• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


Ngày 14.02: Kẻ điếc-ngọng có thể nghe và nói được

Trong Tin mừng hôm nay, Đức Giê-su đã chữa lành kẻ điếc và ngọng qua việc dùng những ngón tay, nhổ nước bọt, thở dài và lời phán “Ép-pha-tha”. Phép lạ này xảy ra trên miền đất dân ngoại, khiến mọi người có mặt ở đó “vô cùng sửng sốt”. Đức Giê-su muốn tỏ cho thấy Người có quyền năng chữa lành, có lòng thương xót, tình yêu và muốn cứu độ con người. Chắc chắn đây chẳng phải là một “sô” trình diễn.

Với phép lạ này, nhiều người dân ngoại đã tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Trái lại, những người Do thái như các học giả kinh thánh, lại chẳng thiết tha gì đến. Một số phép lạ chữa lành của Đức Giê-su xảy ra chỉ qua lời phán truyền của Người. Những người Do Thái dầu nghi ngờ về “tài làm phép lạ” của Đức Giê-su, nhưng họ cũng đổ xô đến mong được chạm đến gấu áo của Người (Mát-thêu 14,36).

Các người ki-tô ngày này dầu không đòi phải có những mạc khải đặc biệt hay những phép lạ, nhưng chúng ta cũng chạy đến với Đức Giê-su. Trong thánh lễ, Đức Giê-su ngỏ lời với chúng ta qua Kinh thánh, sự giảng giải Lời Người, và qua việc cử hành Thánh Thể. Tất cả những điều này nâng đỡ đời sống tinh thần của chúng ta trong cuộc sống lữ hành trần gian.

Chúng ta hãy cầu xin để những người chưa tin hay không tin vào Thiên Chúa, biết đón nhận sự can thiệp của Thiên Chúa trong cuộc sống của họ, cũng như biết can đảm đến với niềm tin đó.

 Lawrence Martone, OCDS 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

 

Ngày 10 tháng 02: "Nhiều người đã được chữa lành"

Tin Mừng Mác-cô 6:53-56

Suy Niệm: Bạn có nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của bạn? Tin mừng thuật lại rằng khi Đức Giê-su ra khỏi thuyền, dân chúng lập tức nhận ra Người. Dân chúng nhận ra nơi Đức Giê-su điều gì? Một vị tiên tri, một người chữa bệnh tài giỏi, một Đấng Cứu Thế, hay là Con Thiên Chúa? Hẳn rằng họ nhận thấy Đức Giê-su là Đấng có quyền năng từ Thiên Chúa để chữa lành mọi người, cả bệnh tật thể xác lẫn tội lỗi trong tâm hồn. Điều gì đã xảy ra khi họ chen lấn để có thể chạm được đến áo của Người? Tất cả họ đều được chữa lành. Vậy thì rõ ràng Đức Giê-su là Đấng luôn sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của chúng ta. Thế nhưng chúng ta có đến cùng Người với lòng cậy trông tin tưởng?

Đức tin hoàn toàn là ân huệ nhưng không mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua quyền lực của Chúa Thánh Thần. Tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa hành động trong cuộc sống chúng ta luôn là chuyện có thể nhờ qua ơn sủng và sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Đấng có thể biến đổi lòng dạ chúng ta và quy hướng nó về Thiên Chúa. Thánh Thần mở mắt của tâm hồn và giúp chúng ta hiểu biết, chấp nhận và tin tưởng vào Lời của Thiên Chúa. Làm thế nào để chúng ta tăng trưởng trong đức tin? Thưa rằng qua việc lắng nghe lời Thiên chúa với sự phó thác và vâng phục. Đức tin cũng được tăng trưởng nhờ qua sự thử thách và kiên trì. Thiên Chúa muốn dạy chúng ta cầu nguyện trong niềm tin để đón nhận thánh ý của Người trong cuộc sống chúng ta, cũng như đón nhận những gì Người muốn trao ban cho chúng ta để giúp chúng ta trung thành đi theo và phục vụ Người cách quảng đại. Đức Giê-su đã dạy các môn đệ một lời kinh hoàn hảo, qua đó chúng ta nhận biết Thiên Chúa là Cha, Đấng luôn quan phòng cách quảng đại đối với các con cái Người. Lời kinh này nói cho chúng ta phải tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước, cầu xin để thánh ý Người được hoàn tất trong cuộc sống chúng ta. Về phần mình, Thiên Chúa ban cho chúng ta tất cả những gì cần thiết để mỗi ngày sống, chúng ta biết làm mọi sự vì vinh danh Chúa. Thiên Chúa không bao giờ xa cách chúng ta. Người không bao giờ quá bận mà không muốn đến gặp gỡ chúng ta cũng như ban phước lành cho chúng ta. Bạn có biết cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha với lòng tin tưởng rằng Người sẽ tỏ cho bạn biết thánh ý của Người, và ban cho bạn những gì cần thiết để đi theo Người? Bạn hãy xin Thiên Chúa gia tăng đức tin và lòng biết ơn của bạn trước tình yêu thương xót và sự tiên liệu mọi sự cho cuộc sống của  bạn.

“Lạy Chúa Giê-su, xin làm cho lòng con rộn ràng vui sướng trước thánh nhan Người. Xin ban cho con đôi mắt đức tin để nhận ra sự hiện diện của Người và tuôn đổ xuống lòng con đầy tràn Thánh Thần, Đấng mà nhờ Người, con có thể bước đi trong đường lối tình yêu và an bình của Người.”

Thánh Vịnh 132:6–10 

6  Ngày đây khi ở Ép-ra-tha, chúng tôi tìm thấy hòm bia đó tại cánh đồng Gia-a. 

7  “Nào ta tiến vào nơi Chúa ngự, phủ phục trước bệ rồng.” 

8  Lạy Chúa, xin đứng dậy, để cùng với hòm bia oai linh Chúa, ngự về chỗ nghỉ ngơi. 

9  Ước chi hàng tư tế của Ngài mặc lấy sự công chính, kẻ hiếu trung với Ngài được cất tiếng hò reo. 

10 Vì vua Đa-vít, trung thần của Chúa, xin đừng xua đuổi đấng Chúa đã xức dầu phong vương.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Ngày 07 tháng 02: Lương tâm tội lỗi của Hê-rô-đê

Tin Mừng Mác-cô6:14-29

Suy niệm: Có bao giờ bạn bị ám ảnh bởi một lỗi lầm trong quá khứ? Vua Hê-rô-đê, một nhân vật giàu có và quyền lực nhất trong vùng đất Giu-đê-a, đã có tất cả những gì ông muốn, ngoại trừ một lương tâm trong sáng và sự an bình với Thiên Chúa. Hê-rô-đê rất trọng nể Gioan Tẩy Giả như một vị đại ngôn sứ và là người tôi tớ của Gia-vê Thiên Chúa.

Còn Gio-an thì không sợ hãi khi lên tiếng quở trách vua Hê-rô-đê về dám lấy chị dâu của mình làm vợ. Ông đã kết thúc cuộc đời trong ngục tù vì sự ghen ghét của Hê-rô-di-a.

Do muốn làm hài lòng gia đình của mình cũng như vị nể các khách dự tiệc, Hê-rô-đê đã ra lệnh chặt đầu Gio-an ở trong ngục. Từ đó, lương tâm của Hê-rô-đê cắn rứt ông mỗi khi nghe nói đến chuyện Gioan Tẩy Giả đã sống lại.

Khi nghe biết về danh tiếng của Đức Giê-su, Hê-rô-đê giả định rằng đó chính là Gio-an Tẩy Giả mà ông đã chém đầu, nay đã sống lại. Thật bất hạnh cho Hê-rô-đê vì ông không thể quên được tội mà ông đã làm đối với con người đã từng lên tiếng quở trách tội lỗi của ông. Ông thực là một con người yếu đuối, vì không đủ mạnh để dứt khoát với những điều sai trái, một khi ông biết rằng đó là việc phải làm. Đây chính là dấu chỉ cho thấy sự yếu đuối và hèn nhát của ông. Thiên Chúa ban ơn cho những kẻ khiêm tốn, những kẻ nhận biết tội lỗi của mình, rồi tìm đến với Thiên Chúa để xin sự tha thứ và lòng thương xót. Chính ân sủng và sự tha thứ của Thiên Chúa giải thoát chúng ta khỏi tình trạng tội lỗi của lương tâm, để theo đuổi sự thánh thiện trong tư tưởng và trong hành động. Chính ân sủng của Thiên Chúa cho phép chúng ta chiến đấu chống lại sự sợ hãi, chiến thắng cơn cám dỗ muốn thỏa hiệp với sự dữ và sai lầm.

Bạn có thực sự biết cậy dựa vào ơn sủng và sự trợ giúp của Thiên Chúa để chọn lựa lối đường thánh thiện và loại bỏ tất cả những gì làm phương hại đến niềm tin và sự trung thành với Đức Ki-tô?

Lời cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa Cha trên trời, xin hãy biến đổi con nên giống Người Con yêu quý của Cha qua việc noi gương bắt chước Người trong lời nói và hành động. Xin giúp con sống trung thành với tin mừng, và ban cho con sức mạnh cũng như sự can đảm cần thiết để đương đầu với những cám dỗ và những nghịch cảnh.

Thánh Vịnh 18:31, 47, 50-51

31 Đường lối Thiên Chúa quả là toàn thiện. Lời Chúa hứa được chứng nghiệm tỏ tường. Chính Người là khiên che thuẫn đỡ cho những ai ẩn náu bên Người.

48 Đức Chúa vạn vạn tuế! Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn.

50 Vì thế giữa muôn dân, con cất lời cảm tạ.

51 Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Người đã lập. Chúa hằng ưu ái Đấng Người đã xức dầu tấn phong, là Đa-vít cùng dòng dõi đến muôn đời.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Ngày 09 tháng 02: "Muối cho đời, Ánh sáng cho trần gian"

Tin Mừng  Matthew 5:13-16

Suy Niệm: Muối và Ánh sáng muốn gợi nhắc cho chúng ta điều gì về Thiên Chúa và sự hiển trị của Người trên trần gian?

Đức Giê-su dùng những hình ảnh rất bình dân như muối và ánh sáng để nói cho chúng ta những chân lý về nước Thiên Chúa. Muối là một mặt hàng rất có giá trị trong thế giới cổ xưa. Người ta buôn bán nó tựa như ngày nay chúng ta buôn bán vàng và thị trường chứng khoán. Trước khi con người phát minh ra điện và máy lạnh, thì muối rất hữu dụng tại những nơi khí hậu nóng nực, vì nó không chỉ được dùng như một thứ gia vị cho thức ăn, nhưng còn được dùng để bảo quản thịt khỏi bị hư thối. Đức Giê-su dùng hình ảnh muối để cho thấy các môn đệ của Ngài cần phải sống ra sao giữa trần gian. Tựa như muối dùng để bảo quản, để làm sạch và có khả năng thẩm thấu, các môn đệ cũng phải trở nên như  muối giữa trần gian để thanh tẩy, bảo tồn và làm cho nước Thiên Chúa cũng như sự công chính và bình an của Đức Ki-tô thấm nhập vào xã hội trần gian.

Đức Giê-su cũng dùng hình ảnh Ánh sáng và ngọn đèn. Trong thế giới cổ xưa, đèn được dùng như một phương tiện cần thiết trong sinh hoạt, giống như chúng ta ngày nay. Chúng giúp con người nhìn thấy và làm việc trong đêm tối, tránh bị trượt chân vấp ngã. Người Do thái cũng hiểu “ánh sáng” như một lối diễn tả vẻ đẹp nội tại, chân lý, và sự tốt lành của Thiên Chúa. “Trong ánh sáng của Người, chúng ta nhìn thấy ánh sáng” (Tv 36,9). “Lời Người là đèn soi bước ta đi” (Tv 119,105). Ân sủng của Thiên Chúa không chỉ chiếu sáng chỗ tăm tối trong cuộc sống chúng ta, nhưng đã làm tâm hồn chúng ta ngập tràn ánh sáng tâm linh, niềm vui và sự bình an. Đức Giê-su dùng hình ảnh cây đèn để diễn ta việc các môn đệ cần phải sống trong ánh sáng của chân lý và tình yêu của Ngài. Tựa như ánh sáng tự nhiên soi chiếu vào những nơi tăm tối khiến chúng ta có thể nhìn thấy mọi sự tỏ tường, thì ánh sáng của Đức Ki-tô cũng soi chiếu tâm hồn các tín hữu và làm cho họ có thể nhìn thấy những thực tại trên trời trong vương quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa. Thực thế, chúng ta có sứ mệnh phải trở thành người mang nơi mình ánh sáng của Đức Ki-tô, để những người khác có thể nhìn thấy chân lý tin mừng và được giải thoát khỏi sự mù lòa của tội lỗi và sự dối trá.

Đức Giê-su nói rằng không có gì có thể che dấu hay giữ kín mãi. Chúng ta có thể cố che giấu nhiều điều khỏi người khác, khỏi bản thân chúng ta, và ngay cả Thiên Chúa nữa. Sao chúng ta lại cố nhắm mắt trước những hậu quả của lối sống tội lỗi và những thói quen xấu nơi bản thân mình, ngay cả khi chúng ta biết rõ những hậu quả sẽ như thế nào. Sao chúng ta lại cố che giấu những điều đó khỏi tha nhân và ngay cả Thiên Chúa nữa. Tuy vậy, Thiên Chúa vẫn biết và nhìn thấy tất cả. Ai sống trong ánh sáng của Thiên Chúa và tìm kiếm chân lý, kẻ đó sẽ có được sự tự do và niềm vui lớn lao. Người biết lắng nghe Thiên Chúa và mau mắn trước lời của Người, sẽ nhận được vô vàn những điều tốt lành từ nơi Thiên Chúa. Bạn có cảm nhận được niềm vui và sự tự do được sống trong ánh sáng của Thiên Chúa chưa?

“Lạy Chúa, xin hướng dẫn con bước đi dưới ánh sáng và chân lý cứu độ của Người. Xin tuôn đổ ánh sáng và chân lý của Người xuống trên tâm hồn và tâm trí con, để giải cứu con khỏi sự mù lòa của tội lỗi và sự gian trá, hầu con có thể nhìn ra lối đường của Người cũng như am tường thánh ý của Người trong cuộc đời con. Xin cũng giúp con biết chiếu tỏa ánh sáng và chân lý của Người cho những người khác qua lời nói và hành động của con”.

Thánh vịnh 112:4-9

4 giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành: đó là người từ bi nhân hậu và công chính. 

5 Phúc cho người biết cảm thương; thiên hạ muôn đời còn tưởng nhớ chính nhân. 

7 Họ không lo phải nghe tin dữ, hằng an tâm và tin cậy Chúa.

8 Luôn vững lòng không sợ hãi chi và rốt cuộc coi khinh lũ địch thù.

9 Kẻ túng nghèo, họ rộng tay làm phúc, đức công chính của họ tồn tại muôn đời, uy thế họ vươn cao rực rỡ.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Chúa Nhật 13 Thường Niên Năm A: Nghịch lý của Thập giá

‘Thập giá Đức Kitô là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta’. Đây là câu châm ngôn mà Đức Cha Lambert de la Motte đã chọn cho mình cũng như cho các nữ tu Hội Dòng Mến Thánh Giá, con cái của Ngài. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói với các môn sinh: “Ai không vác Thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng làm môn đệ Thầy (Mt 10,38).” Con đường Thập giá là con đường duy nhất mà Chúa đã đi qua, đã vạch dẫn và mời gọi chúng ta tiếp bước theo dấu chân của Ngài.

Thập giá - Hình phạt khủng khiếp nhất

Trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô đã viết: “Trong khi người Do Thái đòi tìm dấu lạ, người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh vào Thập giá, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là sự điên rồ” (1Cor 1,22). Thời đế quốc Rôma, Thập giá là khung hình phạt dã man và ghê sợ nhất, chỉ dành cho những phạm nhân bị kết án tử hình. Tên tử tội bị đóng chặt vào hai thanh gỗ và được treo lên cao, nằm phơi thây giữa trời, ngực dãn ra rất khó thở, vừa đói khát, vừa bị lột trần truồng để cho thiên hạ nguyền rủa. Người khỏe nhất cũng chỉ cầm cự tối đa được một đến hai ngày rồi chết. Sau khi chết, xác của họ sẽ bị chim trời đến rúc rỉa và không được đem đi chôn để lòng đất khỏi bị hoen ố do tội lỗi bẩn thỉu họ gây ra. Đế quốc Rôma chỉ sử dụng hình phạt này cho ngoại bang, còn công dân Rôma được miễn. Trong bối cảnh xã hội như thế, người Do Thái xem án phạt này là một sự sỉ nhục, bởi vì họ vẫn coi mình là một dân tộc ưu tú được Chúa tuyển chọn. Còn người Hy Lạp thì nhìn những phạm nhân bị treo lên cây gỗ như là những con người điên điên khùng khùng, không sống theo lý tưởng khôn ngoan của nền triết học mà họ vẫn theo đuổi.

Nhưng, chính Đức Giêsu đã tự nguyện chọn cái chết ô nhục này. Ngài chấp nhận bị dìm xuống tận đáy bùn đen trong xã hội loài người, sống tận căn mầu nhiệm tự hủy để trở nên căn nguyên ơn cứu độ cho chúng ta. Chính vì thế, khi Đức Giêsu phác vẽ viễn ảnh Thập giá mà Ngài sẽ trải qua, các tông đồ không thể chấp nhận, đặc biệt, Phêrô đã kịch liệt cản ngăn. Tuy nhiên, chính nghịch lý của Thập gía đã khai mở cho nhân loại một chân trời mới: Qua Thập giá sẽ đến vinh quang, qua cái chết nhuốc khổ, chúng ta sẽ được sống lại trong khải hoàn.

Đây chính là chân lý mà thánh Phaolô đã nhắc lại trong bài đọc thứ nhất của Phụng vụ hôm nay. Ngài viết: “Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ được cùng sống với người” (Rm 6,8).

Thập giá – Sự chọn lựa duy nhất của các môn đệ

Các môn đệ đã bỏ mọi sự để theo Chúa. Tuy nhiên, cho dầu đã được huấn luyện khá kỹ, các Ngài vẫn không thể hình dung ra con đường Thập giá mà Đức Giêsu hằng luôn mời gọi. Sau khi các học trò bộc bạch: “Thưa Thầy, chúng con đã bỏ mọi sự để theo Thầy”, Chúa mới từ từ cắt nghĩa để họ dần dần cảm thấu được phương thức trở nên môn đệ cách đích thực. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc lại việc từ bỏ cách tuyệt đối, và đây là đòi hỏi gay gắt nhất, sâu xa nhất. “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai không vác Thập gía mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy”. Tình yêu dành cho Chúa Giêsu phải là tình yêu toàn hảo, không suy tính, không đắn đo hơn thiệt. Cũng vậy, một lần khác Chúa còn mạnh mẽ khuyến cáo: “Ai tra tay cầm cầy mà con ngoái lại phía sau, thì không thích hợp với nước Thiên Chúa” (Lc 9,62). Con đường theo Chúa không thể là con đường nửa vời, theo kiểu bắt cá hai tay. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan đã ghi lại mặc khải Chúa ngỏ cho Hội thánh ở Laodakia: “Ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Vì ngươi hâm hẩm không nóng cũng không lạnh, nên ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3,16).

Muốn trở nên môn đệ Chúa, các học trò phải đặt Ngài vào chỗ tối thượng cách tuyệt đối. Họ phải chấp nhận những nghịch lý, nhất là nghịch lý của Thập giá. Đây là điều mà Chúa Giêsu nhấn mạnh trong bài Tin Mừng hôm nay.

Cùng chết với Đức Kitô

Theo Chúa là chấp nhận đi vào lộ trình Thập giá. Mầu nhiệm Thập giá luôn hàm ngậm sự tự hủy, và cái chết trên Thập giá là cao điểm của hành trình tự hủy này. Việc từ bỏ cha mẹ, vợ con, ruộng vườn, v.v.. chỉ là bước khởi đầu, và sự từ bỏ ấy phải đi đến tận căn, tức là từ bỏ ngay cả mạng sống. Vì thế, Chúa Giêsu đã nói với các học trò ngày hôm nay: “Ai tìm giữ mạng sống mình thì sẽ mất, và ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được”.

Trong ánh sáng của mầu nhiệm Phục Sinh, chết không phải là dấu chấm hết, kết thúc cuộc sống con người một cách vô nghĩa. Cũng như Đức Kitô đã can đảm tiến nhận cái chết nhục nhã để khai mở cho chúng ta một chân trời mới, thì cái chết của những ai tin vào Đức Kitô không phải là một cuộc ra đi nhưng là sự trở về, không phải là sự thất bại chua cay, nhưng là một dấu chỉ vinh thắng. Điều này Thánh Phaolô đã nhắc lại trong thư gửi giáo đoàn Rôma mà Giáo hội đọc lên cho chúng ta trong bài đọc 2 hôm nay: “Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ được cùng sống với Người. Thật vậy chúng ta biết rằng, một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người”.

Kết luận

Trên giường hấp hối, chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nói với các chị em trong cộng đoàn: “Em đang chết, nhưng không phải em chết, mà em đang tiến về cõi sống”. Có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ khuôn mặt duyên dáng của nữ tu Cécilia Maria dòng Carmêlô trên giường hấp hối. Ngày 22 tháng 6 năm ngoái, Chị đã chết an bình, đôi môi vẫn còn giữ một nụ cười thật duyên dáng cho dầu chị đang chịu đựng những đau đớn vì căn bệnh ung thư phổi. Sự tươi tắn của chị là dấu chỉ của niềm vui và tình yêu dành trọn cho Chúa Giêsu, như lời thánh nữ Têrêsa đã viết trong cuốn ‘Nhật ký một tâm hồn’: “Ơn gọi của tôi là tình yêu. Tình yêu là tất cả. Ơn gọi của tôi không là gì khác, ngoài tình yêu”.

 

Lm. GB Trần Văn Hào, SDB

Ngày 08 tháng 02: "Hãy lánh riêng ra mà nghỉ ngơi đôi chút"

Tin Mừng Mác-cô 6, 30-34

Suy niệm: Hình ảnh mục tử nói với chúng ta điều gì về sự chăm sóc của Thiên Chúa dành cho chúng ta?

Nghề chăn nuôi vốn là một trong những nghề cổ xưa nhất tại đất Ít-ra-en, ngay cả trước khi họ sống định cư định canh. Dân riêng của Thiên Chúa đã phải di chuyển nay đây mai đó, nên họ thường sống trong những lều bạt và di chuyển cùng với đoàn gia súc từ đồng cỏ này tới đồng cỏ khác. Việc chăm sóc đoàn chiên chẳng phải là một nghề dễ dàng. Nó đòi hỏi người mục tử phải có tài khéo léo và lòng can đảm. Đoàn chiên thường khá nhiều, cả hàng ngàn đến hàng chục ngàn con. Các đoàn vật thường sống ngoài các đồng cỏ, nên việc chăm sóc chúng đòi hỏi các mục tử phải lưu tâm và dành trọn thời gian chăm sóc chúng. Người mục tử phải đi tìm những con chiên lạc bầy và đưa chúng trở lại đoàn. Rồi nào là linh cẩu, chó rừng, hay sói hoặc những loại thú dữ khác cũng muốn tấn công để ăn thịt những con chiên, nên người mục tử phải sẵn sàng chiến đấu với chúng để bảo vệ đoàn chiên. Họ cũng phải thức đêm để trông chừng đoàn vật. Như thế chiên và người mục tử luôn chung sống với nhau. Cuộc sống chung này giúp các mục tử nhận biết các chiên của mình, ngay cả khi chúng lạc sang bầy khác, và các chiên cũng nhận biết giọng nói của các mục tử khi họ lên tiếng gọi chúng.

Cựu Ước thường nói đến Thiên Chúa là Mục tử của dân Người là Ít-ra-en. “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23,1) “Lạy Mục tử nhà Ít-ra-en, Ngài là Đấng chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe!” (Tv 80,1) “ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt” (Tv 100,3). Đấng Cứu Thế cũng được mô tả là người mục tử của Dân Chúa: “Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay” (Is 40,11).

Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng Ngài là Người Mục Tử Tốt Lành, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đoàn chiên (Mt 18,12; Lc 15,4; Ga 10). Nên khi nhìn thấy đám đông đang cần đến sự che chở và chăm sóc, Ngài đã cảm thương họ. Tình yêu của Ngài dành cho mỗi người và từng người chạy đến với Ngài để cầu mong sự trợ giúp. Thánh Phê-rô tông đồ đã gọi Đức Giê-su là “Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (1Pr 2,25). Bạn có biết sự bình an và an toàn của một cuộc sống hoàn toàn phó thác cho Đức Giê-su, vị Mục tử nhân lành chưa? Nơi con người của Đức Giê-su, chúng ta nhận thấy sự tỉnh thức canh phòng và sự kiên nhẫn của tình yêu Thiên Chúa. Trong cuộc chiến chống lại tội lỗi và sự dữ, Đức Giê-su sẵn sàng ban cho chúng ta sự trợ giúp, sức mạnh, và nơi ẩn náu an toàn. Bạn có tín thác vào ân sủng và sự trợ giúp của Ngài mọi nơi mọi lúc?

“Lạy Đức Giê-su, xin canh phòng và bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Xin giúp con kiên vững trong lời của Ngài, luôn tín thác vào sự trợ giúp của Ngài trong mọi hoàn cảnh. Xin cho con luôn tìm được nơi ẩn náu và nghỉ an dưới sự che chở của Ngài.”

Thánh vịnh 119:9-14

9 Làm thế nào giữ được tuổi xuân trong trắng? Thưa phải tuân theo lời Chúa dạy.

10 Lạy Chúa, con hết dạ kiếm tìm Ngài; xin chớ để con làm sai mệnh lệnh Chúa! 

11 Lời Chúa hứa, lòng con ấp ủ, để chẳng bao giờ bội nghĩa bất trung.

12 Lạy Chúa, con dâng lời ca tụng, thánh chỉ Ngài xin dạy cho con!

13 Môi con hằng nhẩm đi nhắc lại, các quyết định miệng Ngài phán ra.

14 Tuân theo thánh ý Ngài, con vui sướng, hơn là được tiền rừng bạc bể.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tiền Hô: Người Phải Lớn Lên Còn Tôi Phải Nhỏ Lại

Có một chàng thanh niên nọ một mình lang thang giữa sa mạc nóng cháy. Anh ta bực mình vì đi đến đâu, luôn có một cái bóng bám theo đến đó, đó là cái bóng của chính anh ta. Anh ta đi, cái bóng cũng đi, anh ta chạy cái bóng cũng chạy, anh đứng, cái bóng cũng dừng lại. Chàng thanh niên muốn thoát khỏi cái bóng ấy nhưng không biết phải làm cách nào. Anh tìm đến một vị đạo sỹ để thỉnh ý. Vị hiền sỹ trả lời: “Nếu muốn thoát khỏi cái bóng của chính mình, anh hãy đến ẩn náu dưới một cái bóng khác lớn hơn”.

Thánh Gioan tiền hô là người luôn ẩn dấu cái bóng mờ nhạt của mình dưới một cái bóng khác cao cả hơn, vĩ đại hơn, đó là bóng dáng Thập giá Chúa Giêsu. “Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại”. Đây là câu châm ngôn mà Thánh Gioan đã chọn lựa và thực hành trong suốt cuộc sống của mình.

Tiếng hô trong sa mạc

Gioan tiền hô là vị ngôn sứ cuối cùng của cựu ước. Ngài là nhịp cầu kết nối giữa Cựu và Tân ước. Gioan tự ví mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Tiếng kêu vang vọng lại lời, còn Đức Giêsu chính là ‘Ngôi Lời’ đã đến trần gian. Thánh nhân chỉ là kẻ dọn đường, còn Đức Giêsu là chính ‘Con Đường’ để dẫn đưa chúng ta tiến về quê trời. Gioan đã công khai minh xác rằng: “Tôi không phải là Đấng Kitô. Có người đến sau tôi nhưng cao trọng hơn tôi, còn tôi, tôi không đáng cúi xuống xách dép cho Ngài” (Mc 1,6). Gioan đã chủ động làm lu mờ cái bóng mờ nhạt của mình để cho Đức Giêsu được lớn lên và trổi vượt. Khi Đức Giêsu bắt đầu ‘xuất du’ đi rao giảng công khai, Gioan tiền hô đã rút lui vào trong bóng tối của tù ngục. Suốt cuộc đời, Gioan đã thể hiện điều mà Ngài đã tâm đắc: “Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại”. Vì thế, Đức Giêsu đã đề cao mẫu gương của Gioan khi nói với các môn sinh: “Trong các phàm nhân được sinh ra, không ai cao trọng hơn ông Gioan” (Mt 11,11).

Can đảm nói sự thật

Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta gặp không biết bao là gian dối và lừa lọc ở mọi lãnh vực, mọi cấp độ và mọi hạng người. Thiên hạ vẫn hay nói ‘Thẳng thắn, thật thà, thành thua thiệt’. Lương tâm con người ngày nay dễ trở thành xơ cứng khi cứ tha hồ gian dối mà chẳng cảm thấy áy náy chút nào. Nhà văn Lưu Quang Vũ trong vở kịch ‘Tôi và chúng ta’ đã mỉa mai nói rằng, con người đã trải qua 3 thời kỳ: thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ đồng, và ngày nay là thời kỳ đồ đểu’. Sự ngay thật hình như đang thoái trào để cho sự lừa lọc, gian dối và đểu cáng lên ngôi. Đây là một sự thật nhức nhối mà chúng ta thấy nhan nhản ở khắp nơi.

Nơi thánh Gioan thì không phải vậy. Ngài đã cam đảm nói lên sự thật, cho dù phải trả giá rất đắt. Sự thẳng thắn đã khiến Ngài bị biệt giam trong tù và cuối cùng bị chém đầu do bàn tay của vua Hêrôđê. Cái chết của thánh Gioan là một cái chết tử đạo đúng nghĩa, vì Ngài đã can đảm nói lên sự thật. Tử đạo, theo nguyên ngữ Hy Lạp, ‘Maturion’, có nghĩa là làm chứng. Thánh Gioan đã đón nhận cái chết phũ phàng, giống như cái chết của Đức Giêsu và cái chết ấy là một cuộc tử đạo với ý nghĩa tròn đầy.

Ngày 27/04/1945, Đức quốc xã thất trận và rút quân về biên giới Italia. Họ tức giận vì bị quân đồng minh đẩy lùi ra khỏi cuộc chiến. Để trả thù, quân phát xít đi vào các làng mạc để cướp bóc, đốt phá và lùng bắt các Kitô hữu. Trước tình cảnh này, Cha Decande, một linh mục hiền lành và thánh thiện đã tự nguyện đứng ra điều đình để bảo vệ dân làng Fiatsa, giáo xứ nơi Ngài phụ trách. Vừa thấy Ngài, quân lính xông tới trói lại và quyết định xử bắn vị mục tử đáng kính. Ngài can đảm chấp nhận và phó thác cho Chúa. Một tiểu đội hành quyết được huy động. Vị cha già khả kính vẫn bình thản chờ đợi. Bỗng từ hàng lính đang chĩa súng vào vị linh mục, có một chàng trai trẻ từ từ bước ra. Anh ta buông súng xuống và dõng dạc nói: ‘Tôi là một người Công giáo, tôi không bao giờ bắn vào một linh mục, một người của Chúa’. Viên sỹ quan tái mặt và ra lệnh trói luôn người lính bên cạnh vị Cha già thánh thiện kia. Một vài phút sau, một loạt đạn vang lên. Cả hai bóng người ngã xuống. Dân làng Fiatsa không biết người lính trẻ kia tên là gì, nhưng họ nhớ mãi gương mặt hiền lành của chàng trai. Khi chôn cất thi hài, họ tìm thấy trong túi áo của người lính một cỗ tràng hạt. Chắc chắn Đức Mẹ đã dẫn đưa anh ta về với Chúa, vì cái chết của anh quả thật là cái chết tử đạo. Đây là một con người đã can đảm làm chứng cho sự thật.

Giáo hội thiết lập phụng vụ mừng sinh nhật của Thánh Gioan tiền hô, cũng thiết lập phụng vụ kính nhớ việc thánh nhân bị chém đầu. Ngài đã chết để làm chứng cho sự thật, và sự thật tuyệt đối là chính Đức Giêsu, như Chúa đã công bố: “Tôi là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Cái chết tử đạo của thánh Gioan đã hàm ngậm ngay từ khi Ngài mới được sinh ra. Lộ trình tử đạo ấy đã trải dài trong suốt cuộc sống khi Ngài chọn cho mình câu châm ngôn ‘Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại’.

Hành trình ơn gọi của thánh Gioan tiền hô

‘Đứa trẻ này rồi sẽ ra sao và quả thật, có bàn tay Chúa luôn phù hộ em’ (Lc 1,66). Đây là nhận định của nhiều người trong ngày thánh Gioan chào đời, được thánh sử Luca ghi lại. Tương lai của đứa trẻ ấy sẽ như thế nào, không ai biết. Tương lai của mỗi người chúng ta cũng vậy, chẳng ai có thể tiên đoán. Nhưng, hành trình ơn gọi của Gioan cũng như của chúng ta sẽ luôn đi đúng hướng nếu có bàn tay Thiên Chúa luôn ở cùng. Thiên Chúa là Đấng khởi xướng và mời gọi chúng ta tiếp bước theo Ngài. Ngài luôn ở bên chúng ta, và bàn tay yêu thương của Ngài luôn dẫn lối để chúng ta tiến bước. Nếu thoát ra khỏi vòng tay thân thương ấy và sống cô lẻ một mình, chúng ta sẽ vấp ngã. Gioan tiền hô thì không. Ngài cảm nhận ra ơn gọi và sứ mạng được Thiên Chúa trao phó nên đã nói với mọi người “Tôi chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Có người đến sau tôi nhưng cao trọng hơn tôi. Tôi chỉ đáng xách dép cho Ngài” (Mc 1,7).

Mỗi người chúng ta đều được Thiên Chúa trao ban một ơn gọi. Sống hoàn thiện ơn gọi đó, chúng ta sẽ vươn đạt tới sự thánh thiện. Trái lại nếu chúng ta chối từ lời mời gọi của Thiên Chúa, chúng ta sẽ rơi vào diệt vong.

Kết luận

Trong phụng vụ, Giáo hội chỉ mừng kính 3 lễ sinh nhật: Sinh nhật Chúa Giêsu, sinh nhât Đức Maria và sinh nhật của Thánh Gioan tiền hô. Lý do như Đức Giêsu đã nói: “Trong các phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa thấy ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy gỉa (Mt 11,11). Chúa còn sánh ví Gioan như ngôn sứ Êlia. Tuy nhiên, điểm nhấn của phụng vụ hôm nay là Giáo hội muốn chúng ta nhìn vào cuộc hành trình ơn gọi của thánh nhân như một tấm gương. Đó là một con người luôn sống khiêm hạ, ẩn dấu cái bóng bé nhỏ của mình dưới một cái bóng khác lớn hơn. “Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại”. Cuộc sống ơn gọi của thánh Gioan là hình mẫu để cho chúng ta noi theo.

Lm. GB Trần Văn Hào, SDB

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %