• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


Ngày 15.02: Nuôi 4.000 người ăn no

Mác-cô 8,1-10

Trong Tin mừng hôm nay, các tông đồ chỉ có 7 chiếc bánh và vài con cá, nhưng lại đủ để nuôi 4.000 người ăn no nê, một điều chỉ có thể xảy ra qua phép lạ của Đức Giê-su Ki-tô.

Chúng ta thấy hay biết những người khác phải đói khát trong mỗi ngày sống, nhưng có lẽ chưa bao giờ phải đối mặt với một con số đông đến 4.000 người trong cùng một thời điểm! Băng qua một con phố đông đúc, chúng ta nhận thấy tha nhân đói khát một nụ cười, một đôi phút trong quỹ thời gian của chúng, hay cần một ai đó lắng nghe, cần một sự trợ giúp cụ thể nào đó... Và trong suốt cuộc đời, với ơn Chúa giúp, có lẽ chúng ta cũng có thể giúp đỡ cho hằng ngàn người.

Thế nhưng điều quan trong mà Tin mừng ngày hôm nay nói đến là việc Đức Giê-su giải tán đám đông, rồi cùng với các môn đệ xuống thuyền. Điều này cho thấy Đức Giê-su vẫn luôn ở bên chúng ta, trong “chiếc thuyền” của cuộc đời chúng ta. Ngài luôn sẵn sàng trợ giúp chúng ta trong việc “cho đám đông dân chúng ăn”.

 Joan Murphy, OCDS

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

 

Ngày 14.02: Kẻ điếc-ngọng có thể nghe và nói được

Trong Tin mừng hôm nay, Đức Giê-su đã chữa lành kẻ điếc và ngọng qua việc dùng những ngón tay, nhổ nước bọt, thở dài và lời phán “Ép-pha-tha”. Phép lạ này xảy ra trên miền đất dân ngoại, khiến mọi người có mặt ở đó “vô cùng sửng sốt”. Đức Giê-su muốn tỏ cho thấy Người có quyền năng chữa lành, có lòng thương xót, tình yêu và muốn cứu độ con người. Chắc chắn đây chẳng phải là một “sô” trình diễn.

Với phép lạ này, nhiều người dân ngoại đã tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Trái lại, những người Do thái như các học giả kinh thánh, lại chẳng thiết tha gì đến. Một số phép lạ chữa lành của Đức Giê-su xảy ra chỉ qua lời phán truyền của Người. Những người Do Thái dầu nghi ngờ về “tài làm phép lạ” của Đức Giê-su, nhưng họ cũng đổ xô đến mong được chạm đến gấu áo của Người (Mát-thêu 14,36).

Các người ki-tô ngày này dầu không đòi phải có những mạc khải đặc biệt hay những phép lạ, nhưng chúng ta cũng chạy đến với Đức Giê-su. Trong thánh lễ, Đức Giê-su ngỏ lời với chúng ta qua Kinh thánh, sự giảng giải Lời Người, và qua việc cử hành Thánh Thể. Tất cả những điều này nâng đỡ đời sống tinh thần của chúng ta trong cuộc sống lữ hành trần gian.

Chúng ta hãy cầu xin để những người chưa tin hay không tin vào Thiên Chúa, biết đón nhận sự can thiệp của Thiên Chúa trong cuộc sống của họ, cũng như biết can đảm đến với niềm tin đó.

 Lawrence Martone, OCDS 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Ngày 08 tháng 02: "Hãy lánh riêng ra mà nghỉ ngơi đôi chút"

Tin Mừng Mác-cô 6, 30-34

Suy niệm: Hình ảnh mục tử nói với chúng ta điều gì về sự chăm sóc của Thiên Chúa dành cho chúng ta?

Nghề chăn nuôi vốn là một trong những nghề cổ xưa nhất tại đất Ít-ra-en, ngay cả trước khi họ sống định cư định canh. Dân riêng của Thiên Chúa đã phải di chuyển nay đây mai đó, nên họ thường sống trong những lều bạt và di chuyển cùng với đoàn gia súc từ đồng cỏ này tới đồng cỏ khác. Việc chăm sóc đoàn chiên chẳng phải là một nghề dễ dàng. Nó đòi hỏi người mục tử phải có tài khéo léo và lòng can đảm. Đoàn chiên thường khá nhiều, cả hàng ngàn đến hàng chục ngàn con. Các đoàn vật thường sống ngoài các đồng cỏ, nên việc chăm sóc chúng đòi hỏi các mục tử phải lưu tâm và dành trọn thời gian chăm sóc chúng. Người mục tử phải đi tìm những con chiên lạc bầy và đưa chúng trở lại đoàn. Rồi nào là linh cẩu, chó rừng, hay sói hoặc những loại thú dữ khác cũng muốn tấn công để ăn thịt những con chiên, nên người mục tử phải sẵn sàng chiến đấu với chúng để bảo vệ đoàn chiên. Họ cũng phải thức đêm để trông chừng đoàn vật. Như thế chiên và người mục tử luôn chung sống với nhau. Cuộc sống chung này giúp các mục tử nhận biết các chiên của mình, ngay cả khi chúng lạc sang bầy khác, và các chiên cũng nhận biết giọng nói của các mục tử khi họ lên tiếng gọi chúng.

Cựu Ước thường nói đến Thiên Chúa là Mục tử của dân Người là Ít-ra-en. “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23,1) “Lạy Mục tử nhà Ít-ra-en, Ngài là Đấng chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe!” (Tv 80,1) “ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt” (Tv 100,3). Đấng Cứu Thế cũng được mô tả là người mục tử của Dân Chúa: “Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay” (Is 40,11).

Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng Ngài là Người Mục Tử Tốt Lành, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đoàn chiên (Mt 18,12; Lc 15,4; Ga 10). Nên khi nhìn thấy đám đông đang cần đến sự che chở và chăm sóc, Ngài đã cảm thương họ. Tình yêu của Ngài dành cho mỗi người và từng người chạy đến với Ngài để cầu mong sự trợ giúp. Thánh Phê-rô tông đồ đã gọi Đức Giê-su là “Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (1Pr 2,25). Bạn có biết sự bình an và an toàn của một cuộc sống hoàn toàn phó thác cho Đức Giê-su, vị Mục tử nhân lành chưa? Nơi con người của Đức Giê-su, chúng ta nhận thấy sự tỉnh thức canh phòng và sự kiên nhẫn của tình yêu Thiên Chúa. Trong cuộc chiến chống lại tội lỗi và sự dữ, Đức Giê-su sẵn sàng ban cho chúng ta sự trợ giúp, sức mạnh, và nơi ẩn náu an toàn. Bạn có tín thác vào ân sủng và sự trợ giúp của Ngài mọi nơi mọi lúc?

“Lạy Đức Giê-su, xin canh phòng và bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Xin giúp con kiên vững trong lời của Ngài, luôn tín thác vào sự trợ giúp của Ngài trong mọi hoàn cảnh. Xin cho con luôn tìm được nơi ẩn náu và nghỉ an dưới sự che chở của Ngài.”

Thánh vịnh 119:9-14

9 Làm thế nào giữ được tuổi xuân trong trắng? Thưa phải tuân theo lời Chúa dạy.

10 Lạy Chúa, con hết dạ kiếm tìm Ngài; xin chớ để con làm sai mệnh lệnh Chúa! 

11 Lời Chúa hứa, lòng con ấp ủ, để chẳng bao giờ bội nghĩa bất trung.

12 Lạy Chúa, con dâng lời ca tụng, thánh chỉ Ngài xin dạy cho con!

13 Môi con hằng nhẩm đi nhắc lại, các quyết định miệng Ngài phán ra.

14 Tuân theo thánh ý Ngài, con vui sướng, hơn là được tiền rừng bạc bể.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Ngày 10 tháng 02: "Nhiều người đã được chữa lành"

Tin Mừng Mác-cô 6:53-56

Suy Niệm: Bạn có nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của bạn? Tin mừng thuật lại rằng khi Đức Giê-su ra khỏi thuyền, dân chúng lập tức nhận ra Người. Dân chúng nhận ra nơi Đức Giê-su điều gì? Một vị tiên tri, một người chữa bệnh tài giỏi, một Đấng Cứu Thế, hay là Con Thiên Chúa? Hẳn rằng họ nhận thấy Đức Giê-su là Đấng có quyền năng từ Thiên Chúa để chữa lành mọi người, cả bệnh tật thể xác lẫn tội lỗi trong tâm hồn. Điều gì đã xảy ra khi họ chen lấn để có thể chạm được đến áo của Người? Tất cả họ đều được chữa lành. Vậy thì rõ ràng Đức Giê-su là Đấng luôn sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của chúng ta. Thế nhưng chúng ta có đến cùng Người với lòng cậy trông tin tưởng?

Đức tin hoàn toàn là ân huệ nhưng không mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua quyền lực của Chúa Thánh Thần. Tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa hành động trong cuộc sống chúng ta luôn là chuyện có thể nhờ qua ơn sủng và sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Đấng có thể biến đổi lòng dạ chúng ta và quy hướng nó về Thiên Chúa. Thánh Thần mở mắt của tâm hồn và giúp chúng ta hiểu biết, chấp nhận và tin tưởng vào Lời của Thiên Chúa. Làm thế nào để chúng ta tăng trưởng trong đức tin? Thưa rằng qua việc lắng nghe lời Thiên chúa với sự phó thác và vâng phục. Đức tin cũng được tăng trưởng nhờ qua sự thử thách và kiên trì. Thiên Chúa muốn dạy chúng ta cầu nguyện trong niềm tin để đón nhận thánh ý của Người trong cuộc sống chúng ta, cũng như đón nhận những gì Người muốn trao ban cho chúng ta để giúp chúng ta trung thành đi theo và phục vụ Người cách quảng đại. Đức Giê-su đã dạy các môn đệ một lời kinh hoàn hảo, qua đó chúng ta nhận biết Thiên Chúa là Cha, Đấng luôn quan phòng cách quảng đại đối với các con cái Người. Lời kinh này nói cho chúng ta phải tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước, cầu xin để thánh ý Người được hoàn tất trong cuộc sống chúng ta. Về phần mình, Thiên Chúa ban cho chúng ta tất cả những gì cần thiết để mỗi ngày sống, chúng ta biết làm mọi sự vì vinh danh Chúa. Thiên Chúa không bao giờ xa cách chúng ta. Người không bao giờ quá bận mà không muốn đến gặp gỡ chúng ta cũng như ban phước lành cho chúng ta. Bạn có biết cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha với lòng tin tưởng rằng Người sẽ tỏ cho bạn biết thánh ý của Người, và ban cho bạn những gì cần thiết để đi theo Người? Bạn hãy xin Thiên Chúa gia tăng đức tin và lòng biết ơn của bạn trước tình yêu thương xót và sự tiên liệu mọi sự cho cuộc sống của  bạn.

“Lạy Chúa Giê-su, xin làm cho lòng con rộn ràng vui sướng trước thánh nhan Người. Xin ban cho con đôi mắt đức tin để nhận ra sự hiện diện của Người và tuôn đổ xuống lòng con đầy tràn Thánh Thần, Đấng mà nhờ Người, con có thể bước đi trong đường lối tình yêu và an bình của Người.”

Thánh Vịnh 132:6–10 

6  Ngày đây khi ở Ép-ra-tha, chúng tôi tìm thấy hòm bia đó tại cánh đồng Gia-a. 

7  “Nào ta tiến vào nơi Chúa ngự, phủ phục trước bệ rồng.” 

8  Lạy Chúa, xin đứng dậy, để cùng với hòm bia oai linh Chúa, ngự về chỗ nghỉ ngơi. 

9  Ước chi hàng tư tế của Ngài mặc lấy sự công chính, kẻ hiếu trung với Ngài được cất tiếng hò reo. 

10 Vì vua Đa-vít, trung thần của Chúa, xin đừng xua đuổi đấng Chúa đã xức dầu phong vương.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Ngày 07 tháng 02: Lương tâm tội lỗi của Hê-rô-đê

Tin Mừng Mác-cô6:14-29

Suy niệm: Có bao giờ bạn bị ám ảnh bởi một lỗi lầm trong quá khứ? Vua Hê-rô-đê, một nhân vật giàu có và quyền lực nhất trong vùng đất Giu-đê-a, đã có tất cả những gì ông muốn, ngoại trừ một lương tâm trong sáng và sự an bình với Thiên Chúa. Hê-rô-đê rất trọng nể Gioan Tẩy Giả như một vị đại ngôn sứ và là người tôi tớ của Gia-vê Thiên Chúa.

Còn Gio-an thì không sợ hãi khi lên tiếng quở trách vua Hê-rô-đê về dám lấy chị dâu của mình làm vợ. Ông đã kết thúc cuộc đời trong ngục tù vì sự ghen ghét của Hê-rô-di-a.

Do muốn làm hài lòng gia đình của mình cũng như vị nể các khách dự tiệc, Hê-rô-đê đã ra lệnh chặt đầu Gio-an ở trong ngục. Từ đó, lương tâm của Hê-rô-đê cắn rứt ông mỗi khi nghe nói đến chuyện Gioan Tẩy Giả đã sống lại.

Khi nghe biết về danh tiếng của Đức Giê-su, Hê-rô-đê giả định rằng đó chính là Gio-an Tẩy Giả mà ông đã chém đầu, nay đã sống lại. Thật bất hạnh cho Hê-rô-đê vì ông không thể quên được tội mà ông đã làm đối với con người đã từng lên tiếng quở trách tội lỗi của ông. Ông thực là một con người yếu đuối, vì không đủ mạnh để dứt khoát với những điều sai trái, một khi ông biết rằng đó là việc phải làm. Đây chính là dấu chỉ cho thấy sự yếu đuối và hèn nhát của ông. Thiên Chúa ban ơn cho những kẻ khiêm tốn, những kẻ nhận biết tội lỗi của mình, rồi tìm đến với Thiên Chúa để xin sự tha thứ và lòng thương xót. Chính ân sủng và sự tha thứ của Thiên Chúa giải thoát chúng ta khỏi tình trạng tội lỗi của lương tâm, để theo đuổi sự thánh thiện trong tư tưởng và trong hành động. Chính ân sủng của Thiên Chúa cho phép chúng ta chiến đấu chống lại sự sợ hãi, chiến thắng cơn cám dỗ muốn thỏa hiệp với sự dữ và sai lầm.

Bạn có thực sự biết cậy dựa vào ơn sủng và sự trợ giúp của Thiên Chúa để chọn lựa lối đường thánh thiện và loại bỏ tất cả những gì làm phương hại đến niềm tin và sự trung thành với Đức Ki-tô?

Lời cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa Cha trên trời, xin hãy biến đổi con nên giống Người Con yêu quý của Cha qua việc noi gương bắt chước Người trong lời nói và hành động. Xin giúp con sống trung thành với tin mừng, và ban cho con sức mạnh cũng như sự can đảm cần thiết để đương đầu với những cám dỗ và những nghịch cảnh.

Thánh Vịnh 18:31, 47, 50-51

31 Đường lối Thiên Chúa quả là toàn thiện. Lời Chúa hứa được chứng nghiệm tỏ tường. Chính Người là khiên che thuẫn đỡ cho những ai ẩn náu bên Người.

48 Đức Chúa vạn vạn tuế! Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn.

50 Vì thế giữa muôn dân, con cất lời cảm tạ.

51 Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Người đã lập. Chúa hằng ưu ái Đấng Người đã xức dầu tấn phong, là Đa-vít cùng dòng dõi đến muôn đời.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Ngày 09 tháng 02: "Muối cho đời, Ánh sáng cho trần gian"

Tin Mừng  Matthew 5:13-16

Suy Niệm: Muối và Ánh sáng muốn gợi nhắc cho chúng ta điều gì về Thiên Chúa và sự hiển trị của Người trên trần gian?

Đức Giê-su dùng những hình ảnh rất bình dân như muối và ánh sáng để nói cho chúng ta những chân lý về nước Thiên Chúa. Muối là một mặt hàng rất có giá trị trong thế giới cổ xưa. Người ta buôn bán nó tựa như ngày nay chúng ta buôn bán vàng và thị trường chứng khoán. Trước khi con người phát minh ra điện và máy lạnh, thì muối rất hữu dụng tại những nơi khí hậu nóng nực, vì nó không chỉ được dùng như một thứ gia vị cho thức ăn, nhưng còn được dùng để bảo quản thịt khỏi bị hư thối. Đức Giê-su dùng hình ảnh muối để cho thấy các môn đệ của Ngài cần phải sống ra sao giữa trần gian. Tựa như muối dùng để bảo quản, để làm sạch và có khả năng thẩm thấu, các môn đệ cũng phải trở nên như  muối giữa trần gian để thanh tẩy, bảo tồn và làm cho nước Thiên Chúa cũng như sự công chính và bình an của Đức Ki-tô thấm nhập vào xã hội trần gian.

Đức Giê-su cũng dùng hình ảnh Ánh sáng và ngọn đèn. Trong thế giới cổ xưa, đèn được dùng như một phương tiện cần thiết trong sinh hoạt, giống như chúng ta ngày nay. Chúng giúp con người nhìn thấy và làm việc trong đêm tối, tránh bị trượt chân vấp ngã. Người Do thái cũng hiểu “ánh sáng” như một lối diễn tả vẻ đẹp nội tại, chân lý, và sự tốt lành của Thiên Chúa. “Trong ánh sáng của Người, chúng ta nhìn thấy ánh sáng” (Tv 36,9). “Lời Người là đèn soi bước ta đi” (Tv 119,105). Ân sủng của Thiên Chúa không chỉ chiếu sáng chỗ tăm tối trong cuộc sống chúng ta, nhưng đã làm tâm hồn chúng ta ngập tràn ánh sáng tâm linh, niềm vui và sự bình an. Đức Giê-su dùng hình ảnh cây đèn để diễn ta việc các môn đệ cần phải sống trong ánh sáng của chân lý và tình yêu của Ngài. Tựa như ánh sáng tự nhiên soi chiếu vào những nơi tăm tối khiến chúng ta có thể nhìn thấy mọi sự tỏ tường, thì ánh sáng của Đức Ki-tô cũng soi chiếu tâm hồn các tín hữu và làm cho họ có thể nhìn thấy những thực tại trên trời trong vương quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa. Thực thế, chúng ta có sứ mệnh phải trở thành người mang nơi mình ánh sáng của Đức Ki-tô, để những người khác có thể nhìn thấy chân lý tin mừng và được giải thoát khỏi sự mù lòa của tội lỗi và sự dối trá.

Đức Giê-su nói rằng không có gì có thể che dấu hay giữ kín mãi. Chúng ta có thể cố che giấu nhiều điều khỏi người khác, khỏi bản thân chúng ta, và ngay cả Thiên Chúa nữa. Sao chúng ta lại cố nhắm mắt trước những hậu quả của lối sống tội lỗi và những thói quen xấu nơi bản thân mình, ngay cả khi chúng ta biết rõ những hậu quả sẽ như thế nào. Sao chúng ta lại cố che giấu những điều đó khỏi tha nhân và ngay cả Thiên Chúa nữa. Tuy vậy, Thiên Chúa vẫn biết và nhìn thấy tất cả. Ai sống trong ánh sáng của Thiên Chúa và tìm kiếm chân lý, kẻ đó sẽ có được sự tự do và niềm vui lớn lao. Người biết lắng nghe Thiên Chúa và mau mắn trước lời của Người, sẽ nhận được vô vàn những điều tốt lành từ nơi Thiên Chúa. Bạn có cảm nhận được niềm vui và sự tự do được sống trong ánh sáng của Thiên Chúa chưa?

“Lạy Chúa, xin hướng dẫn con bước đi dưới ánh sáng và chân lý cứu độ của Người. Xin tuôn đổ ánh sáng và chân lý của Người xuống trên tâm hồn và tâm trí con, để giải cứu con khỏi sự mù lòa của tội lỗi và sự gian trá, hầu con có thể nhìn ra lối đường của Người cũng như am tường thánh ý của Người trong cuộc đời con. Xin cũng giúp con biết chiếu tỏa ánh sáng và chân lý của Người cho những người khác qua lời nói và hành động của con”.

Thánh vịnh 112:4-9

4 giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành: đó là người từ bi nhân hậu và công chính. 

5 Phúc cho người biết cảm thương; thiên hạ muôn đời còn tưởng nhớ chính nhân. 

7 Họ không lo phải nghe tin dữ, hằng an tâm và tin cậy Chúa.

8 Luôn vững lòng không sợ hãi chi và rốt cuộc coi khinh lũ địch thù.

9 Kẻ túng nghèo, họ rộng tay làm phúc, đức công chính của họ tồn tại muôn đời, uy thế họ vươn cao rực rỡ.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Lễ Suy Tôn Thánh Giá: Sự khiêm nhường của Chúa Giêsu

“Chính vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài” ( Phil 2,9).

Chúng ta được mời gọi dấn bước qua nhiều nẻo đường. Có những con đường đầy thách đố gai chông, nhưng có những con đường êm ả, bình lặng và rất cuốn hút. Tin vào Thiên Chúa chính là mạnh dạn đi vào bất cứ con đường nào mà Chúa gọi mời chúng ta dấn bước, vì cuối cùng con đường đó sẽ dẫn đưa chúng ta về miền Đất Hứa. Điều này nói có vẻ dễ, khi con đường chúng ta đi qua không có chiến tranh, không có cướp bóc cũng như không có những gì làm chúng ta khiếp sợ. Nhưng điều quan trọng, là khi bước đi trên những con đường gập ghềnh lắm sỏi đá gai chông, chúng ta sẽ không đào thoát khỏi những nơi mà nhiều khi chúng ta cảm thấy cuộc sống mình trở nên vô nghĩa, vì có quá nhiều gian nan. Đó vẫn là nơi dẫn đưa chúng ta đến sự sống và ơn cứu độ.

Dân Israel lang thang trên con đường tiến về đất hứa. Đó là hình tượng nói lên sự khiêm hạ và khắc khoải của kiếp người. Họ ca thán về những gian khổ trong cuộc hành trình sa mạc năm xưa. Lời kêu trách của họ thực ra không đáng. Họ trách cứ Môise: “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập để phải chết trong hoang mạc? Ở đây không có đồ ăn, không có nước uống. Chúng tôi đã chán ngấy thứ lương thực này”. Điều họ đòi hỏi xem ra có vẻ bình thường và dễ hiểu, nhưng họ lại bị khiển trách vì dám ‘chống lại Thiên Chúa và Môisê’. Họ mất niềm tin đặt để nơi nhân vật đã đưa họ thoát ách nô lệ Ai cập và dẫn họ bước đi trên con đường trở về cố hương. Rắn độc đã bò ra để trừng phạt, nhưng cuối cùng họ đã được cứu, bởi một động thái khởi phát từ chính Thiên Chúa. Môise đã đúc một con rắn đồng treo lên một giá cao, và bất cứ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng sẽ được cứu sống.

Trong Tin Mừng của Thánh Gioan, Đức Giêsu cắt nghĩa sự kiện này như một biểu tượng tiên báo về cái chết của Ngài. “Cũng như Môise đã treo con rắn đồng nơi hoang địa, Con Người cũng sẽ bị treo lên như vậy, để ai tin vào Ngài, sẽ được sống đời đời”. Con Người sẽ được treo lên, bởi vì “Thiên Chúa yêu thương loài người đến nỗi đã ban tặng chính Con Một, để ai tin vào người con đó, sẽ không phải hư mất nhưng có cuộc sống trường tồn”. Cũng như con rắn đồng được treo lên sẽ cứu dân Israel, thì đấng Messia cũng được treo lên Thập giá để dẫn đưa chúng ta đến cuộc sống vĩnh cửu.

Nhưng việc treo Con Người lên cao không giống như treo một vật thể vô tri bất động. Đức Giêsu được treo lên cao, biểu thị sự khiêm tốn thẳm sâu trong thân phận làm người, nơi Đấng đã tự nguyện chấp nhận con đường ngập tràn khổ đau, tự nguyện ‘Vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá’. Nhiều học giả tự hỏi đây là loại khiêm nhường như thế nào nơi Đức Giêsu, đấng là Thiên Chúa – Người, một Thiên Chúa đã nhập thể và làm người như chúng ta. Có phải Đức Giêsu không biết rằng, Thiên Chúa sẽ đáp trả lại sự vâng phục ấy, bằng cách tôn vinh Ngài, tặng ban cho Ngài một danh hiệu cao quý hơn mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi gối sẽ bái quỳ, trên trời dưới đất hay dưới vực sâu, và mọi miệng lưỡi sẽ tung hô Đức Giêsu Kitô là Chúa và xưng tụng vinh quang của Chúa Cha?

Các thần học gia không nhất quán với nhau khi nói về thần tính của Đức Giêsu được diễn tả cụ thể như thế nào trong biến cố này, nhưng họ nhấn mạnh đến sự hiện hữu nhập thể làm người nơi Ngài. Điều quan trọng cần phải nhấn mạnh, là Đức Giêsu đã trở nên một người phàm thực sự. Ngài trở nên một con người giống hệt chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Điều này được cắt nghĩa để giúp chúng ta am tường về sự vâng phục nơi Đức Giêsu. Ngài chấp nhận con đường mà Chúa Cha gọi mời. Đó là một sự chọn lựa rất con người. Đức Giêsu tiến nhận Thập giá, không phải chỉ là một động thái để tiến tới mục đích nhằm mang lại thiện ích cho con người chúng ta mà thôi, theo như chương trình Chúa Cha đã định liệu. Thánh Phaolô hiểu được rằng Đức Giêsu đã tự nguyện hạ mình xuống, sống vâng phục, không coi mình ngang hàng với Thiên Chúa, không phải để khai thác một phúc lợi nào cho chính mình, nhưng Ngài đã tự nguyện biến mình ra không, mặc lấy thân nô lệ, sinh ra và nếm trải kiếp sống làm người một cách trọn vẹn.

Ở đây, chúng ta không đề cập đến thần tính của Đức Giêsu, cũng như sự vô tì vết nơi Ngài. Chúng ta nhấn mạnh đến việc Ngài đã tự nguyện trở nên hư không, khi mang lấy kiếp người, và đã vâng phục đón lấy Thập giá. Ngài cũng khai mở cho chúng ta một chỉ dẫn để dấn bước vào con đường dành riêng cho chúng ta, chứ không phải là con đường mà chính Ngài đã đi qua. Chúng ta biết rằng, hành vi khiêm nhường này dẫn đến việc tôn vinh. Chúng ta có mẫu gương về một Đấng ‘Thiên Chúa làm người’, đã lãnh nhận phần thưởng vinh thắng, sau khi thể hiện sự trung tín cho đến chết và chết trên Thập giá. Ngài đã sống lại, được hiển thăng trên cõi trời và được mọi miệng lưỡi tuyên xưng là Chúa. Chúng ta cần phải xác tín và tin tưởng rằng, khi chúng ta biết khiêm tốn dấn bước vào con đường mà Thiên Chúa mời gọi, chúng ta thâm tín rằng ‘Ai tin vào Ngài sẽ không phải hư đi, nhưng có sự sống đời đời’. Sự khiêm nhường của Người Con giúp khai sáng và khuyến mời chúng ta khiêm tốn dấn bước trên con đường của chính mỗi người, bởi vì chắc chắn chúng ta cũng được hứa ban sự sống và vinh quang trong cuộc sống bất diệt mai sau.

Khiêm nhường không có nghĩa là nhẫn nhục và câm nín, không được phàn nàn, vặn hỏi Thiên Chúa. Khiêm nhường cũng không phải là một thái độ thụ động chấp nhận một cách khiên cưỡng, để đi vào con đường đã mở sẵn. Nhưng khiêm nhường ở đây, là chúng ta tín thác vào Thiên Chúa để bước tới, và tin tưởng rằng Thiên  Chúa sẽ ban tặng chúng ta phần thưởng sau cùng. Đó chính là sự sống vĩnh cửu, sự sống mà chúng ta được thông dự cùng với Người Con đã được tôn vinh.

John Martens

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %