• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


SUY NIỆM MÙA CHAY: Hãy vác thập giá mình

Văn Hào, SDB

(Trích trong tập “Chúa Kitô Phục Sinh và đời sống hằng ngày)

Mầu nhiệm phục sinh là tâm điểm đức tin chúng ta. Nhiều Kitô hữu vẫn thường quy chiếu đức tin nơi các mầu nhiệm khác, ví dụ: mầu nhiệm Nhập Thể: làm sao Thiên Chúa trở nên người phàm, cũng như làm sao Thiên Chúa thấu hiểu và đi vào cuộc sống thân tình với chúng ta. Nhiều người khác lại quy chiếu cuộc sống môn đệ của mình trong việc thực hành các mối phúc như là khuôn mẫu cho cuộc sống Kitô hữu và như một kim chỉ nam cho các hành động nơi mình. Tất cả điều đó đều là những khía cạnh quan trọng trong đời sống Kitô hữu. Nhưng đối với tôi, mầu nhiệm phục sinh vẫn là tâm điểm của đời sống thiêng liêng. Mỗi ngày, tôi vẫn trở về với chủ đề này để suy gẫm, hay nói một cách bao quát hơn, tôi vẫn trở về với câu chuyện Chết và Phục sinh của Đức Kitô.

Nhưng mầu nhiệm phục sinh can dự gì đến chúng ta? Chắc hẳn, cũng như bao người khác, chúng ta không bị đóng đinh, cho dầu nhiều Kitô hữu khắp nơi trên thế giới vẫn còn bị tàn sát và giết chết. Và ở đây, vẫn còn một câu hỏi liên quan mà chúng ta không thể trả lời nếu không quy chiếu vào mầu nhiệm phục sinh, đó là “Chúa Giêsu muốn nói gì với chúng ta, trong Tin Mừng Nhất Lãm, khi Ngài mời gọi: “Hãy vác lấy thập giá mình mỗi ngày?” . Cùng với lời gọi mời nhức nhối đó, Chúa Giêsu nói tiếp: “Ai muốn cứu lấy mạng sống mình, sẽ bị mất nó, và ai liều mất mạng sống mình vì Tôi, sẽ tìm lại được mạng sống ấy”. Điều đó có ý nghĩa gì? Đây là một vài suy tư gợi ý về những câu hỏi này.

1.     Trước hết, bạn không cần tự kiếm tìm thập giá cho chính mình. Chính cuộc sống sẽ trao cho bạn thập giá. Nhiều bạn trẻ rất chân thành nói với tôi là họ có rất ít những đau khổ phải hứng chịu trong cuộc sống. Tôi trả lời có vẻ như tiêu cực “Rồi hãy đợi đấy”. Có thể là một cơn bệnh khó chịu, một tai nạn xảy ra, một người chết trong gia đình, một cuộc tình tan vỡ, những phiền toái trong công việc làm ăn, sự cô đơn triền miên, những rắc rối nơi trường lớp, hay những đấu tranh ngoài xã hội để có công ăn việc làm,… Những vấn đề rồi sẽ tới. Thập giá thực sự sẽ đến, điều mà bạn chẳng mong muốn. Bạn chẳng nghĩ đó là thập giá hay sao? Hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã chẳng muốn chết và Ngài cũng không xin gửi thập giá đến cho mình khi cầu nguyện trong Vườn Giệtsêmani. Nhưng rồi, thập giá đã đến với Ngài, và đương nhiên thập giá không phải là hệ quả của tội lỗi. Rõ ràng, nhiều đau khổ đến với ta chỉ là hậu quả của những quyết định vô luân hay xấu xa. Nhưng đa số thì không phải vậy. Nhiều người vô tội vẫn phải hứng chịu những khổ đau.

2.     Thứ đến, cũng giống như Chúa Giêsu, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để chấp nhận thập giá. Điều này không có nghĩa là chúng ta chấp nhận gánh chịu đau khổ một cách vô tư  và thụ động giống như một con vật hoàn toàn câm nín khi phải mang một gánh nặng. Cũng không phải chúng ta gánh chịu đau khổ như những tên tử tội bị chích thuốc độc để phải chết. Ý tưởng chấp nhận và phó dâng những khổ đau cho Chúa có thể giúp chúng ta trong một vài trường hợp, nhưng không phải luôn luôn là như vậy. Mẹ tôi đến thăm bà ngoại của tôi tại nhà dưỡng lão trong nhiều năm. Ở đó có một nữ tu lớn tuổi phải ngồi xe lăn do già yếu. Một bữa nọ, Bề trên của vị nữ tu đó đến thăm. Khi vị nữ tu già này kể lể cho Bề Trên về sự đau đớn bà phải chịu đựng, Bề Trên trả lời “Chị hãy suy tưởng đến Chúa Giêsu trên thánh giá”. Vị nữ tu già mới nói: “Nhưng mà Ngài ở trên thánh giá có 3 tiếng đồng hồ mà thôi”. Nhiều khi những lời khuyên chẳng ích gì mà còn làm tổn hại thêm.

HÃY VÁC LẤY NHỮNG GÁNH NẶNG

Điều này có nghĩa là gì? Có phải là sau đó chấp nhận những thánh giá?

Để bắt đầu, chúng ta phải hiểu rằng đau khổ là một phần của cuộc sống con người. Chấp nhận vác thập giá, nghĩa là hiểu một cách nào đó, sau khi hứng chịu những khủng hoảng, những chán nản, buồn sầu và cả những bầm dập, chúng ta phải chấp nhận những gì đã xảy đến không thể đổi thay. Đó là lý do tại sao việc chấp nhận những khổ đau không phải là cái gì mông lung như một thứ thuốc gây mê, nhưng rõ ràng là một thực tại. Đây là điều khác biệt giữa Kitô giáo với Phật giáo, khi Phật giáo chủ trương việc chịu đựng khổ đau chỉ là một ảo tưởng. Không, trên thập giá, Chúa Giêsu đã tuyên bố cho ta thấy khổ đau gắn liền với kiếp người. Các môn đệ đã có lúc không hiểu điều này. Họ cần một vị lãnh tụ có thể cất khỏi họ những đau khổ, chứ không phải là một Đấng nào đó lại chuốc lấy những khổ đau cho chính mình. Vẫn còn những lúc ta thường rơi vào cảnh huống khó khăn giống như vậy. Nhưng, trên thập giá, chính Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy chấp nhận những khổ đau. Chấp nhận cũng có nghĩa là, không phải miễn cưỡng chịu đựng mà tâm hồn vẫn cảm thấy cay cú. Chấp nhận khổ đau không phải là chúng ta không được nói về những đau khổ đó, không được ta thán, ngay cả không được gào thét để thổ lộ với bạn bè hay gia đình. Và lẽ đương nhiên khi cầu nguyện chúng ta được mời gọi hãy chân thành giãi bày nỗi lòng với Chúa. Ngay cả Đức Giêsu khi cầu nguyện với Chúa Cha trong vườn Cây Dầu, Ngài cũng đã trải lòng mình ra như vậy.

Nhưng nếu bạn đang có sự tức giận với ông chủ của bạn nơi làm việc, hoặc ở nhà trường, hay trong gia đình, bạn không cần bộc lộ sự giận dữ đó ra cho ai và cũng đừng khuếch đại sự đớn đau bạn đang gánh chịu. Nếu bạn có một ông chủ đối xử với bạn tồi tệ, bạn cũng đừng vì thế mà trở nên nhỏ nhen với gia đình bạn. Hoặc về nhà gặp những chuyện rối ren, cũng đừng vịn cớ mà tỏ ra vô cảm với những người chung quanh tại nơi làm việc. Có những chuyện không may ở trường học, về nhà bạn đừng nổi cáu với bố mẹ. Chúa đã không nổi quạu với bất cứ ai khi hứng chịu những đau khổ, cả khi đón lấy những trận đòn tả tơi.

Điều này không có nghĩa là bạn không được mở lòng chia sẻ với người khác về những khổ đau bạn hứng chịu. Ví dụ, khi bị lạm dụng tình dục hay bị khủng hoảng, bạn cần chia sẻ với người khác (có thể với bạn bè hay nhà tư vấn chuyên môn) để bạn được trợ giúp chữa trị. Cũng vậy, những người phải chịu đựng những thách đố dai dẳng triền miên, chẳng hạn, phải chăm sóc một đứa trẻ tật nguyền hay khá đặc biệt, hoặc nuôi dưỡng cha mẹ lớn tuổi…, cần thổ lộ với những người đồng cảnh ngộ để tìm được sự đồng cảm và nâng đỡ. Cũng giống như Chúa Giêsu, bạn có thể nhờ ai vác thập giá giúp mình. Chúa Giêsu đã không kiêu ngạo cậy vào sức mình quá khi để ông Simon thành Kirênê kề vai giúp Ngài vác thập giá. Nếu bạn bè ngỏ ý giúp, bạn đừng từ chối.

Khi bạn đánh con cái bạn rồi sau đó đến chỗ làm việc, mặt bạn lầm lầm lì lì, và việc bạn chia sẻ những vất vả (cả những niềm vui) khi chăm sóc một đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt để tìm sự nâng đỡ, lại là 2 điều hoàn toàn khác nhau: khác nhau ở chỗ một bên là thụ động hứng chịu đau khổ, và một bên là chia sẻ sự hứng chịu đó với người khác. Nói tóm lại, đừng biến thập giá của bạn trở thành thập giá cho một ai đó.

3.     Thứ ba, khi Chúa Giêsu nói về những ai mất mạng sống mình, Ngài không chỉ có ý nói về sự sống thể lý mà thôi. Người Kitô hữu tin rằng, họ được hứa ban đời sống vĩnh cửu, nếu họ tin vào Chúa Giêsu và bước theo con đường của Ngài. Nhưng còn nhiều cái chết khác đến trước cái chết thể lý sau cùng. Chúng ta được gọi mời tập chết, tập chôn vùi một vài phần của cuộc sống để những phần khác có thể tồn tại. Ví dụ, ước muốn có nhiều tiền khiến chúng ta dễ trở nên lãnh cảm trong công việc. Có lẽ bạn muốn được sống mạnh khỏe hơn là muốn chết. Có   khi bạn bị người khác làm phật lòng lại khiến bạn trở nên bất cần, không quan tâm gì đến họ.  Con người ích kỷ của bạn cần phải chết đi để bạn có thể cảm nghiệm sự hồi sinh của lòng quảng đại nơi con người bạn. Phải chăng sự kiêu căng tự mãn khiến bạn bịt tai trước những lời phê bình mang tính xây dựng từ người khác khiến bạn không thể tiến triển trên con đường thiêng liêng.?

Có phải những cái đó cần  chết đi hay không? Về đời sống thiêng liêng trong Kitô giáo, chúng ta gọi đó là “chết cho chính mình”. Cái gì ngăn cản khiến bạn không thể sống yêu thương hơn, tự do hơn, chín chắn hơn, và rộng mở tâm hồn hơn để quy thuận thánh ý Chúa? Bạn để những thứ đó chết đi có được hay không? Nếu có, chắc chắn, bạn sẽ “tìm được sự sống của mình”, bởi lẽ, chết cho chính mình chính là sống cho Chúa. Đây là điều Chúa Giêsu muốn nói tới khi Ngài ngỏ lời với những ai buông xuôi không muốn cứu lấy mạng sống mình. Cách thức “cứu lấy” ở đây, hàm ngậm việc giải thoát chúng ta khỏi những lề thói cũ trói buộc chúng ta. Nếu chúng ta khư khư cố giữ lại những điều cũ kỹ này, chúng ta sẽ chết. Nếu chúng ta can đảm khai trừ chúng, chúng ta sẽ được sống.

4.     Thứ tư, hãy chờ đợi sự Phục Sinh.

Nơi mỗi thánh giá của cuộc sống, luôn hàm chứa một lời mời gọi hướng về một cuộc sống với một cách thức nào đó, thường thường là một cách nhiệm mầu. Đối với tôi, dường như khó hiểu, khi nói Chúa Giêsu biết rõ những gì sẽ xảy đến cho mình khi Ngài phó thác mình cho Chúa Cha trong vườn Cây Dầu. Rõ ràng Ngài hiến mình trọn vẹn cho Chúa Cha. Nhưng liệu Ngài có biết trước những gì sẽ xảy ra? Có những điều đã được tiên báo. Chúa Giêsu đã nói với các lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ “Cứ phá hủy đền thờ này đi, trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại.” Thánh Gioan minh nhiên đưa ra một lời tiên báo về sự Phục Sinh. Nhưng nỗi thống khổ Chúa Giêsu kinh qua trong vườn Cây Dầu và tiếng kêu than thống thiết khi bị bỏ rơi trên thập giá dường như cho ta thấy Ngài không hề hay biết về cuộc sống mới mà Cha Ngài đã dành sẵn cho Ngài. Có lẽ, dường như Chúa Giêsu cũng kinh ngạc trong ngày Phục Sinh. Đối với tôi, điều này khiến việc tự hiến của Ngài cũng gây ngạc nhiên. Đây là lý do tại sao người Kitô hữu hay nói về việc gặp gỡ Chúa Giêsu trên thánh giá. Nếu không biết hoặc không thể ôm lấy thập giá, chúng ta sẽ vuột mất cơ hội biết Chúa một cách thâm sâu hơn. Thập giá thường là nơi chúng ta có thể gặp được Chúa, bởi vì khi chúng ta bị tổn thương, chúng ta dễ mở lòng ra đón nhận ơn Chúa nhiều hơn. Nhiều thứ rượu giúp phục hồi sức khỏe đã hướng dẫn rằng cứ chấp nhận bệnh tật vui vẻ, bạn sẽ từ từ được bình phục . Đây là điều Cha Thomas đã viết  “Trong những bầm dập cay đắng, Thiên Chúa dạy dỗ chúng ta”. Một người bất hạnh nhất trên trần gian chính là những người chưa bao giờ nếm trải những cay đắng bầm dập trong đời sống mình.

5.     Thứ năm, Quà tặng của Thiên Chúa thường đến từ những gì chúng ta không ngờ tới.

Đây là điều mà bà Maddalêna đã khám phá ra, trong ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Cùng với bà Maria, thỉnh thoảng, chúng ta cũng cần có thời gian để nắm bắt được những gì chúng ta đang trải nghiệm, đó là một cuộc Phục Sinh thực sự. Sau biến cố Phục Sinh, các Tông Đồ khác cũng phải có thời gian chín mùi để nhận ra được Đức Giêsu. Cũng như các Tông Đồ đã khám phá ra trong ngày Phục Sinh,  Mầu nhiệm Phục Sinh cũng không xảy ra khi chúng ta chờ đợi. Có khi cần nhiều năm trời. Và cũng thường khó cắt nghĩa, bởi vì đây là sự Phục Sinh của chính bạn. Điều đó có thể chẳng can dự gì đến người khác. Khi tôi còn là một tập sinh Dòng Tên, tôi làm việc trong một bệnh viện phục vụ cho những bệnh nhân ốm nặng ở Cambridge, Massachusett. Mỗi thứ Sáu hàng tuần, nhóm tuyên úy bệnh viện tổ chức một cuộc hội thảo để chia sẻ. Một phụ nữ tên là Doris, một bệnh nhân đã gắn bó đời mình với chiếc xe lăn, đã chia sẻ một điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Bà ta vẫn thường nghĩ chiếc xe lăn chính là thánh giá của bà, và tôi cũng nghĩ như thế. Nhưng từ từ, bà cụ đã coi chiếc xe lăn chính là sự Phục Sinh. Bà nói: “Chiếc xe giúp tôi đi vòng quanh. Không có nó, tôi chẳng làm được gì. Cuộc sống sẽ thật chán nản nếu không có nó”.

Lời nhận xét của bà lưu lại dấu ấn trong cuộc đời tôi suốt 25 năm trời. Thật khó hiểu và không hiểu nổi. Thập giá của bà Doris dẫn đưa bà tới sự Phục Sinh cao cả cho chính bà. Cần nhớ rằng khi mà thế giới chỉ thấy có bóng dáng thập giá, người Kitô hữu chúng ta còn phải nhìn ra những cái khác đàng sau thập giá ấy.

 

Kết luận: Từ sợ hãi đến niềm tin

 

Cuối cùng, đối với Chúa, không có gì là không thể làm được.

Đây là thông điệp mà tôi sẽ thường xuyên nói tới. Tin Mừng Thánh Gioan kể lại, vào ngày thứ nhất trong tuần, các môn đệ ngồi co rúm với nhau trong căn nhà đóng kín, vì sợ. Sau biến cố ngày thứ Sáu tuần Thánh, các Tông đồ hoảng sợ. Thánh Matthêu và Marcô cũng thuật lại rằng, trước đó vào đêm thứ Năm tuần Thánh, họ đã tháo chạy khỏi vườn Cây Dầu vì khiếp hãi. Tối hôm đó, Phêrô đã chối không biết Chúa. Nếu họ cảm thấy sợ khi nghe Chúa bị xử án tử hình, chúng ta hãy tưởng tượng xem thái độ phản ứng của họ ra sao khi thấy Chúa oằn vai vác thánh giá qua những con đường ở Giêrusalem, rồi lại bị đóng đinh vào thập giá, phơi thân ở đó cho đến chết. Đức Giêsu, thủ lĩnh của họ đã bị kết án như một tên tội phạm, một kẻ thù của quốc gia. Con người mà họ  đặt kỳ vọng đã chết. Cánh cửa đã khép lại. Còn gì nữa ngoài sự sợ hãi?

Một lần nữa, các Tông đồ đã không thể nhận ra rằng họ đang nghĩ về một Thiên Chúa đang sống, cũng như Ngài đã loan tin cho Maria Maddalena “Không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được”. Các Tông Đồ không thể nhìn thấy những gì phía sau bức tường của căn phòng đã đóng kín. Họ không muốn chấp nhận rằng Thiên Chúa là Đấng vĩ đại hơn những gì mà họ suy tưởng.

Hẳn nhiên, các ngài có thể được tha thứ. Chúa Giêsu đã chết, thế là hết. Và ai có thể tiên báo Ngài sẽ sống lại? Một lần nữa, chúng ta không dễ để các Tông đồ buông xuôi. Đức Giêsu luôn muốn các Tông Đồ ngạc nhiên với những kỳ vọng. Ví dụ: Khi chữa lành các bệnh nhân, dẹp tan bão tố, cho kẻ chết sống lại… Chúa muốn các Tông đồ biết hướng về một chân trời hy vọng khi các ngài hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng họ đã không làm thế.

Chúng ta vẫn thường nghĩ mình không thể tin rằng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ta một cuộc sống mới. Chúng ta vẫn hay nói: “Mọi sự sẽ không có gì thay đổi, chẳng còn hy vọng gì cả”. Điều này xảy ra khi chúng ta rơi vào bóng tối của thất vọng, thỉnh thoảng đó cũng là do sự cao ngạo của chúng ta. Có nghĩa là, chúng ta vẫn tưởng chúng ta rảnh rỗi hơn Thiên Chúa, giống hệt như khi chúng ta nói “Thiên Chúa không thể xoay nổi tình thế đâu.". Tuyệt vọng là con đường đen tối và nguy hiểm nhất, nó còn đen tối hơn cả sự chết.

Có mấy ai trong chúng ta tin rằng một phần cuộc sống chúng ta sẽ phải chết đi. Có mấy ai nghĩ rằng một phần của đất nước, của thế giới, của Giáo Hội không thể vươn đạt đến sự sống? Có mấy ai trong chúng ta cảm nhận được ân huệ cao quý của niềm hy vọng và sự biến đổi?

Điều này sẽ đến khi chúng ta trở về với việc Phục Sinh. Tôi vẫn thường nhắc lại hình ảnh các Tông đồ co rúm sợ hãi trong căn nhà đóng kín. Trong căn phòng đó, chúng ta không thể kêu mời hướng đến sự sống. Chúng ta được mời gọi thoát vượt những nơi ẩn náu đen tối, để cùng đồng hành với Maria Maddalena, có thể đôi lần đã khóc sướt mướt giống như bà, nhưng luôn trên đường đi kiếm tìm, và cuối cùng chói lòa trước bình minh của một đời sống mới nơi Đức Giêsu: Tràn đầy kinh ngạc, phấn khởi và dẫn đưa chúng ta đến niềm vui.

Chúng ta được mời gọi để tìm kiếm điều mà bà Maria đã thấy “Chúa đã sống lại”.

Bài viết của Cha James Martin, SJ

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

 

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY NĂM A: TRÁNH XA TỘI LỖI

Văn Chính, SDB

“Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,10)

Trong trình thuật cám dỗ của Mát-thêu, tâm điểm của thực tại tội lỗi được phô bày khi Xa-tan sẵn sàng dâng hiến cho Đức Giê-su “mọi nước trên trần gian và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy”, với chỉ một điều kiện thôi: “nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” (c.9) Trong mỗi hành vi tội lỗi, chúng ta đều có ngầm ý này: muốn thờ lạy một điều gì đó hay một ai đó thay vì Thiên Chúa. Đây cũng chính là điều mà Hiến Chế về “Phụng Vụ Thánh” của Công Đồng Vatican II đã mô tả: tội lỗi là “việc chống lại Thiên Chúa” (số 109). Tuy nhiên, Đức Giê-su đã bẻ gẫy sự đồng thuận ngấm ngầm này, một thứ đồng thuận làm nên tội lỗi của bao thế hệ con người, khi Ngài từ chối mọi cám dỗ và những lời dối trá của Xa-tan bằng cách trích lời trong sách Đệ Nhị Luật: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Đnl 6,13).

Chúng ta vừa bước vào Mùa Chay thánh, một mùa gợi nhắc cho chúng ta thái độ dứt khoát của Đức Giê-su đối với tội lỗi. Qua thái độ đó, Ngài thiết đặt lại thái độ cơ bản của con người trước tội lỗi. Với sự dứt khoát nói “KHÔNG” với tội lỗi, một thái độ được thực hiện cách bí tích trong Phép Rửa, và qua sự sám hối chuẩn bị mừng đại lễ Phục Sinh (biểu tỏ sự chiến thắng của Đức Giê-su trên quyền lực của tội lỗi mà Ngài đã khước từ trong sa mạc), Giáo Hội mời gọi chúng ta thực hiện những hành vi sám hối. Sám hối phải mang tính “nội tâm và cá nhân, nhưng cũng mang tính bên ngoài và tập thể nữa”, vì những hành vi cụ thể hữu hình này nói lên ước muốn thờ phượng Thiên Chúa và từ khước Xa-tan của chúng ta. Chúng biểu tỏ “sự ghê tởm tội lỗi vì là một hành vi chống lại Thiên Chúa” (Phụng vụ 109).

Sám hối là thái độ cơ bản khi con người đối diện với những tội lỗi của mình. Việc phạm tội thật dễ dàng, nhưng cũng thật mau quên như thể nó chưa hề xảy ra, và nếu có thì cũng dễ tìm ra những lời giải thích biện minh. Người ta thật dễ tìm ra những lời bào chữa cho tội lỗi của mình, hay tìm cách quên nó đi, như lời Đức Giê-su đã nói: “Hãy lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em” (Lc 3,42) Tội lỗi càng lan rộng khi chúng ta không nhận ra nó hay giả lờ như không biết tới nó. Điều này có thể xảy ra nơi chính bản thân mỗi người khi chúng ta giả vờ như không biết những chuyện như giận dữ, tham ăn, nói hành nói xấu... là những tội xúc phạm đến tha nhân và Thiên Chúa, hay có thể xảy ra trên tầm mức xã hội, khi chúng ta thích thú xem những tranh ảnh và phim ảnh đồi trụy, những hành vi hay lối sống ngầm ý ủng hộ cho những chuyện bạo lực, lạm dụng trẻ em, phụ nữ...

Tội lỗi cũng là một mầu nhiệm khó hiểu và khó để hủy diệt nó. Chẳng hạn, tại sao chúng ta lại làm những điều mà chúng ta biết là sai, những điều mà chúng ta không muốn làm? Trong thư mục tử gởi cho các linh mục vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh năm 2002, Chân Phước Gio-an Phao-lô II đã đề cập đến chuyện lạm dụng tính dụng trẻ em như là “một sự hàng phục trước những dạng thức khổ đau dữ dằn nhất của mầu nhiệm sự dữ (mysterium iniquitatis) trên thế giới này”. Lối diễn đạt bằng hạn từ tiếng La-tinh về “mầu nhiệm tội lỗi”, không phải là một cố gắng làm minh tỏ về tội lỗi, nhưng cho thấy tính chất phi lý và sức quyến rũ chết người của nó, ngay cả khi chúng ta “biết rõ” về nó. Tội lỗi lôi kéo chúng ta ra xa khỏi Thiên Chúa và đưa chúng ta đến chỗ hư không và hủy diệt như thánh Âu-tinh đã mô tả. Thật khó để từ bỏ tội lỗi ra khỏi cuộc sống của chúng ta.

Chính vì thế, Mùa Chay là thời gian cần thiết trong cuộc sống của Giáo Hội và trong cuộc sống cá nhân của những người môn đệ theo Đức Ki-tô. Mùa Chay mời mọi chúng ta dứt khoát khước từ tội lỗi và quay trở về với Thiên Chúa, để không như A-đam và E-và ngày xưa, vì ước muốn trở thành Thiên Chúa, đã quay lưng lại với chính Thiên Chúa và đã rơi vào vòng xoáy của tham vọng cá nhân. Mùa Chay mời gọi chúng ta nên giống Đức Ki-tô, Đấng giống với chúng ta trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi, Đấng đã chiến thắng những cơn cám dỗ rất lô-gíc và mê hoặc chết người của ma quỷ, để không quay lưng lại với Thiên Chúa. Chúng ta hãy làm như tác giả thánh vịnh đã viết, một khi đã lỡ sa ngã phạm tội, chúng ta hãy can đảm quay trở về với Thiên Chúa với “một tâm hồn tan nát và thống hối”, để Thiên Chúa ban cho chúng ta sự tha thứ và lòng thương xót từ ái của Người.

Khi suy nghĩ về những tội lỗi của mình và thực hiện những hành vi sám hối, chuyện này không nhằm chất thêm gánh nặng trong cuộc đời chúng ta, nhưng làm nhẹ gánh trên đôi vai của chúng ta, để lưng của chúng ta có thể đứng thẳng và đón nhận “ân ban nhưng không” của Thiên Chúa. Thánh tông đồ Phao-lô đã viết:”nếu tội lỗi đã thống trị bằng cách làm cho người ta phải chết, thì ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.” (Rm 5,21)

Vậy khi bước vào Mùa Chay thánh, chúng ta hãy cùng với Đức Giê-su nói lên lời khẳng định này: “Xa-tan kia, xéo đi!”. Hãy quay lưng lại với tội lỗi, để ân sủng của Thiên Chúa đổ tràn xuống tâm lòng, tâm trí của chúng ta.

John W. Martens (giáo sư thần học tại Đại Học thánh Tô-ma, St. Paul, Minn.)

Cầu Nguyện:

Hãy ở bên Đức Giê-su trong hoang địa. Tất cả những gì gây nên tội và làm bạn xa rời Thiên Chúa, bạn có muốn thực sự từ khước không?

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Chúa Nhật 7 TN năm A: Nhẫn nhục, một Nhân đức bị lãng quên

Lê-vi 19:1-2, 17-18 | 1 Co 3:16-23 | Mát-thêu 5:38-48

Trong Tân ước, nhân đức Nhẫn nhục nổi bật trong những lời giáo huấn của Đức Giê-su và của các Tông Đồ. Trong tiếng Anh ngày nay, cũng thật khó để tìm ra được một hạn từ lột tả được ý nghĩa là biết đón nhận những sự bạo hành, sỉ nhục, gây hấn của người khác đối với bản thân mình, mà không tìm cách ăn miếng trả miếng với họ. Kinh thánh tiếng Anh hiện nay dùng những hạn từ như “sự chịu đựng”, “hiền dịu”, hay “kiên vững chịu đựng”, thế nhưng vẫn không lột tả được ý nghĩa của “việc cam chịu những đau khổ lâu dài”. Đó là nhân đức mà người ta thấy nơi Mahatma Gandhi và Martin Luther King, một điều thường đi đôi với  “bất bạo động”.

Các ki-tô hữu thời Giáo Hội sơ khai tán dương nhân đức “nhẫn nhục” này, vì đó là nhân đức giúp họ có được một năng lực nội tại bên trong để sẵn sàng chấp nhận sự bắt bớ, ngục tù, hành hạ thân xác mà không chối bỏ niềm tin Ki-tô giáo, hay ăn miếng trả miếng với những người gây hấn bất chính. Bài Tin mừng hôm nay được trích từ giáo huấn của Đức Giê-su trong Bài Giảng Trên Núi, qua đó sự nhẫn nhục được coi như lối sống của những môn đệ đi theo Đức Giê-su.

“Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thày, Thày bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy  để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm” (Mt 5, 38-41)

Nói theo lý thì những kẻ gây lỗi thì phải sửa đổi. Người ta được quyền đòi hỏi nơi những kẻ khai thác, lạm dụng hay trục lợi trên kẻ khác một sự công bằng. Tuy nhiên, việc đòi sự công bằng vẫn là một quyền, chứ không là một bổn phận hay nghĩa vụ. Đức Giê-su mời gọi những ai theo Ngài hãy từ bỏ quyền đòi sự công bằng này. Tại sao? Mahatma Gandhi giải thích rất hay: “Việc mắt đòi mắt, răng đòi răng chỉ làm cho thế giới ra mù lòa.” Vòng xoáy lan rộng của sự hận thù và bạo lực thực sự trở thành mối đe dọa thế giới ngày nay. Chỉ có một cách để phá đi vòng lẩn quẩn của điều ác, đó là phải có ai đó quyết định hứng chịu sự bạo hành mà không tìm cách đẩy nó cho những người khác. Đây chính là điều mà Đức Giê-su đã thực hiện trên cây thập giá khi Ngài tha thứ cho những kẻ hành hình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34)

Nhân đức nhẫn nhục không có nghĩa là những người Ki-tô hữu đều mù quáng và bị lạm dụng, hoặc thất bại trong việc làm cho xã hội này nên tốt hơn. Trái lại, nó có nghĩa rằng chúng ta đang bắt chước Đức Giê-su, Đấng trong cuộc sống mình, đã biết từ bỏ quyền đòi sự công bằng, nhưng đồng thời cũng lên án mọi hình thức lạm dụng, khai thác bóc lột những người yếu đuổi.

Nhân đức nhẫn nhục khôngn phải dấu của sự yếu đuối, nhưng là dấu chỉ sức mạnh. Nó không phải là dấu chứng tỏ sự hèn nhát, nhưng là sự can đảm. Đức Giê-su đã đòi các môn đệ của ngài phải nhẫn nhục, không phải vì họ cô thế cô thân hoặc không thể làm gì trong hoàn cảnh cụ thể của họ, nhưng vì chính Thiên Chúa là Đấng nhẫn nhục, và chúng ta được mời gọi nên “hoàn thiện, như Cha của anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48)

“Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu thương đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.” (Mt 5,43-45)

Thiên Chúa là Đấng hoàn thiện vì Người là Đấng nhẫn nhục. Đối với chúng ta là con cái Thiên Chúa, chúng ta cần nên giống cha của chúng ta ở trên trời, có nghĩa là cần biết sống nhẫn nhục trong tương giao với những kẻ chống đối chúng ta hoặc coi chúng ta như kẻ thù. Chúng ta không được đối xử với họ như kẻ thù của mình, nhưng là những người thân cần của chúng ta, dẫu họ không biết việc họ làm. Hãy cầu nguyện cho họ như Đức Giê-su đã làm.

Đức Giê-su hôm nay dạy chúng ta rằng dấu hiệu của những con cái đích thực của Thiên Chúa là sống nhân đức nhẫn nhục. Chúng ta hãy cầu nguyện lời này: “Lạy Đức Giê-su hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng chúng con nên giống trái tim Chúa.”

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Chúa Nhật 8 TN năm A: Sao lại phải lo lắng?

Văn Chính, SDB

Trong bài giảng với chủ đề “Lo Lắng”, Ralph Phelps kể câu chuyện về một chiếc đồng hồ:

Có một chiếc đồng hồ mới được đặt trên một kệ sách thật đẹp, cứ mỗi giây nó gõ 2 tiếng: tích, tắc. Cứ thế, nó hoạt động thật tốt: đều đặn và chính xác. Thế rồi một ngày kia, nó bắt đầu tính toán: cứ mỗi giây, nó phải gõ 2 tiếng. Vậy một phút, nó gõ 120 tiếng và một giờ là 7.200 tiếng. Nó tiếp tục tính: một ngày là 172.800 tiếng, một tuần là 1.209.600 tiếng, và cứ thế trong 52 tuần lễ của một năm, nó phải gõ đến 62.899.200 tiếng. Thật là kinh khủng quá sức. Nó đâm ra lo lắng và lo sợ đến nỗi bị “sốc” và ngừng hoạt động.

Người ta mang nó đến cho một nhà tâm lý trị liệu. Nhà tâm lý hỏi: “Này đồng hồ, ngươi bị sao vậy?” Chiếc đồng hồ mở miệng than vãn:”Ông xem, tôi phải làm việc quá nhiều. Cứ mỗi giây phải gõ 2 tiếng, mỗi phút 120 tiếng, và mỗi giờ phải gõ đến 7.200 tiếng, và...” Nhà tâm lý ngắt lời: “Thôi, thôi... ta hỏi ngươi: tại một thời điểm, ngươi phải gõ mấy tiếng?”. Chiếc đồng hồ trả lời gọn lỏn: “Chỉ một tiếng thôi”. Nhà tâm lý nói với nó: “Ta đề nghị ngươi điều thôi: Hãy về nhà, và chỉ gõ 1 tiếng trong một thời điểm thôi, được chứ? Đừng nghĩ mình phải gõ tiếng thứ hai trong thời điểm sắp tới. Chỉ gõ một tiếng tại một thời điểm thôi. Ngươi làm được chứ?”. Chiếc đồng hồ trả lời một cách khẳng quyết: “Tất nhiên là được, nếu chỉ gõ 1 tiếng tại một thời điểm”. Câu chuyện kết thúc: thế là chiếc đồng hồ lại hoạt động bình thường, vì tại một thời điểm, nó chỉ gõ 1 tiếng thôi.

Cũng như thế, bài Tin mừng ngày hôm nay cũng dạy chúng ta 3 điều: (1) Sao người ta lại phải lo lắng, (2) lo lắng chỉ vô ích, (3) làm thế nào để khắc phục được sự lo lắng.

Tại sao người ta lại lo lắng: Chúng ta thường lo lắng khi trong tâm trí, chúng ta cố vơ vào cho mình quá nhiều điều hơn những gì chúng ta có thể thực hiện. Chiếc đồng hồ quá lo lắng về số lượng tiếng gõ mà nó phải thực hiện trong một năm, một số lượng quá lớn trong khi tại một thời điểm, nó chỉ gõ đúng 1 tiếng thôi. Cũng tương tự thế, Đức Giê-su dạy chúng ta đừng lo lắng về quá nhiều chuyện: nào là “phải ăn gì, uống gì, mặc gì” (Mt 6,31) Chúng ta đã vơ vào tâm trí mình quá nhiều chuyện khi chúng ta nghĩ về tương lai, về những ngày đời sẽ đến trong cuộc sống mong manh của kiếp người.

Lo lắng chỉ vô ích: Câu chuyện chiếc đồng hồ và câu chuyện Tin mừng ngày hôm nay cho chúng ta thấy: lo lắng chẳng giải quyết được chuyện gì. Đúng hơn, nó còn phản tác dụng nữa. Trong Tin mừng, Đức Giê-su hỏi các môn đệ: “Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?” (Mt 6,27). Tất nhiên câu trả lời là: Không có ai. Vậy thì phải kết luận rằng: lo lắng chỉ làm cho người ta bị “sốc”, “xuống tinh thần”, như kinh nghiệm của chiếc đồng hồ. Tất nhiên, lo lắng còn có thể rút ngắn cuộc sống của con người là đằng khác.

Làm thế nào khắc phục được Lo lắng? Đây hẳn là câu hỏi thật quan trọng đối với chúng ta. Câu trả lời vẫn là: phải khắc phục sự lo lắng bằng cách sống giây phút hiện tại, tập trung vào những gì chúng ta cần làm ngày hôm nay, dẫu biết rằng chúng ta vẫn có thể phác họa ra cách để vượt qua những khó khăn ngày mai khi chúng ta phải đối diện với chúng. Chiếc đồng hồ đã phục hồi lại khả năng làm việc khi nó biết tập trung vào những gì cần phải làm tại một thời điểm. Cũng thế, Đức Giê-su dạy chúng ta phải chú tâm vào hiện tại, chứ không phải tương lai: “Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34).

Phải chăng Đức Giê-su dạy chúng ta đảm nhận một lối sống không có kế hoạch, không có dự tính cho những ngày khó khăn trong tương lai? Không phải thế. Đúng hơn, Ngài dạy chúng ta về một chân lý căn bản của đức tin: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề làm vất vả cũng là uổng công. Thành kia mà Chúa không phòng giữ, uổng công người trấn thủ canh đêm” (Tv 127,1). Vì thế, mọi kế hoạch cho cuộc sống, mọi sự an toàn và phúc lợi trong tương lai đều phải khởi đi từ sự vâng phục Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa chăm sóc và lo lắng cho những loài sinh vật nhỏ bé như cỏ cây, hoa lá ngoài đồng, chim trời, cá biển... sao Người lại chẳng chăm lo cho những tạo vật được Người tạo dựng nên theo hình ảnh của Người?

Chính vì thế, Đức Giê-su dạy chúng ta phải chú tâm tới một điều: “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Đấng ban cho chúng ta sự sống hẳn cũng biết rằng sự sống đó cần được nuôi dưỡng và nâng đỡ ra sao. Thiên Chúa ban cho chúng ta một thân xác, thì hẳn Người cũng biết thânx ác đó cần tới cơm ăn và áo mặc. Điều quan trọng nhất và tốt nhất là chúng ta hãy giữ mối kết hiệp mật thiết với Đấng trao ban sự sống. Chỉ trong sự tín thác này, chúng ta mới chiến thắng được những lo âu, lo lắng đang đè nặng trong tâm trí và cuộc sống của chúng ta.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

 

 

 

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %