng thánh Phêrô đã lãnh nhận chìa khóa Chúa trao; mà qua Ngài, qua Giáo hội, hết thảy mọi tín hữu cũng đều được lãnh nhận chìa khóa ấy khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Chìa khóa ấy không gì khác hơn là tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và đồng thời tin tưởng chúng ta cũng là con Thiên Chúa. Đức tin dạy rằng, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa theo bản tính. Còn chúng ta cũng là con Thiên Chúa theo ân sủng. Quyền làm con Thiên Chúa và trách nhiệm đi kèm là một ơn rất trọng đại và cũng chính là “chìa khóa Nước Trời” cho mỗi người và cho những người có trách nhiệm liên hệ. Chìa khóa chính là hạt giống đức tin từ ngày lãnh nhận làn nước Bí tích Rửa tội giúp họ mở cửa bước vào kho tàng ân đức của Chúa nơi các Bí tích. “Với Chúa, mọi sự đều có thể”; “ơn được làm con Thiên Chúa”, đó là chìa khóa Nước Trời mà Thiên Chúa trao cho mỗi người tín hữu. Chìa khoá mở lối vào Thiên Quốc Vĩnh Hằng có độ rắn của lòng trung thành, liên lỉ trong cầu nguyện; có độ bền của sự hiền hậu, khiêm nhường; có cấu trúc đẹp của lòng bao dung, tha thứ. Nó không làm bằng kim loại vật chất của trần gian, mà được đúc kết bằng hợp kim của niềm tin tâm linh và tính thánh thiêng. Nó có thể mở được tất cả các cánh cổng của những vấn nạn nghiêm trọng trong cuộc sống, và của mỗi thân phận con người.  

Thánh Phêrô đã trải qua nhiều đau khổ, chịu bách hại và đã đổ máu vì danh Đức Kitô. Chúa đã đặt Ngài là: “Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng được”. Thánh Phêrô đã tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” và đã tuyên xưng tình yêu “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Vì niềm tin yêu vào Chúa Giêsu Kitô, Thánh Phêrô đã chia sẽ sứ mạng của Thầy Chí Thánh và hiến dâng mạng sống cho đoàn chiên. Thánh Phêrô đã sống theo chân lý: ‘Nếu Thiên Chúa ở cùng chúng ta, ai có thể đánh bại chúng ta?’. Chúa là sức mạnh của thánh nhân, không gì có thể tách Ngài ra khỏi lòng mến của Chúa Kitô. Thánh Phêrô xứng đáng để nắm giữ “Chìa khóa Nước Trời”. 

Có câu chuyện “Chìa khoá và ổ khoá Thiên Đàng” thật ý nghĩa.

Một hôm nọ, khoá cửa Thiên Đàng bị hư, Thánh Phêrô đích thân mang cả chìa lẫn khoá xuống trần gian để tìm người sửa chữa. Ngài tới nhà anh thợ khoá đầu tiên.

 - Chào anh, tôi có cái ổ khoá bị hư, anh làm ơn sửa giùm.

 - Cụ làm nghề gì mà cửa nhà cụ lại có cái ổ khoá to và quý thế này ?

 - Tôi làm nghề đánh cá, sau đổi sang nghề chăn chiên anh ạ.

 - Ừ ! Nhìn quần áo và chân tay của cụ, tôi tin. Nhưng cụ nói thật đi, cụ "chôm" cái của quý bằng vàng ròng này ở đâu vậy?

 Thánh Phêrô tần ngần trả lời:

 - Của tôi đó, vì đây là khoá cửa của Thiên Đàng, còn tôi là Phêrô.

Anh thợ vồn vã:

 - À! Thế thì lại khác, chỉ 1 giờ là tôi sửa xong cho cụ thôi, cụ cho xin 100.000 đồng.

Thánh Phêrô giật mình:

 - Đắt thế à ? Tôi chỉ có 1.000 thôi.

 - Không được đâu cụ ơi. Tôi nghe ngày xưa cụ đứng đầu Hội Thánh, hẳn là cụ giàu có lắm?

 - Anh hiểu lầm rồi! Trong Hội Thánh chúng tôi, ai càng đứng đầu thì lại càng là người tôi tớ  phục vụ, sống khiêm hạ khó nghèo như Đức Giêsu làng Nazareth. Thôi anh cố sửa nó đi, có thể vì công khó của anh mà tôi sẽ xin Chúa cho anh vào Thiên Đàng.

Anh thợ mỉm cười lắc đầu

 - Tôi cần cái thực tế. Tiền thôi cụ ạ, còn Thiên Đàng thì xa lạ quá. Vả lại ở Thiên Đàng mà nghèo như cụ thì tôi chẳng ham. Thôi cụ đi xoay xở đâu đó thêm đi, rồi quay lại đây.

 

Thánh Phêrô bước đi, buồn bã nghĩ thầm: Anh thợ này sửa được nhiều thứ khoá, chỉ trừ khoá của Thiên Đàng. Đồng tiền quý đến thế kia ư ?

Ngài lại tìm đến nhà một anh thợ khác, nổi tiếng khéo tay và giàu có nhất vùng, hy vọng gặp được người yêu mến Thiên Đàng hơn chuyện tiền bạc.

Anh thợ đon đả chạy ra đón mừng.

 - Tôi nhận ra ngài rồi. Tay cầm chìa khoá vàng, khuôn mặt và thân hình lại giống hệt bức tượng trong nhà thờ xứ tôi. Vào đây, gia đình tôi hân hạnh tiếp đón Thánh Cả.

Thánh Phêrô vui mừng, nhưng cũng ngần ngại dò hỏi:

 - Tôi có cái khoá cửa thiên đàng bị hỏng, tôi chỉ có 1.000 đồng, nhờ anh sửa giúp.

 - Xin cất đi, tôi còn phải biếu ngài thêm lộ phí nữa kìa. Còn cái khoá thì không thành vấn đề, chỉ độ nửa tiếng là xong thôi. Có điều là, xin ngài hứa cho tôi một việc.

 - Tốt lắm, anh cứ nói.

 - Xin ngài đưa tôi vào Thiên Đàng và cho tôi làm trùm phường khóa ở trên đấy. Ngồi trên các Thánh hay các thiên thần thì tôi không dám, nhưng làm sếp đám thợ khoá thì tôi dư sức. Ngài sẽ thấy tay nghề của tôi khi sửa khoá cho ngài, xem tôi có đáng ngồi chỗ tốt hay không.

Bỗng có tiếng ầm ầm từ đầu ngõ, hàng trăm dân làng ùa chạy tới nhà anh thợ khoá khi nghe nói Thánh Phêrô đang ở nhà anh. Tiếng hò hét vang lừng từ ở cổng ra vào.

 - Lạy Thánh Phêrô, Ngài cho vợ chồng con vào Thiên Đàng với.

 - Đứa nào xô tao vậy, đây là cổng nhà anh thợ khoá chứ đã phải là cửa Thiên Đàng đâu mà chen dữ thế ? Phải có hàng lối chứ.

 -Gặp Thánh Phêrô chứ có phải đi mua vé xinê,hay đi mua thịt mua cá đâu mà phải xếp hàng cha nội.

 - Chúng mày biết gì? Ông Trùm nói có lý đấy. Thế chúng mày không nghe cha giảng là ở trên Trời có "Đám rước mặc quần áo trắng tinh tay cầm cành thiên tuế à?”  Phải trật tự chứ!

 - Chúa ơi! Chết  con rồi.

………

Thánh Phêrô lắc đầu ngán ngẩm. Cần phải "gửi" đi đâu nữa, họ đang ở hoả ngục rồi còn gì! Họ cãi nhau chí chóe, chửi thề, dẫm đạp lên nhau để "tranh" Thiên Đàng. Có kẻ đã dúi được vào túi Thánh Phêrô phong bì, hoa, nến. Rồi hí hửng vì đã "hối lộ" được người giữ cửa đầy quyền uy.

Bỗng có một cơn gió mù mịt cuốn lấy Thánh Phêrô. Thiên Thần đã đưa ngài đi trong gió. Để lại đám dân làng khóc la tiếc nuối, và anh thợ khoá tiu nghỉu vì tan giấc mộng vàng.

Thiên Thần đưa Phêrô tới bên một bờ suối rồi chào tạm biệt ra đi. Thánh nhân nhẹ gật đầu từ tạ. Ngài vẫn còn bực bội vì chuyện xảy ra vừa rồi. Tại sao con người lại coi nhẹ Thiên Đàng để kiếm tìm tiền tài danh vọng nhỉ ? Ngay cả đám dân muốn "xấn xổ" vào Thiên Đàng, họ có nghĩ gì tới Chúa và anh em mình đâu, lợi lộc riêng tư đã che mắt họ. Người ta có thể nhân danh một Thiên Đàng tốt đẹp để giành giật, gấu ó nhau đến vậy hay sao? Ôi ! Nếu có Gioan và Giacôbê ở đây,"những người con của sấm sét" chắc cũng sẽ như xưa, muốn xin lửa Trời xuống đốt tiệt cái đám dân nông cạn này.

 - Hãy uống bát nước này cho mát đi, cụ đang có lửa trong lòng đó.

Thánh Phêrô giật mình quay lại. Một cậu bé thật xinh trai, tay cầm ly nước,đã đứng sau lưng mình từ lúc nào. Ngài cầm lấy ly nước, uống một hơi thật sảng khoái.

 - Cám ơn cậu bé, cậu thật tốt bụng.

Cậu bé lém lỉnh nhìn cái ổ khoá trên tay Thánh Phêrô.

 - Ổ khoá này đẹp quá, cụ cho tôi xem tí nào.

 - Khoá cửa Thiên Đàng đó mà. Cậu có muốn lên đấy không, tôi dẫn cậu đi?

 - Chả cần cụ dẫn đâu, tôi thừa biết nó ở đâu rồi .

 - Thật không?

 - Thật chứ! Thiên Đàng thuộc về những người bé nhỏ như tôi mà, cụ quên rồi à?

Ngạc nhiên trước câu trả lời ngộ nghĩnh, Thánh Phêrô cảm thấy mến cậu bé thông minh này. Ngài đưa cả ổ khoá lẫn chìa cho cậu bé.

 - Cẩn thận kẻo rơi nhé.

Cậu bé cầm cả hai ngắm nghía, rồi cậu tinh nghịch trả lại chìa khoá cho Phêrô.

 - Cụ giữ lấy chìa khoá này như một kỷ niệm hay một biểu tượng cho bổn phận và quyền uy. Còn cái này thì…Chưa dứt lời, cậu đã ném ổ khoá đánh "tõm" xuống giữa lòng suối sâu.

Thánh Phêrô giật mình lớn tiếng:

 - Ôi Chúa ơi! Cậu làm gì vậy?

Cậu bé mỉm cười trả lời:

 - Thật ra cửa Thiên Đàng đâu cần ổ khoá. Điều quan trọng không phải là nó đóng hay mở, mà là sự "đóng hay mở" của lòng người. Phải giải quyết chuyện này ở dưới đất chứ không phải trên trời cụ ạ". Điều gì con cầm buộc dưới đất, trên Trời cũng cầm buộc. Điều gì con tháo mở dưới đất, trên Trời cũng tháo mở". Có người đã nói với cụ câu đó, cụ không nhớ sao?

Thánh Phêrô ngẩn ngơ hỏi lại:

 - Nhưng làm sao để họ mở hay đóng để tôi cầm buộc hay tháo gỡ ? Vì họ cứ khép kín trước vẻ đẹp của Thiên Đàng, nhưng lại sẵn sàng mở lòng ra với tiền tài, danh vọng. Làm sao để  họ làm ngược lại đây, cậu bé?

 - Cụ đừng chỉ trỏ lên trời và nói những chuyện cao xa của Thiên Đàng với họ nữa.Ngược lại, phải dẫn họ tới một nơi để họ học biết khó nghèo, khiêm hạ, hy sinh. Cụ có muốn tôi đưa cụ tới đó, để rồi sau cụ có thể dẫn họ đi không?

Thánh Phêrô sốt sắng:

 - Được rồi, tôi theo cậu. Nhưng đi đâu mới được chứ?

Cậu bé mỉm cười, nheo mắt nhìn Phêrô:

 - Đi Bêlem, rồi lên Núi Sọ .

Nói xong, cậu quay lưng, lững thững bước đi về phía có ánh nắng chói chang, phía của Mặt Trời.

 

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Nhật 18 Thường Niên Năm A: Anh Em Hãy Cho Họ Ăn

Có một thương gia giàu có chẳng may sa cơ thất thế. Trong một thương vụ phi pháp ông bị bắt và bị tống giam. Trong hơn 12 năm sống trong tù, ông thường xuyên bị bỏ đói và bị đối xử như súc vật. Sau khi ra khỏi tù, ông đã nói với mọi người chung quanh : “Có ở trong tù như chúng tôi, người ta mới thấy rằng hạnh phúc lớn nhất của một người đang đói là được ăn no!”. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, hiện nay trên thế giới, mỗi năm có khoảng hơn hai triệu trẻ em chết vì đói. Cơn đói năm Ất Dậu 1945 vẫn còn là một kỷ niệm kinh hoàng đối với các cụ ngày xưa. Sau biến cố năm 1975, nhiều gia đình cũng phải ăn cơm độn với khoai sắn hay với bo bo, và đó quả là quãng thời gian khó quên. Nói chung, mỗi người trong chúng ta, ít nhiều cũng đã từng trải qua cái đói và trong cơn đói, nhu cầu trước mắt là phải kiếm cái gì để nhét vào bụng.

Khi mang phận người, Chúa Giêsu cũng từng nếm trải cái đói giống hệt chúng ta. Sau 40 ngày chay tịnh trong hoang mạc, ma quỷ đến tấn công Ngài, nhắm trực tiếp vào cái bao tử xẹp lép của Ngài. Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã bày tỏ sự thương cảm trước đám đông khổng lồ đang vật vã trong cơn đói. Trái tim của Chúa rung lên và cuối cùng, phép lạ đã xảy ra. Chúa đã nhân bánh và cá ra gấp cả ngàn lần để cho năm ngàn người được ăn no nê.

Bữa tiệc thiên sai

Phép lạ hôm nay được cả 4 thánh ký thuật lại. Phép lạ đó là dấu chỉ tiên báo về bàn tiệc cánh chung mà ngôn sứ Isaia nói tới trong bài đọc 1 của phụng vụ hôm nay. Giavê Thiên Chúa sẽ khoản đãi dân Ngài một bữa tiệc rất hào phóng cách nhưng không, và mọi người đều được ăn thỏa thích, đầy thịt béo lẫn rượu ngon mà không phải trả đồng nào. Đó là bữa tiệc thời Thiên sai, khi Đức Giêsu được Chúa Cha trao tặng cho trần gian. Bàn tiệc Thánh Thể mà Giáo hội cử hành mỗi ngày tái hiện chính bữa ăn này. Đồ ăn thức uống được chiêu đãi chính là thịt và máu của Đức Giêsu, thần lương cứu độ. Đó là quà tặng lớn nhất và cũng là phép lạ vĩ đại nhất. Bí tích Thánh Thể là cách quảng diễn lòng yêu thương của Thiên Chúa mà ngôn sứ Isaia đã tiên báo. Một nhà tu đức đã nói :“Thiên Chúa thực hiện một giấc mơ rất điên rồ, là phân thây xẻ thịt chính con một yêu dấu để trao tặng chúng ta”. Chính Đức Giêsu trong bữa tiệc cuối cùng với các học trò đã khẳng định rằng ‘Không có tình yêu nào cao cả bằng mối tình của người thí mạng sống cho bạn hữu’. Trong tập sách “Năm chiếc bánh và hai con cá”, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận cũng thuật lại những trải nghiệm của Ngài trong những năm tháng ngục tù. Động lực duy nhất để Ngài có thể vượt qua những tháng ngày đen tối khủng khiếp ấy, chính là được cử hành những Thánh lễ rất cảm động trong tù một cách lén lút và âm thầm.

Ngài truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ

Cả bốn sách Tin Mừng đều nói đến chi tiết này. Đây là hình thái biểu tỏ đức tin. Ngồi xuống là thái độ sẵn sàng trong việc lắng nghe và lãnh nhận. Đám đông đã ngồi xuống trong tĩnh lặng, không phải để nghỉ ngơi sau những ngày mệt nhọc đi theo Chúa, nhưng để nghe và thực hành những điều Chúa Giêsu chỉ dạy. Đây là một hình tượng diễn bày sự khiêm tốn, một điều kiện tối cần thiết để chúng ta có thể ngồi vào bàn tiệc Thánh Thể. Một con người kiêu ngạo, hay tự mãn về những thành quả đạo đức của mình, đứng nghênh ngang một cách vênh váo như tên Pharisiêu lên đền thờ cầu nguyện, chắc chắn không thể đón nhận quà tặng hồng ân mà Thiên Chúa trao ban. Có một mục sư Tin lành đến thăm nguyện xá của Don Bosco và hỏi Ngài, đâu là bí quyết để có thể giáo dục các em trở thành những học sinh ngoan ngoãn, tốt lành giống như ở đây. Cha Thánh trả lời rằng, Ngài khuyến khích các em năng xưng tội và rước lễ. Xưng tội để khiêm tốn nhận ra những lỗi lầm nơi mình hầu được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ. Rước lễ để lãnh nhận lương thực trường sinh. Đây là hai phương thế tuyệt diệu, dẫn đến sự thành công trong khoa giáo dục. Mỗi lần đi tham dự Thánh lễ, chúng ta hãy tập khiêm tốn ‘ngồi xuống trên bãi cỏ’ để lục soát lương tâm và nhận ra những thiếu xót nơi mình. Không phải vô tình, mà Giáo hội dạy chúng ta trước khi lên rước lễ, hãy bắt chước tâm tình khiêm tốn của viên sĩ quan để thưa với Chúa :“Lạy Chúa con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, linh hồn con sẽ lành sạch”.

Anh em hãy cho họ ăn

Điều Chúa Giêsu nói với các môn đệ năm xưa cũng là sứ điệp Chúa ngỏ trao đến chúng ta ngày hôm nay, đặc biệt những người làm cha làm mẹ, và những người đảm nhận sứ vụ giáo dục. Của ăn vật chất bây giờ không thiếu, nhưng của ăn tinh thần vẫn còn là một lỗ hổng rất lớn, đặc biệt nơi giới trẻ. ‘Anh em hãy cho họ ăn’, nhưng trước hết chúng ta hãy tự hỏi, là những bậc phụ huynh, chúng ta đã cho con cái ăn gì, và ăn như thế nào. Một nguyên tắc rất đơn giản và cũng là nguyên tắc đầu tiên trong việc giáo dục, đó là “Không ai có thể cho cái mà mình không có, không ai có thể dạy người khác điều mà mình không biết’. Một ông bố rượu chè be bét, ăn nói lỗ mãng...không thể dạy con cái những phẩm tính về nhân bản để trở nên những con người tốt lành. Một người mẹ ít thực hành việc cầu nguyện, không thể giáo dục con cái mình sống đạo đức.  Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã nói : “Ngày nay, Giáo hội cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy”. Giáo hội cần những nhà giáo dục biết thể hiện bài học bằng gương sáng, hơn là những người chỉ biết dạy trên lý thuyết mô phạm. Rất nhiều đứa trẻ ngày nay xuất thân từ những gia đình giàu có, nhưng sớm hư hỏng vì cha mẹ không bao giờ quan tâm đến việc giáo dục con cái. Đài truyền hình Việt Nam đã ghi lại cảnh một bà mẹ đến thăm đứa con đang cai nghiện tại một trung tâm bảo trợ xã hội, đúng vào lúc đứa con đang vật vã, sùi bọt mép trong cơn đói thuốc. Bà mẹ đã đau khổ thốt lên : “Tất cả do lỗi của tôi, tôi tưởng rằng tôi vẫn chu cấp tiền bạc cho nó là xong, nhưng tôi đã sai lầm. Bây giờ có phải bán hết tài sản tôi đang có để cứu lấy con tôi, tôi sẵn sàng, nhưng bây giờ thì quá muộn”.

Nhiều bậc cha mẹ đã cho con cái ăn, không phải ăn bằng thứ lương thực lành mạnh, nhưng là bằng những thứ thuốc độc chết người. Những thuốc độc đó được hiển thị rất rõ qua những gương mù hằng ngày. Họ đang vô tình giết chết con cái của họ mà họ vẫn không hay biết.

Kết luận

Phép lạ năm xưa Cháu Giêsu thực hiện qua sự cộng tác của một đứa bé. Nó đã trao cho Chúa 5 chiếc bánh và hai con cá, khẩu phần lương thực rất ít ỏi của nó. Ngày hôm nay, Chúa cũng sẽ tiếp tục thực hiện thêm nhiều phép lạ khác nữa, nếu chúng ta biết quảng đại cộng tác với Ngài, đặc biệt trong sứ vụ giáo dục.

 

Lm. GB Trần Văn Hào, SDB

Trại hè Thánh kinh để cổ vũ ơn gọi được tổ chức tại Tỉnh dòng Nhật Bản - Theo truyền thống trong suốt 45 năm qua

Bài viết của Ban Truyền thông xã hội của tỉnh dòng Nhật Bản.

Bắt đầu từ năm 1973, cứ vào mùa hè, nhà Sa-lê-diêng ở gần hồ Nojiri đều tổ chức trại hè ‘Thánh Kinh’ cho các em học sinh nhằm cổ vũ ơn gọi. Năm nay là lần tổ chức thứ 45. Từ ngày 08 đến ngày 12 tháng 08, chúng tôi tổ chức cho các em học sinh tiểu học. Từ ngày 13 đến ngày 08 tháng Tám, trại hè dành riêng cho các em học sinh trung học.

Trong những ngày đầu tiên, có 30 em đến tham dự, cùng với đội ngũ huynh trưởng thuộc Ban Mục Vụ Giới trẻ của tỉnh dòng. Cùng đi với các em còn có một số phụ huynh và các em tu sinh lớn. Chủ đề của trại hè là: ‘Chúng ta là một gia đình’. Các em đã tham dự trại hè Sa-lê-diêng trong bầu khí gia đình rất ấm cúng.

Trại hè Sa-lê-diêng do Cha Honda Yanuario Zenchiro khởi xướng từ 45 năm về trước. Ngài từng làm Giám tỉnh của tỉnh dòng Nhật Bản và đã qua đời vào năm 2008.

Khung cảnh rất nên thơ bên hồ Nariji tuyệt đẹp là môi trường lý tưởng để chúng tôi tổ chức trại hè hằng năm cho các em học sinh. Các em tham dự vào những trò chơi, những giờ cầu nguyện, những giây phút học hỏi Thánh kinh và các cuộc chia sẻ nhóm. Đây là dịp để chúng tôi khơi dậy nơi các em cảm thức về đời sống ơn gọi Sa-lê-diêng.

Cầu chúc các bạn trẻ tham dự trại hè đi sâu vào tâm tình yêu mến Chúa Giêsu và Don Bosco.

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Good night talk số 41 – Tháng 08/2017 của Cha Bề Trên Miền

Đồng hành: một trong những từ chìa khóa của người Sa-lê-diêng

Các bạn hữu và các thành viên trong gia đình Sa-lê-diêng thân mến,

Càng ngày Cha càng thâm tín sâu xa rằng, chúng ta cần phải dành nhiều thời gian hơn nữa để ngồi lại và suy tư, thậm chí phải quỳ gối xuống để cầu nguyện dựa trên những gì chúng ta suy nghĩ. Vài tuần trước đây, các Bề Trên trong Ban Thượng Cố vấn cùng với Cha Bề Trên cả đã có cuộc tĩnh tâm năm tại đan viện dòng nữ Biển đức gần thành phố Florence. Trong tuần tĩnh tâm, Cha đã có dịp nhìn lại kinh nghiệm suốt 3 năm qua, trong vai trò Tổng Cố vấn - Bề Trên miền, và Cha đã nhận thức rất mãnh liệt về việc cần canh tân trong bổn phận đồng hành. Qủa thật, hiện nay cùng với Cha Bề Trên cả, các Bề Trên trong Ban Thượng Cố vấn đã dành nhiều thời gian quý báu để đồng hành với 90 Cha Giám tỉnh trên khắp thế giới. Sau khi được bổ nhiệm, các Cha Giám tỉnh đã được mời về Rôma để gặp gỡ cá nhân từng vị trong Ban Tổng Cố vấn, và trong nhiệm kỳ 6 năm làm Giám tỉnh, các Ngài còn có 3 dịp khác đến Rôma để tiếp tục được đồng hành.

Don Bosco ngày xưa cũng đã được nhiều Bề trên đồng hành với, từ Cha Calosso đến Cha Cafasso. Chúng ta thấy rất rõ tinh thần gia đình tại nguyện xá Valdocco, và đây là môi trường rất tốt để nuôi dưỡng đức tin, để phát huy ơn gọi và làm triển nở sứ mệnh truyền giáo nơi các bạn trẻ. Mọi người ở đây đều được đồng hành, và đến lượt họ, thế hệ Sa-lê-diêng đầu tiên cũng hăng hái đồng hành với các bạn trẻ và với các anh em Sa-lê-diêng trẻ tuổi.

Thành thật mà nói, chúng ta ngày nay nhận thức rất rõ thực trạng đang thiếu vắng sự đồng hành tại các cộng thể. Có nhiều lý do để nêu ra, ví dụ chúng tôi không có thời gian, chúng tôi thấy việc đó không quan trọng lắm, hoặc đơn giản vì chúng tôi không biết cách đồng hành với các hội viên và với các bạn trẻ... Nếu chúng ta không được người khác đồng hành với, thì rất khó để kỳ vọng rằng, chúng ta cũng biết cách để đồng hành với các hội viên và các bạn trẻ khác trong tương lai.

Vào mùa đông hiện nay (đa số các nơi trong vùng EAO bắt đầu vào mùa đông), Cha cầu nguyện xin Chúa nâng đỡ để các Cha Giám tỉnh biết cách thực thi việc đồng hành với các Giám đốc 1 cách tốt đẹp hơn. Để rồi đến lượt mình, các Cha Giám đốc và các hội viên lão thành cũng biết dành nhiều thời gian và sức lực để đồng hành với các hội viên trong cộng thể, đồng hành với những người đời đang cộng tác  trong sứ mệnh, đồng hành với các thành viên trong gia đình Sa-lê-diêng, nhất là đồng hành với các bạn trẻ đang có dấu hiệu về ơn gọi.

Chúng ta xác định rằng, thái độ đầu tiên và quan trọng nhất trong lộ trình đồng hành là việc biết lằng nghe nhau trong tĩnh lặng với sự kiên nhẫn và với cảm thức đức tin sâu xa.

Thời gian này, chúng ta hãy phát huy việc biết lắng nghe nhau, cùng đồng hành với nhau, cùng nhau cầu nguyện và cùng giúp nhau khám phá ra ước mơ của Thiên Chúa nơi mỗi người.

Trong Don Bosco

Cha Vaclav Klement

Bề Trên Miền EAO

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %