• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


NHỮNG BÀI SUY NIỆM SA-LÊ-DIÊNG

Thư Luân Lưu đầu tiên của Cha Bề Trên Cả A.F. Artime

Roma ngày 16 tháng Tám, 2014

Khai mạc đệ nhị bách chu niên sinh nhật của Don Bosco

1. THEO BƯỚC NHỮNG NGƯỜI TIỀN NHIỆM CỦA CHA. 2. SỐNG HIỆN TẠI TRONG ĐỨC TIN,  VỚI ĐỨC CẬY, VỚI THỰC TẠI VÀ CÙNG NHAU TIẾN BƯỚC. 3. THUỘC VỀ THIÊN CHÚA HƠN NỮA. 4. CHÚNG TA HÃY LÀM SỐNG DẬY TÌNH HUYNH ĐỆ "KHÔNG TƯỞNG" THEO TIN MỪNG. 5. VỚI GIỚI TRẺ, VÌ GIỚI TRẺ LÀ 'CHỦ NHÂN ÔNG CỦA CHÚNG TA'. 6. MỘT TU HỘI TRUYỀN GIÁO: TRONG ĐÓ SỰ KHÁC BIỆT LÀ MỘT KHO TÀNG. - 6.1. Bởi vì có những vùng truyền giáo lúc này rất cần đến chúng ta . . .

6.2. .. Sự khác biệt là một kho tàng. 7. CỬ HÀNH ĐỆ NHỊ BÁCH CHU NIÊN NGÀY SINH CỦA DON BOSCO. 8." CHÚNG TA HÃY DÀNH MỘT CHỖ CHO ĐỨC MẸ TRONG NHÀ CHÚNG TA": "Và từ phút đó, người môn đệ đem người về nhà mình" (Ga 19:27)

Anh em hội viên thân mến,

Đã ba tháng rưỡi trôi qua kể từ khi kết thúc TTN 27, và mặc dù cha đã trao đổi được với anh em qua những thư từ và sứ điệp video, nhưng thư của Bề Trên Cả được phát hành trong Công Báo của Ban Tổng Cố vấn vẫn là một dịp đặc biệt.

Cha chọn chủ đề cho lá thư đầu tiên của cha đây giống như chủ đề cha đã đưa ra trong bài diễn văn kết thúc TTN 27, bởi vì cha tin rằng toàn bộ chương trình suy tư và hành động cho thời kỳ lục niên này phải được tìm thấy trong các nội dung của Tổng Tu Nghị. Đó quả là một chương trình chúng ta cần phải khảo sát kỹ càng hơn vào những thời điểm khác nhau và bằng những cách thức khác nhau. Cha muốn nói đến một vài vấn đề then chốt của Tổng Tu Nghị, nhưng trước tiên và trên hết, cha muốn bày tỏ tới mọi người và từng người anh em hội viên Salêdiêng thân yêu của cha tất cả tình yêu của cha, và cha ước mong lúc nào đó tại một nơi nào đó trong 'thế giới Salêdiêng' chúng ta có thể gặp nhau. Đối với cha, đó sẽ là một quà tặng thật sự và một niềm vui lớn lao.

Cha cũng muốn nói cho anh em rằng, khi nghĩ đến cách tốt nhất để nói cho anh em ý nghĩa của thời điểm viết cho anh em và sự phục vụ mà cha được mời gọi đây, cha quyết định tìm và đọc lại những lá thư đầu tiên mà từng vị Bề Trên Cả tiền nhiệm đã làm. Cha phải nói rằng quả là một niềm vui sướng và là hồng ân vĩ đại cho cha khi mình được rõ những chứng từ đó. Và cha không thể không chia sẻ với anh em điều cha đã nhận ra như đã tỏ hiện rất rõ.

1. THEO BƯỚC CÁC VỊ TIỀN NHIỆM CỦA CHA

Cha phải nói với anh em rằng khi cha nghĩ về những Vị Bề Trên Cả chúng ta đã có được, cha thấy thật cảm động để viết bài tường trình này.  Nơi tất cả các vị, khởi đầu việc phục vụ của các vị quả là cái gì rất là đặc biệt.

Cha Micae RUA (Chân Phước) đã viết lá thư đầu tiên trong tư cách là Bề Trên Cả vào ngày 19 tháng Ba, 1888 sau khi được Tòa Thánh công nhận và có sắc lệnh xác nhận ngài làm Bề Trên Cả. Ngài viết rằng sau lá thư đầu tiên gửi đi như là Bề Trên Ban Tổng Cố Vấn, lần đầu tiên ngài viết cho họ trong tư cách là Bề Trên Cả như sau: “Mặc dù cha bất xứng, cha đã được Chúa Quan Phòng dẫn dắt một cách thật rõ ràng như anh em biết.” [1] Sau khi nói điều ấy, Cha Rua giải thích rằng sau một cuộc Hội Kiến riêng với Đức Leo XIII, Đức Hồng Y Phụ Tá nói những lời cuối này: “Tôi khuyên cha nên tiến hành việc phong thánh cho Don Bosco; tôi khuyên cha nên tiến hành việc phong thánh cho Don Bosco.” [2] Sau đó, ngài nói lên xác tín mạnh mẽ của ngài là các anh em Salêdiêng phải trở nên những người con xứng đáng đối với một Người Cha vĩ đại như Don Bosco, để rồi nỗ lực chính yếu là duy trì và cùng lúc đó phát triển hơn nữa những công cuộc người đã khởi sự, trung thành tuân giữ những phương pháp chính Don Bosco thực hành và dạy dỗ. Và rồi Cha Rua cám ơn họ về tất cả những lá thư ngài nhận được, đã tỏ bày lòng tôn kính và yêu mến ngài, và nhìn nhận rằng tất cả những điều ấy thực là an ủi ngài trong nỗi u buồn [vì mất đi Don Bosco] và đã làm cho tâm hồn ngài ngập tràn niềm tin tưởng rằng hành trình tương lai sẽ bớt khó khăn hơn: “Tuy nhiên, cha không thể nào dấu anh em cũng như bản thân cha là cha hết sức cần anh em cầu nguyện cho cha. Vì thế, cha mong anh em thương hết sức hỗ trợ cha bằng kinh nguyện sốt sắng của anh em. Về phần cha, Cha bảo đảm là luôn ôm ấp anh em trong cõi  lòng cha, mỗi ngày dâng Thánh Lễ, cha phó thác anh em cho Chúa để Ngài trợ giúp anh em bằng ân sủng Ngài, gìn giữ anh em khỏi mọi nguy hiểm và trên hết ban cho chúng ta ơn được cùng nhau sum họp hết tất cả để ca ngợi Chúa trên Thiên Đàng, nơi Người Cha Yêu Dấu của chúng ta đang chờ đợi chúng ta, như ngài đã từng viết cho chúng ta.” [3]

Cha Phaolo Albera viết lá thư đầu tiên của ngài tại Torino ngày 25 tháng 1, 1911. Tổng Tu Nghị XI đã kết thúc ngày 31 tháng Tám, 1910. Trong lá thư này, với cung giọng hết sức giản dị như thường lệ, Cha Albera bắt đầu bằng cách nói rằng ngài biết là anh em đang hết sức nhẫn nại chờ đợi lá thư luân lưu đầu tiên của vị Bề Trên Cả Mới và nhìn nhận rằng ngay khi Tổng Tu Nghị kết thúc, ngài nhẽ ra phải thông tin về việc bầu chọn các Bề Trên và những việc quan trọng khác. [4]

Với giọng văn đơn sơ ta nhận thấy nơi cha Albera, trong lá thư ấy, ngài nói rằng ngài viết lá thư này gần ngày kỷ niệm cái chết của Đấng Đáng Kính Don Bosco, ngày mà Don Rua thường chọn để viết những lá thư luân lưu rất hay của mình, và ngài xác tín rằng “từ ngày đáng ghi nhớ ấy, thẩm quyền và hiệu quả sẽ đến với những lời lẽ nghèo nàn và không cầu kỳ của cha. Đó là lý do tại sao cha nói cho anh em không phải với ngôn ngữ của Bề Trên hay của vị Thày, nhưng là với lòng đơn sơ và tình cảm của người anh em, người bạn. Cha có ý diễn tả ý tưởng của cha cho anh em phát xuất từ đáy lòng của cha và tin rằng lòi cha sẽ vang vọng lại trong mọi anh em Salêdiêng và sẽ là sức thúc đẩy anh em nõ lực sống xứng đáng là con cái của Đấng Đáng Kính, vị Sáng Lập và là Cha chúng ta. [5]  Sau khi nói điều ấy, với lá thư đây, mang tựa đề  “. . .  Dưới trách nhiệm nặng nề”, cha Albera còn viết một trang rất hay trong đó ngài tuyên bố rằng ngài cảm thấy gánh quá nặng nề đến độ ngài muốn được giải thoát khỏi “trách vụ ủy thác mà cha biết là vượt quá sức lực yếu đuối về thể lý, tri thức và đạo đức của cha.” [6]

Qua lời của ngài, ngài nói rằng chung quanh ngài còn có nhiều người khác đã được chuẩn bị tốt hơn, có nhiều nhân đức và khôn ngoan hơn ngài để đảm nhiệm việc cai quản Tu Hội chúng ta . .  . Nếu có thể được, ngài đã mau mau chạy đến Valsalice để quỳ dưới chân Don Bosco, tỏ lộ cho người, bằng nước mắt hơn là bằng lời lẽ, những nỗi lo âu, sợ hãi và yếu đuối của mình, khi người đặt vào tay ngài bánh lái con tầu Salêdiêng. [7]

Cha Philip RINALDI (Chân Phước) viết lá thư đầu tiên của mình, đăng trong Công Báo Hội Đồng Bề Trên,đã được xuất bản từ ba năm trước với 13 số. Trong câu mở đầu, ngài viết: “Đây là lần đầu tiên cha viết cho anh em trong tư cách là Bề Trên Cả, cha hết sức mong muốn có thể diễn tả cho anh em tất cả tâm tình và tình cảm trách nhiệm mới này đã gợi lên trong cõi lòng cha trong những ngày đáng ghi nhớ này. Nhưng anh em có thể dễ dàng thấy là điều này không thể được. Đôi khi trong cuộc đời có những biến cố không lường trước được và choán ngợp đến độ lời văn không thể nào diễn tả cho xứng với những gì chúng khơi lên nơi chúng ta. Vì thế, cha để cho anh em nhân ái suy tưởng và giải thích những tâm tình và tình cảm này của cha.” [8]

Sau đó, cha Rinaldi viết là vì ngài không thể cám ơn hết từng anh em Salêdiêng được, ngay cả một lời đơn sơ cũng không được, ngài diễn tả lòng tri ân này qua những lời ngài viết gửi hết mọi người đây, và  nói thêm rằng ngày 24 tháng Tư trước, ngài đã được các cha Giám Tỉnh, và các Đại biểu Tổng Tu Nghị tháp tùng, được các hội viên và học sinh Nguyện Xá bao quanh, hết sức xúc động, ngài đã quỳ trước ảnh Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu trong ngôi nhà thờ đẹp đẽ của chúng ta, biết rằng tất cả mọi con cái của Mẹ đều được phó thác cho Mẹ. [9]

Cha Phêrô RICALDONEviết lá thư đầu tiên chào thăm vào ngày 24 tháng Sáu, 1932, bắt đầu như sau: “Lời chào đầu tiên của cha là một lời cầu xin. Tu Hội chúng ta không còn ở trong tay của những vị thánh lão luyện là Chân Phước Don Bosco, Don Rua, Cha Albera, Cha Rinaldi: xin chuyển cầu cùng Chúa cho con là trong tay của Bề Trên Cả mới này, Tu Hội không giảm đi lòng nhiệt tình và nhịp phát triển. [10]

Cha Ricaldone xin được thứ lỗi vì đã không thể viết thư và gửi lời chào thăm thân thương và hiền phụ ngay được, mặc dù ngài đã nghĩ ngay tới tất cả mọi anh em, nhưng vì Tổng Tu Nghị và những công việc cấp bách với các Giám Tỉnh cần phải xử lý, cộng với cuộc hành trình tới Roma khiến ngài không thể làm được việc ấy. Ngài cám ơn họ vì  những ân tình hỗ trợ  ngài nhận được, kèm theo lời hứa sẽ cầu nguyện cho ngài cũng như tuân giữ Hiến Luật và gắn bó chặt chẽ với tinh thần của Chân Phước Don Bosco.

Ngày 24 tháng Tám, 1952, Cha Renato ZIGGIOTTI viết lá thư đầu tiên, nói rằng ngài đã chờ đến  sau khi kết thúc TTN XVII và sau ngày 15, 16 tháng Tám cử hành lễ tuyên khấn lần đầu kính nhớ ngày sinh của Cha Thánh và Đấng Sáng Lập của chúng ta: “trước khi gửi đến chúng con lá thư đầu tiên này của cha, cha đặt lá thư này dưới sự che chở đặc biệt của Mẹ Maria Rất Thánh Phù Hộ Các Giáo Hữu, vào ngày trong tháng dâng kinh cho Mẹ.” [11]

Và rồi Cha Bề Trên Cả cám ơn những lời chúc mừng gửi đến cho ngài dịp ngài được bầu chọn và hứa sẽ nhớ đến hết từng người trong kinh nguyện, cách riêng, rất nhiều người đã gửi thư cho ngài mà ngài không trả lời cho đủ.

Sau đó ngài nói cho các hội viên về thời điểm ngài được bầu chọn ngày 1 tháng Tám. “Vào khoảng 1:00 trưa, sau những chuẩn bị cần thiết khá dài trước đó, các đại biểu tuyên thệ và việc long trọng kiểm phiếu diễn ra, vinh dự khôn sánh dành cho một Salêdiêng và đồng thời cũng là trách nhiệm rất nặng nề là trở thành người kế vị thứ năm của thánh Don Bosco đã rơi vào con người hèn kém của cha. Anh em hội viên thân mến, cha không thể nào nói lên được nỗi bối rối và cũng lúc đó, niềm vui của cha nhìn thấy mình được hoan nghênh, chúc mừng, được tất cả các thành viên Tổng Tu Nghị và cách riêng, một số các Bề Trên và bạn bè già trẻ yêu quý của cha ôm hôn, nói lên việc kết thúc gian đoạn thương nhớ và khởi đầu một nhiệm kỳ Bề Trên Cả mới.” [12]

Cha Luy RICCERI trong tư cách Bề Trên Cả viết những lời đầu tiên vào ngày mà ngài gọi là “ngày kỷ niệm vinh quang”, ngày 16 tháng Tám, 1965 như sau: “Cha đến với anh em lần đầu tiên trong ngày rất thân thương trong cõi lòng hiếu thảo của chúng ta. Hôm nay là ngày kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Người Cha yêu dấu của chúng ta.” [13]

Và rồi ngài viết về cảm xúc ngài trải nghiệm khi cử hành Thánh Lễ ở nhà nguyện dưới Đền Thờ tại Colle, chung quanh là các Bề Trên, cha Ziggiotti, Cha Antal, Các Sơ Ban Tổng Cố Vấn Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, các hội viên, tập sinh, nữ tu, cộng tác viên, cựu học viên, các cảm tình viên và bạn hữu Don Bosco, một Thánh Lễ được truyền hình tới cả triệu người trong mười một quốc gia qua đài truyền hình “Eurovision”. Ngài nghĩ đến sự tương phản giữa cuộc sinh ra khiêm hạ và vô danh của người Cha chúng ta 150 năm trước kia. Ngài bắt đầu suy nghĩ về Chúa Quan Phòng và lòng ngài cất lên bài ca Magnificat.

Sau đó, với tựa đề “lý do tin tưởng” ngài quả quyết: “Chắc chắn là khi nhìn đến Don Bosco cũng như những đấng kế vị, cha cảm thấy mình thật nhỏ bé và bất xứng khi gia nhập hàng ngũ các ngài.” [14] Cha Ricceri nói rằng khi cảm thấy mình bất xứng, ngài lại có được niềm an ủi khi nghĩ rằng mình đã được gọi vào vai trò này trong Tu Hội qua lá phiếu bầu các thành viên Tổng Tu Nghị diễn tả.

Và Chúa đã quyết định theo cách thức của Chúa chứ không theo cách thức loài người là ngài được gọi để cai quản Tu Hội. “Chúng ta hãy cùng nhau thi hành Thánh Ý Chúa. Đối với cha tất cả mọi việc lúc này là luôn luôn trở thành dụng cụ dễ dạy hơn, dù có khiêm hạ tới đâu, trong bàn tay của Chúa nhân lành.” [15] 

Một nguồn an ủi nữa cho ngài là tình thương mến chân thành và lòng tín thác lớn lao của những anh em sát cánh với Bề Trên Cả để trợ giúp và an ủi ngài, những cộng sự viên thân cận và tích cực của ngài như là những người con cái, anh em thực sự.

Sau cùng, ngài tỏ lộ Tấm Lòng Người Cha khi ngài viết: “Về phần cha, mở lòng cha cho anh em, cha muốn nói cho anh em rằng cha cảm thấy mình phục vụ từng anh em một với trái tim của một người cha. Cha hoàn toàn xác tín rằng quyền bính, cách riêng vào thời nay, không phải là việc thực thi quyền hành, nhưng là thực thi tình yêu trở thành việc phục vụ như việc người cha, người mẹ phục vụ con cái mình. (. . .). Nói tắt, cha muốn từng anh em chúng con cảm nhận được nỗi khao khát nóng bỏng nhất của cha, nỗi lòng cha ao ước luôn được và sẽ tỏ bày mình như một người cha; vì lẽ đó, cha khẩn nài xin Don Bosco và Don Rinaldi ban cho cha được một phần con tim của các ngài.”[16]

Ngày Lễ Trọng Truyền Tin 25 tháng Ba, 1978, Cha Egidio VIGANO viết lá thư đầu tiên cho các Hội viên như sau: “Cha chào thăm anh em với niềm hân hoan và hy vọng và muốn chia sẻ với anh em một vài suy nghĩ cha có trong lòng. . . . . Một vài tháng trước đây, Chúa Quan Phòng đã xáo trộn cuộc đời của cha khi chọn cha làm Bề Trên Cả của anh em. Ý thức về trách nhiệm gắn với “việc phục vụ gia đình” này đòi hỏi một tình cha thiêng liêng thực sự phù hợp với Don Bosco đã trở thành bản tính thứ hai của cha.” [17]

Cha Viganò tiếp tục nhấn mạnh rằng ngài xác tín là Chúa đang trợ giúp ngài nhận ra vẻ đẹp và muôn vàn hồng ân đi theo việc phục vụ này và cách riêng sự trợ giúp từ mẫu của Đức Maria đồng hành với sứ vụ này với niềm hân hoan là có thể hiệp thông với từng anh em hội viên và từng cộng thể để suy tư và cùng nhau thăng tiến trong tinh thần tri ân và trung tín. Và nói về mình, ngài viết: “Xin cho cha có được phong cách thanh thản và sâu sắc của Don Bosco và có khả năng truyền thông thật dễ dàng như các đấng kế vị ngài. Cha hy vọng có thể bù đắp việc thiếu văn vẻ và đơn sơ này ít ra là bằng lòng chân thành và kiên định của cha.” [18]

Trong vai trò là Phó Bề Trên Cả, Cha  Juan Edmundo VECCHI có nhiệm vụ thông báo sứ điệp hy vọng khi tưởng nhớ Cha E. Viganò qua đời ngày 23 tháng Sáu, 1995. Sau lời từ biệt nhẹ nhàng đấng kế vị thứ bảy Don Bosco, ngài hướng dẫn Tu Hội cử hành Tổng Tu Nghị 24, khai mạc từ ngày 18 tháng Hai, 1996 và kết thúc trong tư cách là Bề Trên Cả vào ngày 20 tháng Tư.

Như vậy ta hiểu được là vì ngài đã đảm nhận việc cai quản Tu Hội trước khi diễn ra Tu Nghị, lá thư đầu tiên của ngài đề ngày 8 tháng Chín, 1996 viết về Tông Huấn “Vita Consecrata” không nói gì về việc khởi đầu sứ vụ phục vụ của mình trong tư cách là Bề Trên Cả. Như thế, hẳn có sự khác biệt so với tất cả những tình huống trước kia.

Sau cùng, Cha Pascual CHAVEZ, được bầu chọn làm Bề Trên Cả vào TTN 25, bắt đầu lá thư gửi cho tất cả các hội viên sau khi kết thúc Tổng Tu Nghị mà ngài miêu tả như là như một kinh nghiệm thiêng liêng Salêdiêng thật mạnh mẽ. Văn kiện Tổng Tu Nghị cũng vừa được gửi tới các Tỉnh dòng và như ngài viết, ngài muốn “tiếp xúc với anh em qua lá thư luân lưu đầu tiên của cha. Viết thư là một hình thức làm việc tông đồ mà thánh Phaolô đã làm để vượt thắng những khoảng cách địa lý và việc không có thể hiện diện nơi các cộng thể để đồng hành với họ trong cuộc sống hàng ngày. Với những khác biệt phải có, các thư Bề Trên Cả có mục đích đưa ngài lại gần gũi hơn với các Tỉnh Dòng qua các trao đổi và chia sẻ những gì đang xảy ra trong Tu Hội, soi sáng cuộc sống và việc phục vụ giáo dục mục vụ của các cộng thể.” [19]

Lá thư đề ngày Vọng Lễ Kính Mẹ Lên Trời và hai ngày trước sinh nhật Don Bosco. Trong đó cha Pascual muốn tỏ bày nỗi ao ước của ngài được gần gũi từng anh em: “Cha thú nhận rằng cha thật sung sướng được cùng với anh em và chia sẻ những công việc hiện hành và những ước mơ cho tương lai của anh em; cha đặc biệt tự cõi lòng mong ước cầu nguyện cho từng anh em. Xin Thiên Chúa ban tràn anh em hồng ân tuyệt hảo của ngài là Chúa Thánh Thần, để canh tân và thánh hóa anh em nên giống như Đấng Sáng Lập của chúng ta.” [20] 

Sau khi diễn tả nỗi mong ước này, Cha Pascual nói rằng qua lá thư đầu tiên đây, ngài muốn nói về Tu Hội và sự thánh thiện, không phải là để viết một luận đề ngắn nhưng trình bày thánh thiện như là hồng ân Chúa ban và là điều thật cần thiết trong việc tông đồ.

 

2. SỐNG HIỆN TẠI TRONG ĐỨC TIN,  VỚI ĐỨC CẬY, VỚI THỰC TẠI VÀ CÙNG NHAU TIẾN BƯỚC

Anh em hội viên thân mến, Cha có thể hết sức chân thành nói cho anh em rằng nhiều lần cha rất xúc động khi lần lại lịch sử Tu Hội chúng ta. Sau ngày 31 tháng 1, 1888 khi Don Bosco rời bỏ chúng ta, hành trình này là lời mời gọi cha (cha tin là cả chúng ta nữa) hãy tri ân sâu xa về tất cả những gì đã trải qua trong lịch sử chúng ta. Đó là một lịch sử quả là ngu xuẩn để mà suy nghĩ tới với thái độ vênh vang hả hê, nhưng là lịch sư mà chúng ta cần phải giải thích với con mắt Đức Tin, nói cho chúng ta con đường Thiên Chúa muốn chúng ta viết nên những trang sử đẹp đẽ vì thanh thiếu niên qua nhiều hội viên đi trước chúng ta.

Nghĩ về con người nghèo hèn của mình, cha có thể nói cho anh em rằng về phần cha, để có thể phục vụ Tu Hội và Gia đình Salêdiêng tốt hơn—cha mong có được mọi đặc tính rất đặc biệt nổi bật nơi mỗi vị Bề Trên Cả tiền nhiệm, cũng như là bối cái thần học và xã hội, giai đoạn phát triển của Tu Hội của họ.

Trong một vài hàng chữ không thể nào vạch ra được con đường chúng ta đã trải qua trong Tu Hội. Cần phải có cả một tập sách soạn thật kỹ lưỡng; nhưng thế nào đi nữa, các chuyên gia lịch sử Tu Hội chúng ta cho rằng có thể nói đến những giai đoạn đặc trưng như sau: Giai đoạn Thành Lập, giai đoạn Củng Cố và Cơ Cấu Hóa (vì đã phát triển và mở rộng đáng kể), giai đoạn Duyệt Lại Hậu Công Đồng và Xác Định Thần Học, giai đoạn Dự Phóng Mục Vụ của Sứ Mệnh, và giai đoạn Căn Tính Salêdiêng và Bản Chất Triệt Để theo Tin Mừng của Đời Sống Chúng Ta là Những Con Người Thánh Hiến. Tất cả hành trình này đã được nhiều Tổng Tu Nghị làm cho phong phú qua những đường hướng và chọn lựa, và sau đó được các Bề Trên Cả đảm nhận làm của mình.

Gia sản chúng ta tiếp nhận rất là phong phú và làm cho chúng ta thêm trách nhiệm hơn nữa trước Chúa, trước Don Bosco và cũng trước tất cả những người đi trước chúng ta đã cống hiến phần tốt đẹp nhất của họ.

Anh em có thể hỏi cha xem cha chọn vị thế nào trong hoàn cảnh này và chương trình sinh động hóa và cai quản nào ta có thể mong đợi. Cá nhân cha có thể chia sẻ cho anh em những gì cha nói vào ngày 25 tháng Ba. Đó là cách cha cảm nhận sống cuộc đời mình:

* Theo quan điểm Đức Tin, cha phó thác mình cho Chúa.

* Cha biết rằng mình không có đơn độc, đã nghiệm thấy trong cuộc đời rằng “sức mạnh nội tâm” đến từ Chúa Thánh Thần (“Ơn Chúa đủ cho con”), là sự hiện diện của Mẹ (“Hỡi con, này là Mẹ con. . .”. Cha không đơn độc bởi vì cha cảm nhận được tình hiệp thông huynh đệ tương trợ từ các Hội Viên Salêdiêng (những anh em ở bên cạnh cha hằng ngày cũng như những anh em trên khắp thế giới đang làm chứng sáng ngời là những “Don Bosco ngày nay”cho các thanh thiếu niên ủy thác cho anh em). Và cha không đơn độc vì cha cảm nhận được tình cảm nồng ấm và ân cần cha nhận được từ Gia Đình Salêdiêng.

* Và cha sống cuộc đời cưu mang người trẻ trong lòng của cha. Cha cảm nhận điều này rất mạnh mẽ và cách riêng, đối với những người nghèo khổ nhất, những người thiếu thốn nhất và những người bị gạt hẳn ra một bên.

Về Chương Trình Sinh Động Hóa và Cai Quản cho sáu năm tới, TTN 27 đã đưa ra những chỉ dẫn tuyệt vời, và cha chắc chắn là mọi điều chúng ta cần đã được chứa đựng trong đó cách này hay cách khác.

Chương trình sáu năm sẽ là như sau:

Tiếp tục vun trồng Căn Tính Đoàn Sủngđểhoàn toàn trung thành với Don Bosco, một căn tính mới qua hình thái và cách diễn tả mặc lấy sau hai trăm năm ngày sinh của Ngài, nhưng lại y nguyên trong sự tinh tuyền và tính cách cốt yếu của đoàn sủng của ngài mà chúng ta đã tiếp nhận như gia sản của chúng ta.

Bảo đảm trên toàn Tu Hội tình trạng chúng ta là những con người thánh hiến, những con người đã tự do đảm nhận vị trí của mình trong Kế Hoạch của Thiên Chúa,những nhà thần nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.

Chăm sóc đời sống nhân bản, tình cảm và ơn gọi của từng hội viên và của cộng thể. Chúng ta thực sự muốn mơ đến Giấc Mơ không tưởng về đời sống huynh đệ xây dựng hết sức mạnh mẽ trên Tin Mừng.

Làm chứng một cách hùng hồn và hiển nhiên qua đời sống giản dị và khắc khổ của chúng ta, Nghèo Khó của chúng ta là Làm Việc và Tiết Độ.

Sống hệ quả tận cùng của việc chọn lựa thanh thiếu niên nghèo khổ nhất với sự khiêm nhường, không vênh vang hiển hách, nhưng phải như thời Don Bosco, ngõ hầu chúng ta được biết đến là những người chủ yếu đã làm những chọn lựa, quyết định và hành động như thế.

Và chúng ta không tự mình làm hết mọi sự. Chúng ta là thành phần của một Đại Gia Đình Salêdiêng rộng lớn. Gia đình này cũng cần tăng trưởng trong căn tính và ý thức thuộc về, và chúng ta đã có sẵn một sức mạnh vĩ đại của đội ngũ những người đời đã được huấn luyện rất tốt để dấn thân chung sức trong sứ mệnh.

Cha lấy lại những lời TTN 24 đã nói mười tám năm trước như sau:

Hiện nay, sứ mệnh thông chia cho người đời không còn là một lựa chọn mà là một sự cần thiết trong đoàn sủng.

3. THUỘC VỀ CHÚA HƠN NỮA

Anh em hội viên thân mến, Cha phải thú nhận rằng những câu nói như Tối Thượng của Thiên Chúa, Thần Nghiệm trong Thánh Linh, Kế Hoạch của Thiên Chúa, Gần Thiên Chúa, Kết Hiệp với Thiên Chúa, Những Người Đi Tìm Thiên Chúa . . .là những câu đánh động sâu xa cõi lòng cha, nói cho cha hay rằng ở đây, chúng ta đang có cái gì rất là quan trọng. Đó chính là chìa khóa, còn tất cả những gì còn lại mà chúng ta tiêu hao rất nhiều năng lực là cái gì “đến tiếp” cho chúng ta, như thể “trái chín rụng xuống”, hay nói khác đi, là cái hệ quả đương nhiên, đương nhiên phải có.

Cùng lúc dó, cha hết sức chân thành phải thú nhận nỗi lo sợ cha cảm thấy y như trong những năm tháng cha làm Giám Tỉnh: Cha cảm thấy nói như thế thì sẽ có thể có những hội viên đứng lãng ra, cho rằng nói kiểu đó là “tiên thiên” quá, là loại thần học lỗi thời, mô hình không ai còn áp dụng nữa, “đã cổ xưa”. . . Nhưng ta có thể thấy nhiều nơi vẫn nói như thế, trong các văn phẩm thần học, trong những tạp chí bàn đến những vụ việc đương thời liên quan đến nhịp sống đời tu sĩ.

Trong TTN 27, dựa vào kinh nghiệm của toàn Tu Hội, nhận định của chúng ta cũng trùng hợp với nhau và với những người khác.

Anh em hội viên thân mến, cha tin rằng đời sống thiêng liêng phải chiếm chỗ nhất, [21] . Đời sống thiêng liêng đó trước hết là tìm kiếm Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày, giữa tất cả những gì chúng ta đang làm, giữa tất cả những công việc của chúng ta. Cha nói điều này là vì đối với chúng ta, cũng như đối với Don Bosco, tìm kiếm những gì tốt nhất cho thanh thiếu niên, tức phần rỗi của chúng, và những gì tốt nhất cho toàn bộ đời tu sĩ ngày nay, yếu tố cơ bản đã là và tiếp tục cũng như sẽ là  con người Chúa Giêsu và sứ điệp của Ngài: nói tắt, Chúa Kito phải là trung tâm cuộc đời chúng ta. Hẳn rằng chưa có ai nghi ngờ về điều này, nhưng làm cho điều đó nên sống thực và thực sự là tiêu chuẩn đời sống chúng ta thì cũng không hẳn là như thế.

Lẽ sống cuộc đời tu sĩ chúng ta—vì chúng ta không nên quên rằng đời sống chúng ta không chỉ là đời sống Salêdiêng, nhưng còn là đời sống tu sĩ như những người Salêdiêng thánh hiến—không được tìm thấy nơi những gì chúng ta làm, cũng không phải tính hiệu quả của chương trình và kế hoạch của chúng ta. Hoặc đời sống tu sĩ chúng ta như những con người thánh hiến làm cho chúng ta trở thành dấu chỉ (cộng đoàn các tín hữu phục vụ Nước Trời), hay chúng a có nguy cơ trở nên quan tâm đến sức mạnh của chúng ta hơn là quan tâm đến sứ điệp của Chúa.

Mối nguy hiểm ẩn tàng trong mọi đời sống tu sĩ là đánh mất đi sự sinh động mới mẻ của đoàn sủng. Có thể là chúng ta bị hút vào các công cuộc, hoạt động, vai trò (mục vụ hay gì gì đi nữa) . . . đến độ chúng ta có thể đánh mất đi giá trị biểu tưởng của cuộc đời mình. Chẳng hạn mới đây cha nghe nói là ở một địa phương, nơi đó có nhiều công cuộc Salêdiêng, chúng ta có nổi tiếng về những công cuộc xã hội, nhưng chúng ta ít được kính trọng trong tư cách là Salêdiêng, như là những người tin vào đời sống thánh hiến. Cha phải nói rằng cha rất lo và cha tự hỏi: chúng ta đang làm sai điều gì đây? Chúng ta sao lại không có thể làm chứng tá được?

Vì thế, khi chúng ta tự hỏi cái gì là thiết yếu trong cuộc đời mình? Câu trả lời sẽ là cuộc trở về để gặp gỡ Đấng đem lại ý nghĩa cho mọi thời khắc. Chúng ta cần phải tự hỏi, vì cái gì và vì ai mà chúng ta hành động, đâu là nền tảng của những chọn lựa quyết định của chúng ta và việc sống theo cách chúng ta sống?

Chúng ta có thể nói được rằng cốt lõi căn tính chúng ta, lẽ sống cuộc đời tu sĩ chúng ta dứt khoát chính là kinh nghiệm về Thiên Chúa. Và cuối cùng ra, vấn đề phẩm chất đời tu chính là vấn đề phẩm chất kinh nghiệm về Thiên Chúa. [22] Chính trong khuôn khổ và bối cảnh này mà Tổng Tu Nghị số 23 chỉ ra rằng như Don Bosco, thì cũng phải nơi chúng ta, tính tối thượng của Thiên Chúa phải là hòn đá góc cho lý lẽ sự hiện diện của chúng ta trong Giáo Hội và trong thế giới. Tính tối thượng này đem lại ý nghĩa cho cuộc đời thánh hiến của chúng ta, giúp chúng ta tránh được nguy cơ để mình bị cuốn hút vào trong các hoạt động, quên rằng chúng ta nhất thiết phải là ”những người đi tìm Chúa” và làm chứng rằng Thiên Chúa hiện diện giữa các thanh thiếu niên và người nghèo khổ.

Vì thế, một lần nữa, chúng ta phải giúp nhau để thực sự tin rằng kinh nghiệm nền tảng này trong cuộc đời chúng ta, kinh nghiệm Thiên Chúa sống trong chúng ta, hoặc nói theo một lối diễn tả thần học khác, sống toàn thể cuộc đời chúng ta “trong Thiên Chúa”.

Anh em hội viên thân mến, dù có diễn tả theo ngôn từ nào, tận cội rễ cho đời sống Salêdiêng chúng ta cũng như cho toàn bộ cuộc đời thánh hiến, phải là thần nghiệm, bởi vì nếu như cái nâng đỡ, cái thôi thúc chúng ta lại không phải là kinh nghiệm đích thực và đầy sức sống về Thiên Chúa, thì mọi sự còn lại sẽ không đi đến đâu cả. Hàng ngày, thường nhìn thấy vẻ mệt mỏi, đổ vỡ, cuộc sống trống rỗng nơi các hội viên chúng ta, -dẫu rằng cứ nghĩ là mình đang sống cả cuộc đời cho Thiên Chúa—v.v... là dấu chứng không thể chối cãi được sự kiện là như thế.

Xin Chúa thương ban cho chúng ta hồng ân được là những con người “thực sự đi tìm Chúa hơn nữa”, để đem lại được ý nghĩa sugn mãn cho Cuộc Hiện Hữu chúng ta trước tiên, rồi đến lối sống và hành động của chúng ta.

4. CHÚNG TA HÃY LÀM SỐNG DẬY TÌNH HUYNH ĐỆ "KHÔNG TƯỞNG" THEO TIN MỪNG

 

“Nhà” và “Gia đình”-như ta đọc thấy trong TTN 27, số 48—là hai từ thường được Don Bosco sử dụng để diễn tả“tinh thần Nguyện Xá” phải được thấy rất rõ trong các cộng thể chúng ta.

 

Tổng Tu Nghị đã xem xét với niềm hy vọng song cũng rất thực tế (với ánh sáng và bóng tối) đời sống cộng thể chúng ta vốn là một khía cạnh cuộc sống chúng ta, trong khi có tiềm năng để thành một sức mạnh mang tính ngôn sứ vĩ đại nhất, song chắc chắn cũng là khía cạnh “yếu kém nhất” trong Tu Hội chúng ta.

Văn kiện TTN nói rằng kể từ TTN 25, ngày càng có nhiều nỗ lực để sống đời sống cộng thể chúng ta một cách chân thực hơn (s. 8), dẫu rằng ẩn dưới thái độ “tôn trọng”, “dung nhượng” dường như lại có thái độ lãnh đạm hay thiếu quan tâm đến hội viên. Chủ nghĩa duy vật chất và duy hoạt động làm cho chúng ta cảm nhận thời gian dành cho cộng thể như là thời gian “bị lấy ra khỏi” “lãnh vực riêng tư” hoặc sứ mệnh (s. 9). Nếu chúng ta khó đáp trả được tiếng gọi của Chúa sống một cách triệt để, một phần đó là do kém xác tín trong việc xây dựng tình hiệp thông trong cộng thể (s. 36).

Cùng lúc đó, với cái nhìn tích cực và đầy hy vọng, chúng ta nhìn nhận rằng đời sống cộng thể là một trong những cách thức kinh nghiệm Thiên Chúa. Sống “tình huynh đệ thần nghiệm” là một yếu tố thiết yếu trong đời sống thánh hiến tông đồ của chúng ta (s. 40).

Sống linh đạo hiệp thông . . . và xây dựng cộng thể giả định việc chuyển từ cuộc sống chung sang hiệp thông trong cuộc sống (s. 45).

Chúng ta tìm thấy những ghi nhận này cũng như những ghi nhận khác thấy được qua các suy tư của Tổng Tu nghị mà chúng ta chắc chắn đang đọc và suy gẫm. Cha không muốn nói thêm về điểm này. Ta không cần phải trích dẫn thêm để cho thấy bức tranh sáng tối lẫn lộn ấy. Trong ánh sáng TTN 27, câu hỏi là: chúng ta cần phải lưu tâm đến điều gì, chúng ta cần phải thay đổi cái gì, chúng ta cần phải tiếp tục làm gì và đừng làm điều gì để rồi trong thực tế, đời sống cộng thể chúng ta có thể có được sự hấp dẫn mà tình Huynh Đệ sống theo Tin Mừng đã có được, đến mức độ “hấp dẫn không thể cưỡng lại được”?

Như một tác giả đã viết, chắc chắn rằng đời sống cộng thể có được tất cả những vẻ mỹ miều của những khó khăn và những tiềm năng, ân sủng cũng như sự yếu đuối. Chỉ có nhờ ơn Chúa ta mời có thể trụ lại trong cộng thể và đào sâu được kinh nghiệm này . . . Đó quả là một cuộc đền tội và thực hành khổ chế nhằm thanh tẩy và đem lại cơ hội cộng tác, tham gia và hiệp thông. Nhưng trước hết đó cũng là điều thật đẹp đẽ. Ta sống trong cộng thể là để được hạnh phúc và đã có nhiều người sống thành công như thế (. . . ) và nếu chúng ta muốn nói về vẻ đẹp của đời sống cộng thể, ta cần phải nói đến những phuơng thế ngắn gọn dẫn đến tình bác ái huynh đệ, tức là sự hiện diện, thân thương với nhau, và sửa lỗi huynh đệ, chăm sóc nhau, giúp đỡ lẫn nhau: nói tắt, bác ái huynh đệ trong mọi cách thức biểu hiện. Con tim cần và đòi có điều ấy. Trong tương lai, đời sống cộng thể sẽ [phải] là bác ái huynh đệ hoặc sẽ không còn là gì cả.[23] Đây là một trong những điều mà các ứng sinh ngày nay hầu như đều tìm kiếm, song phần đa không phải lúc nào cũng luôn gặp được.” [24]

Ngày nay khía cạnh này trong đời sống tu sĩ chắc chắn còn là sức mạnh chứng tá vĩ đại.  Cũng như trong hầu hết bối cảnh xã hội chúng ta, bên cạnh những khía cạnh tích cực, tình trạng thiếu trao đổi, bị cô đơn, chủ nghĩa cá nhân và lẻ loi ngày càng gia tăng nơi nhiều nền văn hóa là căn bệnh lớn lao của thời đại chúng ta, đi kèm với tình trạng trầm cảm. Chứng tá đời sống tu sĩ, bao gồm chứng tá của chúng ta, cần phải thực sự tạo nên một lời loan báo Tin Mừng, tin vui, một thách đố hay một lời mời gọi.

Bởi đó, cha có thể nói cho anh em rằng một trong ưu tư lớn nhất của cha là cách chúng ta suy nghĩ, nhìn, tưởng nghĩ, nói cho chúng ta rằng chúng ta vẫn có thể cứ tiếp tục đi theo hướng như thế trước hiện trạng yếu kém của nhiều cộng đoàn chúng ta. Anh em hội viên thân mến, rất thường khi đời sống hiệp thông của chúng ta bị hy sinh cho những cái gì khác kìa! Chẳng hạn, cha tự hỏi tại sao chúng ta được coi là chuyên gia về tình người, cách riêng trong vai trò chúng ta là nhà giáo dục người trẻ, lại có bên cạnh chúng ta, trong cộng thể chúng ta, đôi khi ngay trong nhà cơm hay căn phòng bên cạnh cửa chúng ta, những anh em hội viên cõi lòng bị tổn thương, cô đơn, vỡ mộng, những người anh em mong muốn được hạnh phúc như là người Salêdiêng nhưng sao lại không được. Quả đúng đây không phải là bức tranh toàn cảnh của toàn Tu Hội, không phải như thế, nhưng nó lại là cái gì có thực và chỉ cần một trường hợp của một anh em hội viên bị tổn thương như thế cũng phải đủ làm cho chúng ta thực sự lo âu. Trong trường hợp chúng ta, cha nghĩ rằng đó quả là một tội nếu như qua lời nói hay việc làm hay qua việc ta làm thinh im lặng, chúng ta sẽ như Cain trả lời cho câu Thiên Chúa hỏi: “Em ngươi ở đâu?” Cain trả lời: Tôi không biết! Bộ tôi là người canh giữ em tôi ư?” (Stk 4,9). Đúng như thế! Và không chỉ là người canh giữ, chúng ta còn là người chăm sóc anh em chúng ta nữa!

Anh em hội viên thân mến, thách đố lớn cho mọi Giám Tỉnh, Ban Cố Vấn, Giám Đốc và mọi hội viên trong từng cộng thể thuộc thế giới Salêdiêng là: Hãy làm cho Cộng thể chúng ta thành một nơi sống đời hiệp thông thực sự. Làm thế nào chúng ta chuyển đổi từ một đời sống chung với thời khóa biểu, nội quy, chương trình được quy định—chắc chắn chúng luôn là những gì trợ giúp chúng ta—sang một đời sống hiệp thông? Việc này chắc chắn giả định từng cá nhân và từng cộng thể phải hoán cải, đòi hỏi tâm tư tình cảm phải hết sức nỗ lực để đạt cho được; đây là cả một tiến trình đòi hỏi chúng ta chấp nhận mọi giai đoạn cuộc đời như là cơ hội tăng trưởng, mở lòng chúng ta đón nhận kinh nghiệm mới khi gặp gỡ đích thực Người Hội Viên và với sức mạnh Chúa ban để làm cho sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta trở nên rõ rệt hơn.

5. VỚI GIỚI TRẺ, VÌ GIỚI TRẺ, “NGƯỜI CHỦ CỦA CHÚNG TA”

Câu này không phải là của cha mà là của Don Bosco, ngài thường nói: “Người trẻ là người chủ của chúng ta”; [25] ngài luôn luôn giữ thái độ của người tôi tớ thực sự trước người trẻ.  

Anh em hội viên thân mến, tất cả những bút tích gia sản của Tu Hội chúng ta từ chính Don Bosco cho đến nay liên quan tới đối tượng  ưu tiên của chúng ta thật là tuyệt vời: thanh thiếu niên, đặc biệt là những em nghèo khổ. Đó chính là vì chúng ta thực sự luôn có các em trong cõi lòng, trong ADN của chúng ta như cha đã nhiều lần nói. Đó cũng là do đôi khi chúng ta phải nhắc nhở mình về điều đó ngõ hầu tình thương đặc biệt này của chúng ta được rõ rệt hơn, nhắc cho bản thân và những người để khỏi phải quên.

Như TTNĐB XX nhắc nhở chúng ta, trong số những lời khuyên cho các vị thừa sai đầu tiên, Don Bosco có lời nhắn nhủ hết sức đặc biệt mà hiện nay vẫn còn hết sức ý nghĩa đối với chúng ta: “Hãy cho thế giới biết rằng chúng ta nghèo trong quần áo, thực phẩm và nhà cửa, và chúng con sẽ nên giàu có trước Nhan Chúa và sẽ chinh phục cõi lòng của con người. [26]

Nếu đã là như thế qua suốt giòng lịch sử của Tu Hội chúng ta, trong ánh sáng TTN 27, anh em Hội viên thân mến, với quyết định mạnh mẽ là người tôi tớ phục vụ người trẻ, chọn lựa người trẻ, cách riêng những em nghèo khổ nhất trong chúng phải trở thành và buộc phải trở thành nỗ lực tối đa và đặc tính chuyên biệt của Tu Hội và trở thành lời ngôn sứ thực sự về tình huynh đệ, qua đó, chọn lựa những người thiếu thốn nhất quả là hiển nhiên đến độ không cần lời lẽ nào để giải thích. “Người đời sẽ luôn vui vẻ đón nhận chúng ta bao lâu chúng ta luôn quan tâm đến các em nghèo khổ, cùng khốn hơn trong xã hội. Đó chính là tài sản thực sự của chúng ta và không ai lấy đi được khỏi chúng ta. [27]

Như thế, chọn lựa người nghèo sẽ là cách diễn tả lời khấn khó nghèo của chúng ta đúng theo Tin Mừng nhất và chắc chắn sẽ giúp chúng ta vượt thắng được khuynh hướng rất tự nhiên đối với chúng ta cá nhân cũng như tập thể, muốn gắn kết với quyền lực và những người quyền thế, sở hữu và chiếm hữu quá đáng, là khuynh hướng hoàn toàn trái nghịch với Tin Mừng và đường lối của Chúa Giêsu.

Anh em Hội viên thân mến, khi Tổng Tu Nghị vừa qua của chúng ta quả quyết rằng chúng ta muốn là một Tu Hội của những người nghèo và cho người nghèo, bởi vì như Don Bosco, chúng ta tin rằng đây phải là cách chúng ta sống Tin Mừng một cách triệt để và là lối sống sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu của người trẻ; chúng ta hẳn không nghĩ rằng đây chỉ là một gợi ý dành cho những anh em Salêdiêng nào bén nhạy hơn hay những ai đó quảng đại hơn nhưng là đề xuất cách thức làm cho cuộc đời chúng ta như một cuộc xuất hành thực sự.[28]

Đó phải là cái gì thật thiết yếu cho cuộc đời chúng ta như là những Salêdiêng Don Bosco, và là tất cả những gì mà mọi Salêdiêng phải nằm lòng. Hẳn lả ngoại lệ cho những hội viên không cảm thấy mình có khả năng—bởi lẽ có cái gì đó không ổn trong cuộc đời của họ--và rồi họ có thể dựa vào sự hỗ trợ và nâng đỡ huynh đệ của chúng ta, nhưng đó không bao giờ được là việc chọn lựa một lối cống hiến tẻ nhạt hay tầm thường; ta luôn phải chọn những em nghèo khổ nhất hay ít ra là thiếu thốn hơn như trường hợp của một em nam hay nữ, một em thiếu niên phải rời bỏ ngôi nhà của Don Bosco chỉ vì không có khả năng đóng tiền hay những trường hợp tương tự.

Có lẽ ai đó sẽ nghĩ rằng đấy quả là đẹp nhưng bất khả thi, ai đó nói rằng ta cần phải duy trì trường ốc, thanh toán các chi phí, và cha nói cho những người đó rằng, với lòng quảng đại, những chọn lựa rõ ràng, việc đi tìm tài trợ, học bổng khuyến học, với khả năng chúng ta chắc chắn là có để tạo nên tinh thần liên đời khi đó là vấn đề trợ giúp những em thiếu thốn, chúng ta có thể hình thành được thực tế qua đó nhà Salêdiêng không bao giờ đóng lại cho những ai thiếu thốn (như trường học, nguyện xá, nhà nuôi trẻ, trung tâm trẻ, v. v. . . Cha muốn nhắc lại những gì cha đã nói trong bài diễn văn kết thúc Tổng Tu Nghị. Thanh thiếu niên, đặc biệt những em nghèo khổ nhất, sẽ là người cứu vớt chúng ta. Các em là hồng ân ban tặng cho anh em Salêdiêng chúng ta, chúng thực sự là “những bụi gai cháy bỏng” mà chúng ta phải cởi giày dép của mình để tiến tới. [29]

Đây chính là chìa khóa then chốt cho vai trò hiền phụ của chúng ta như là những nhà giáo dục, những người trao ban sự sống đến độ trao hết đời mình, hy sinh đời mình cho những ai bị gạt bỏ ra ngoài lề, bởi lẽ, khi đáp lại tiếng Chúa kêu gọi, chúng ta đã quyết định sống như thế. Nếu chúng ta có khả năng làm điều gì hơn (tiếng thưa “Xin vâng” trong suốt cuộc đời chúng ta), chúng ta không thể nào được dừng lại ở điều kém hơn; mà phải là một lựa chọn khác cho ai đó, là dấu chỉ cho cái gì đó.

Tuy chưa biết rõ hết toàn Tu Hội, cha xác tín rằng nhiều anh em đang hết sức dấn thân quảng đại, thế nhưng việc tập trung vào Thiên Chúa và vào những người bị gạt ra bên lề không thể làm cho chúng ta bằng lòng với chính mình và châm chước cho những trường hợp hiện đang có thực trong đó chúng ta không đáp trả theo những cách thức Don Bosco. Chính trong ý nghĩa này mà cha khuyến khích mọi hội viên hãy đặt mình trong một tâm thức hoán cải trở về với Chúa, trở về với anh em mình và với thanh thiếu niên như TTN 27 đòi hỏi chúng ta.

Chúng ta là những người cha, người anh thực sự của thanh thiếu niên như Don Bosco xưa kia, và Đức Gioan Phaolo II nhắc nhở chúng ta trong TTN 23: “Vì thế, mối quan tâm của anh em phải luôn tập trung vào các thanh thiếu niên, là hy vọng của Giáo Hội và thế giới. Đó là giới mà ai nấy đều nhìn đến với cả tin tưởng lẫn lo lắng. Trong các quốc gia giàu có hay những quốc gia nghèo khổ hơn, anh em phải luôn luôn phục vụ chúng, quan tâm cách riêng đến những em yếu đuối và ở bên lề của xã hội. Hãy đem lại cho các em niềm hy vọng của Tin Mừng, để giúp các em can đảm đối diện cuộc đời, đối lại những cám dỗ ích kỷ và nản lòng. Anh em phải là những người cha, người anh như Don Bosco đã dạy anh em.” [30]

6. MỘT TU HỘI TRUYỀN GIÁO: TRONG ĐÓ SỰ KHÁC BIỆT LÀ MỘT KHO TÀNG

Dưới tựa đề này, cha muốn nói rõ ràng và đơn giản như sau: chiều kích truyền giáo là một phần của CĂN TÍNH chúng ta và sự khác biệt văn hóa, hiện trạng đa văn hóa và liên văn hóa là một kho báu mà thời kỳ sáu năm tới chúng ta đang tiến tới.

Theo “Niềm Vui Tin Mừng,” [31] loan báo Tin Mừng là sứ mệnh của toàn dân Thiên Chúa và hướng đến cho hết mọi người, vì “không còn là Do Thái, là Hy Lạp . . . nhưng tất cả anh em là một trong trong Đức Giêsu Kitô.”( Gal 3, 28). Truyền giáo nghĩa là làm men Thiên Chúa giữa lòng nhân loại, một nhân loại, một Dân Thiên Chúa với nhiều khuôn mặt, nhiều lịch sử và văn hóa khác nhau trong đó, mọi người chúng ta đều là những môn đệ truyền giáo.

Đức Thánh Cha mời gọi hãy Loan Báo Tin Mừng cho mọi dân tộc và chúng ta đang chăm chú nhìn vào tích cách truyền giáo của Tu Hội chúng ta như chúng ta vẫn luôn luôn làm để đích thân nhận ra căn tính chúng ta. Don Bosco muốn Tu Hội Salêdiêng dứt khoát là một tu hội truyền giáo. Năm 1875, từ nhóm nhỏ Salêdiêng đầu tiên, ngài đã chọn ra mười người gửi tới Châu Mỹ: trước khi qua đời, ngài đã gửi được mười đoàn truyền giáo và 153 anh em Salêdiêng tại Châu Mỹ khi ngài qua đời chiếm tới 20% số Salêdiêng vào thời ấy theo như Niên Giám Tu Hội năm 1888.

Căn tính truyền giáo này được duy trì và vun trồng qua nhiều năm tháng đã khiến Tống Tu Nghị Đặc Biệt nêu lên lời mời gọi đặc biệt mà cha muốn nêu lên lại hôm nay, vào dịp chuẩn bị Lễ Mừng Hai Trăm Năm Ngày Sinh của Don Bosco, như là lời tôn vinh sống động dâng kính ngài: “Tổng Tu Nghị Đặc Biệt kêu mời mọi tỉnh dòng, ngay cả những tỉnh dòng ít anh em hội viên, vâng phục lời mời gọi của Công Đồng và theo gương sáng can đảm của Đấng Sáng Lập chúng ta, hãy đóng góp cách riêng là nhân sự, vào việc mở mang Nước Chúa, trọn đời hay trong một khoảng thời gian.” [32]

Anh em hội viên thân mến, cha tin rằng lời mời gọi này vẫn còn đầy đủ tầm quan trọng trong hiện tình Tu Hội ngày nay. Khi cha nói đến lời tôn vinh dâng kính Don Bosco dịp Lễ Mừng Hai Trăm Năm Ngày Sinh của ngài, cha không nói đến tinh thần mừng lễ trống rỗng hoặc chỉ nhắm đến con số thống kê, nhưng cha thực sự tin rằng—và đây là cảm nhận của TTN 27—sự giàu có vĩ đại của Tu Hội chúng ta là khả năng truyền giáo của Tu Hội, khả năng có thể hiện diện ở những nơi cần đến chúng ta nhất trong công cuộc Loan Báo Tin Mừng, mặc dù tất cả mọi nỗ lực của chúng ta đều có giá trị ở bất kỳ nơi nào chúng ta hiện diện. Trong bối cảnh này, cha dùng cơ hội đây để mời gọi mọi anh em Salêdiêng—và cha tha thiết gừi lời mời gọi đến toàn thể Gia Đình Salêdiêng—lúc nào thích hợp, hãy đọc, suy niệm và bàn luận về tông huấn Niềm Vui Tin Mừng. Làm được như thế chắc chắn là tốt; vì nhiều nơi vẫn chưa biết đến tông huấn này.

6.1. Bởi vì có những vùng truyền giáo lúc này rất cần đến chúng ta . . .

Về việc này, không chỉ cho năm 2015 mà còn cho cả sáu năm tới, chúng ta thực sự muốn được giúp vào những vùng truyền giáo đầy khó khăn lúc nay, chẳng hạn như:

-     Công cuộc truyền giáo ở Amazon, cách riêng ở Manaus, Campo Grande và Venezuela  . . .

-     Công cuộc truyền giáo ở Chaco Paraguayo.

-     Công cuộc truyền giáo ở những khu vực Pampas và Pantagonia thuộc Argentina.

-     Hiện diện truyền giáo giữa những cộng đoàn di dân tại Hoa Kỳ.

-     Hiện diện truyền giáo ở Trung Đông, cách riêng, những vùng đang bị tác động khủng khiếp bởi các cuộc xung đột võ trang mà chúng ta đã biết rất rõ . . .

-     Hiện diện truyền giáo giữa những anh em Hồi Giáo Bắc Phi Châu, những quốc gia Vùng Vịnh Ả-rập và Pakistan . . .

-     Hiện diện truyền giáo mới theo Dự Phóng Châu Âu, lo cho những nhóm rất đông sống bên lề xã hội vì là di dân.

-     Củng cố những hiện diện truyền giáo mới được loan báo  Tin Mừng tại Châu Á và Châu Đại Dương: Mông Cổ, Cam-pu-chia, Bangladesh Lào, v. . v. . .

 

6.2. .. Sự khác biệt là một kho tàng

Trong cuộc đời Salêdiêng của cha, đã hơn một lần cha nghe những anh em trong những quốc gia hay Tỉnh dòng có nhiều hơn gọi hơn phát biểu rằng họ không cần trợ giúp vì họ có đủ số ơn gọi. Nhưng chính vì lý do đó và do có sự khác biệt, dị biệt, tình trạng đa văn hóa và liên văn hóa là một kho báu. Sự trợ giúp từ đó trở nên ngày càng cần thiết hơn và cũng là để bảo đảm căn tính đoàn sủng Salêdiêng, để căn tính này không chỉ đơn điệu một mầu sắc, để có thể khích lệ việc trao đổi hội viên trong một số năm giữa các Tỉnh Dòng, để cho các hội viên có một cơ sở tạm thời giúp những Tỉnh dòng hết sức thiếu thốn, thì bên cạnh những hội viên sẵn sàng cống hiến như những người truyền giáo “ad gentes” khi đáp lại tiếng gọi này và cho những ai sẽ đáp lại; và như thế, cũng để chuẩn bị các hội viên trên khắp thế giới có được tầm nhìn toàn cầu và phổ quát hơn. Mặc dù chúng ta có cơ cấu theo pháp lý được xác định trong các Tỉnh Dòng, Salêdiêng chúng ta không tuyên khấn cho một nơi chốn, một xứ sở hay một địa điểm. Salêdiêng chúng ta trong Tu Hội và vì Sứ Mệnh Truyền Giáo, chúng ta có mặt những nơi nào cần đến chúng ta và nơi chúng ta có thể phục vụ.

Anh em hội viên thân mến, cha biết rằng sứ điệp này làm cho anh em ngạc nhiên, nhưng chúng ta phải dám ước mơ và đừng lo sợ những gì mới mẻ dù chúng có đòi hỏi đến thế nào đi nữa, miễn đó là việc tốt lành. Một ví dụ đơn giản nhưng trực tiếp thực tế cho điều cha đang nói đây là cần phải chuẩn bị các anh em Salêdiêng trẻ học các ngôn ngữ; càng nhiều ngôn ngữ càng tốt. Thời buổi đã khác rồi so với thời kỳ mà theo kinh nghiệm của cha, việc học một tiếng nước ngoài được coi là việc dư thừa và đi sang một nước bên cạnh, biên giới chỉ cách có 50 km bị coi là “đi ngoại quốc”, và xin phép Nhà Dòng rất là khó khăn. Vì thế, chúng ta phải chuẩn bị những thế hệ mới học những ngôn ngữ, có cả tiếng Ý trong đó, để rồi trong tương lai, việc tiếp cận những nguồn liệu và những bút tích gốc của Đấng Sáng Lập chúng ta và của Tu Hội không phải là việc không thể làm được chỉ vì không biết tiếng Ý.

Vì thế, cha muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đừng có lo sợ cũng như đừng có cản trở anh em hội viên chúng ta đi học ở ngoài Tình Dòng của mình. Ta không hề giảm suy tình yêu với tổ quốc, cội rễ và cội nguồn ta hơn chỉ vì không học ở quê nhà. Suy nghĩ như thế là không đúng và không có gì phải sợ là thiếu thực tế. Trái lại, các chân trời của ta sẽ được rộng mở và khả năng hiếu biết những khác biệt và dị biệt được gia tăng—một khả năng quả là thiết yếu trong thế giới chúng ta hiện nay và tương lai.

7. CỬ HÀNH ĐỆ NHỊ BÁCH CHU NIÊN NGÀY SINH NHẬT CỦA DON BOSCO

 

Khi anh em đọc lá thư này, chúng ta đã khai mạc năm Mừng Lễ Hai Trăm Năm Ngày Sinh DonBosco: ngày 15 tháng Tám tại Castelnuovo và ngày 16 tháng Tám tại Colle Don Bosco. Dưới sự hướng dẫn của cha Bề Trên Cả Tiền Nhiệm, toàn Tu Hội đã có thời kỳ ba năm tích cực chuẩn bị, đào sâu hiện tình lịch sử, khoa sư phạm và linh đạo của Đấng Sáng Lập chúng ta.

Đối với cha, dường như ta nên nói rằng năm cử hành mừng lễ chúng ta đã khởi sự có hai khía cạnh. Một là khía cạnh bên ngoài và chính thức; khía cạnh thứ hai là bên trong, mật thiết hơn.

Hai trăm năm đã qua kể từ khi Don Bosco được sinh ra, được Chúa Thánh Thần khơi dậy qua sự can thiệp từ mẫu của Đức Maria (x.HL1) đã đủ cho chúng ta thấy và hiểu được những gì chúng ta thừa hưởng. Trước hết, đó là cuộc đời của một người của Thiên Chúa, một vị thánh với cõi lòng của một người cha đã sống những gì mình đã hứa: “Cha đã hứa với Chúa là cha sẽ sống cho đến hơi thở cuối cùng cho các thanh thiếu niên nghèo khổ của cha.”[33] Chúng ta cũng thừa hưởng trách nhiệm sống và hiện thực tính chân thực của đoàn sủng xuất hiện không do sáng kiến của con người nhưng do sự chủ động của Thiên Chúa nhằm góp phần vào việc cứu rỗi giới trẻ (x. HL 1).

Cử hành Lễ Mừng Hai Trăm Năm Ngày Sinh của Don Bosco trong xã hội, trong thị trấn, thành phố với dân Thiên Chúa, cho phép chúng ta nhận ra ý nghĩa của việc chúng ta có Don Bosco là Cha của chúng ta.

* Đây là cơ hội cho chúng ta tri ân Thiên Chúa vì hai trăm năm sau ngày sinh của Don bosco, chúng ta có mặt ở đây như là món quà Chúa trao ban cho giới trẻ. Một cơ hội để trân quý sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử chúng ta, vì chúng ta có thể nhận ra rằng Ngài (Thiên Chúa của Sự Sống) đã luôn đi trước chúng ta.

* Thôi thúc chúng ta dấn thân hơn nữa với quyền năng của Tin Mừng, hướng tới tới cách riêng giới trẻ và những em nghèo hèn hơn cả trong chúng, những em không vì lỗi của chúng nhưng đã bị loại ra khỏi lễ mừng cuộc đời.

* Đây là cơ hội thuận tiện để nói lại một lần nữa tầm quan trọng hiện hành của một đoàn sủng nằm ngay trung tâm những vấn đế ngày nay, cách riêng những vấn đề của thế giới người trẻ. Bởi lẽ Don Bosco ngày nay vẫn còn có cái gì đó để nói và đề nghị cho giới trẻ trên thế giới, dẫu rằng hoàn cảnh và bối cành có thể thay đổi, nhưng con tim của những người trẻ, của từng người trẻ vẫn tiếp tục đập theo cùng một nhịp hứng khởi mở ra cho Sự Sống.

* Đoàn sủng Salêdiêng đã là và vẫn còn là một hồng ân Chúa trao ban cho thế giới khi Ngài chọn Don Bosco cho mục đích này. Vì thế, chúng ta đầy xác tín nhấn mạnh đến sự kiện Don Bosco là một ân ban cho Giáo Hội và toàn thể nhân loại.[34] Qua giòng thời gian, ngài đã được đào tạo, từ buổi đầu cuộc đời trong vòng tay của Mẹ Margarita, qua tình thân với những vị thày tốt lành dạy cho biết sống, và trên hết, qua việc hàng ngày sống với thanh thiếu niên, nhờ họ, cõi lòng ngài được uốn nắn ngày qua ngày, giúp ngài ngày càng tận hiến cho Thiên Chúa, cho con người và cho chính những người trẻ.

Cử hành Lễ Mừng Hai Trăm Năm trong Tu Hội và Gia Đình Salêdiêng chúng ta có nghĩa là sống như lời Thánh Phaol nhắn nhủ Timôthê, xin người “hãy làm bùng cháy lên Hồng Ân Thiên Chúa ban tặng.” Như thế, mỗi khi một Salêdiêng, một thành viên Gia Đình Salêdiêng chúng ta sống tròn đầy ơn gọi của mình, thì họ lại trở thành hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho thế giới.

Cử hành Lễ Mừng Hai Trăm Năm trong tình thân gia đình của chúng ta (mỗi cộng thể và mọi cộng thể đều phải cử hành) có nghĩa là hãy để bản thân chúng ta tiếp nhận thách đố sống và sống thế nào để ta có thể nói với mình với đôi mắt mở to trong sáng là “sự thánh thiện của những người con làm chứng về sự thánh thiện của Người Cha.”[35]

Lễ cử hành này cũng có nghĩa là nhớ lại lịch sử hai trăm năm của biết bào những người nam nữ dâng hiến cuộc đời sống theo lý tưởng này ở mức độ thường là anh hùng, trong những hoàn cảnh và thời điểm cực kỳ khó khăn ngặt nghèo. Đây quả là một kho báu vô tận mà chỉ có Chúa mới biết được giá trị đích thực và chúng ta dâng hiến cho Ngài.

Chúng ta thuộc về số những người tin rằng năm 1815, cậu bé Gioan Bosco được sinh ra và được Thiên Chúa tuyển chọn, là năm khởi đầu của một loạt dài những chứng nhân và như Don Bosco, với muôn mầu sắc đầy hy vọng, chúng ta muốn dấn thân góp phần vào việc viết lên tương lai cho cuộc sống, cuộc sống của những tín hữu, của thanh thiếu niên và những em nghèo khổ nhất trong số này.

Sau cùng, để khỏi quá dài, cha muốn nhấn mạnh tính độc đáo trong đoàn sủng Salêdiêng là khía cạnh được biết đến với tên gọi Hệ Thống Dự Phòng vốn vượt lên trên cả một phương pháp giáo dục. Đó là một đường lối linh đạo đích thực và phong phú, một con được phi thường hiểu biết ý nghĩa cuộc đời theo quan điểm của Thiên Chúa,và như thế, đó là một hồng ân vĩ đại Tu Hội và Gia Đình Salêdiêng cống hiến cho Giáo Hội. Cha sẽ viết nhiều hơn về điều này trong lá thư giải thích hoa thiêng vào cuối năm nay.

8." CHÚNG TA HÃY DÀNH MỘT CHỖ CHO ĐỨC MẸ TRONG NHÀ CHÚNG TA": "Và từ giờ phút đó, người môn đệ đem Người về nhà mình" (Ga 19:27)

Cha muốn kết thúc lá thư luân lưu đầu tiên này với những lời của chính Cha E.Vigano trong lá thư đầu tiên ngài viết về Đức Maria, Đấng canh tân Gia Đình Salêdiêng Don Bosco.[36] Cha Viga nò nói cho chúng ta rằng vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh năm đó, cha lắng nghe bài đọc Thánh Gioan tường thuật về cái chết của Chúa Giêsu, với Đức Maria và người Môn Đệ ở dưới chân thập giá, ngài đã bị tác động mạnh với niềm xác tín thôi thúc ngài nói: Đúng thế! Chúng con phải lấy lại quả quyết của Thánh sử làm chương trình canh tân của chúng con: “Hãy đưa Đức Maria về nhà mình.

Don Bosco ý thức sâu sắc sự hiện diện cá vị của Đức Maria trong cuộc đời của ngài, trong ơn gọi và sứ mệnh tông đồ của ngài. “Đức Maria rất thánh là người sáng lập và nâng đỡ công cuộc chúng ta,”[37] và chúng ta Salêdiêng, thuộc về Gia Đình Salêdiêng chúng ta, hết sức thâm tín vai trò đặc biệt của Đức Maria trong cuộc đời Don Bosco và Tu Hội. Đối với Don Bosco, Đức Maria là người Mẹ quan tâm đến các thanh thiếu niên của ngài và là người thày thiêng liêng của chúng. Đối với bản thân ngài, người luôn luôn là người Mẹ mà ngài hết lòng đơn thành và chân thật sùng mến.

Cùng lúc đó, như là nhà giáo dục và nhà huấn giáo đích thực, Don Bosco đã thành công bảo đảm được bầu khí gia đình được phát huy nhờ sự hiện diện từ mẫu của Mẹ Maria trong nhà Valdocco,  ngôi nhà của thanh thiếu niên của ngài.

Ngày nay, hai trăm năm sau ngày sinh của Don Bosco, chúng ta có thể nói rằng lòng sùng kính Đức Maria, cách riêng là Đức Mẹ Phù Hội Các Giáo Hữu, quả thực là một cấu tố hình thành nên “hiện tượng Salêdiêng”trong Giáo Hội, và

Làm nên một phần đoàn sủng chúng ta: lòng sùng kính ấy thấm nhập và ban sinh lực cho đoàn sủng này.

Nguyện xin Đức Maria, Người Nữ lắng nghe, Người Mẹ của cộng đoàn mới và Người Tôi Tớ phục vụ những người nghèo khổ đồng hành và chúc lành cho chúng ta. Chúng ta dâng kính người lời kinh của Đức Phanxico:[38]

Lạy Ngôi Sao Tân Phúc Âm Hóa

Xin giúp chúng con chiếu sáng rực rỡ chứng tá tình hiệp thông, sự phục vụ, đức tin nhiệt thành và quảng đại, công bằng và yêu thương người nghèo khổ,

để niềm vui Tin Mừng được đạt tới tận cùng trái đất,

và không vùng ven nào bị thiếu vắng ánh sáng này.

Lạy Mẹ Tin Mừng hằng sống,

nguồn mạch niềm vui cho những kẻ bé nhỏ,

xin cầu cho chúng con.

Amen. Alllelui

Thân ái chào thăm tất cả anh em,

Angel FERNANDEZ ARTIME, SDB

Bề Trên Cả

 

 



[1]  Thư Luân Lưu Cha Micae Rua gửi cho các Salêdiêng, Direzione Generale Opere Don Bosco, Torino,1965, tr. 25.

[2]  Sđd.,  tr. 26.

[3]  Sđd.,  tr. 27.

[4] Thư Luân Lưu Don Bosco gửi cho các Salêdiêng, Direzione Generale Opere Don Bosco, Torino 1965, tr. 6

[5]  Sđd.,  tr. 8.

[6]  Sđd.,  tr. 13.

[7]  Sđd.,  tr. 13.

[8]  Công Báo Thượng Hội Đồng Tu Hội Salêdiêng, Năm III,  s. 14, 1922, tr. 4.

[9]  Sđd.,  tr. 4-5.

[10]  Công Báo Thượng Hội Đồng Tu Hội Salêdiêng, Năm XIII, n. 58, 1932, tr. 2.

[11]  Công Báo Thượng Hội Đồng Tu Hội Salêdiêng, Năm XXXII, n.169,1952, tr. 2 .

[12]  Sđd., tr. 3.

[13]  Công Báo Thượng Hội Đồng Tu Hội Salêdiêng, Năm XLVI,n.262, tr. 2

[14]  Sđd.,  tr. 4.

[15]  Sđd.,  tr. 5.

[16]  Sđd.,  tr. 5.

[17] Công Báo Thượng Hội Đồng Tu Hội Salêdiêng, Năm LVII, 1978, n.289, tr.  3.

[18]  Sđd.,  tr. 2.

[19]  Công Báo của Ban Tổng Cố Vấn, Năm LXXXIII, n.379, tr. 3. 

[20]  Sđd.,  tr. 4.

[21]  GC27, Dẫn nhập, tr. 21, trong Gioan Phaolo II, ‘Đời Sống Thánh Hiến’, s. 93: “Vì thế, đời sống thiêng liêng phải là ưu tiên . . . Hiệu năng tông đồ, tình yêu quảng đại đối với người nghèo và khả năng thu hút các ơn gọi giữa thế hệ trẻ hệ tại ở mức độ ưu tiên và sự tăng trưởng của đời sống thiêng liêng nơi nỗ lực của cá nhân và cộng thể.

[22]  Đoạn trích dẫn chính xác như sau: “Cốt lõi căn tính và lẽ sống của đời tu và mọi cuộc đời Kitô hữu là kinh nghiệm về Thiên Chúa. Ta có thể nói đến kinh nghiệm về Thiên Chúa, đức tin triệt để, tính ưu tiên tối thượng của Nước Chúa và Đức Công Chính của Ngài, sống đời sống theo hướng cánh chung . . . Từ ngữ nào cũng không quan trọng. Điều quan trọng là luôn ghi nhớ rằng kinh nghiệm cốt lõi này đem lại toàn bộ ý nghĩa cho lối sống này; nó là cái đem lại phẩm chất cuộc sống cho các thành viên và bảo đảm rằng ở đây là vấn đề ơn gọi chứ không đơn giản là vấn đề nghề nghiệp. Bất kỳ câu hỏi nào về phẩm chất đời tu chính là câu hỏi về phẩm chất kinh nghiệm đức tin.” (dịch từ FERNANDO PRADO (ed.), Adonde el Senhor nos lleve, P.Claretiane, Madrid, 2004, 31). 

[23]  In nghiêng cụm từ này là vì cha cố tình nhấn mạnh tầm quan trọng. Tác giả không có nhấn mạnh như thế. 

[24]  J. M. ARNAIZ, ! Que ardan nuestros corazones. Devolver el encanto a la vida consagrada!,  Publicaciones Claretianas, Madrid, 2007, 95

[25]  Ban Tổng Cố Vấn Salêdiêng, Roma, 1971, Công Báo số 351.

[26]  Sđd.,  s. 597, trích BM XI, 364-365.

[27]  Sđd.,  n.597, trích dẫn BM XVII, 250.

[28]  x. TTN 25, s.55. Cha nhấn mạnh.

[29]  TTN 27, s.52, trích Xh 3,2 và  “Niềm Vui của Tin Mừng”, s.169.

[30]  Gioan Phaolô II, Diễn Văn cho các Thành Viên Tổng Tu Nghị, in TTN 23, s. 331.

[31]  X. Niềm Vui của Tin Mừng, s.111, 115 và 120.

[32]  TTNĐB, s. 477.

[33]  C. 1, cf. MO, 16

[34]  Như Đức Phanxico nói trong NiềmVui Của Tin Mừng số 130: “Chúa Thánh Thần cũng làm phong phú toàn thể Giáo Hội truyền giáo với những đoàn sủng khác nhau. Những hồng ân này là để canh tân và xây dựng Giáo Hội. Chúng không phải là gia sản để duy trì cho an toàn và kín thác cho một nhóm nhỏ để mà bảo vệ; (…). Một trong dấu chỉ chắc chắn cho tính chân thật của một đoàn sủng là tính cách Giáo Hội của nó, khả năng đoàn sủng ấy được hội nhập hài hòa trong đời sống của dân thánh thiện và trung thánh của Chúa vì lợi ích cho mọi người..”

[35]  Lời khuyên từ một Cộng Tác Viên đạo đức và quảng đại Don Bosco trích dẫn thành lời cảnh giác trong lá thư đề ngày 8 tháng 1, 1888, sáu ngày sau khi Don Bosco qua đời. Lá thư này được gửi đến giám đốc các Nhà Salêdiêng xin cầu nguyện cho Don Bosco. x. Lettere circolari di Don Michele Rua ai salesiani, Direz. Generale Opere Don Bosco, Turin, 1965, tr. 14.

[36]  Công Báo Ban Tổng Cố Vấn Tu Hội Salêdiêng, năm LVII, s.289, tr. 4

[37]  Preventive System. Regulations, s.92.

[38]  Niềm Vui của Tin Mừng, s. 288. 

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %