• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


CN 16 năm A: CON NGƯỜI, KHÔNG PHẢI CỎ CÂY

Văn Hào, SDB

Mt 13, 28: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi để gom cỏ lùng lại không?”

Dụ ngôn cỏ dại giữa ruộng lúa chỉ có trong tin mừng Matthêu. Đó là dụ ngôn về cánh chung, về ngày phán xét sau cùng. Đối với những người làm vườn, dụ ngôn gợi nhắc chúng ta nhớ lại những kinh nghiệm vườn tược. Kinh nghiệm cho thấy, ta có thể phân biệt giữa lúa tốt và cỏ dại. Nói thì dễ nhưng bắt tay vào làm thì rất khó, nhất là đối với những ai mới tập sự công việc ruộng rẫy. Ở đây chúng ta đặt ra một câu hỏi khác: Cỏ dại từ đâu mà ra?

Gia đình tôi đã mua một căn hộ 10 năm về trước, và chúng tôi đã chuyển đến căn hộ này vào mùa xuân. Tôi nhận thấy có một giống cỏ lạ trong vườn nhà mình. Khi loại cỏ này lớn lên vào mùa hè, tôi khám phá ra chúng không còn giống một loại cỏ dại nữa. Đó là loại rau ăn được, tên khoa học là Antium lappa. Rễ của nó màu trắng, dài đến 1 mét khi nó lớn và rất khó để nhổ lên . Rễ của giống cây này sẽ bị gãy và tự phân hủy, trước khi tôi có thể bứng nó đi. Tôi còn khám phá ra một điều thú vị về loại cây Antium lappa này. Nhiều người đã dùng nó như một vị thuốc để chữa bệnh. Đó cũng là một loại thảo mộc mà bông của nó có thể được dùng để dệt vải. Khi người ta lấy sợi bông này dính vào lông cừu, thì rất khó để gỡ ra. Đây là loại cỏ dại đối với tôi và gia đình, những đối với những người biết công năng của nó, thì nó chẳng còn là một loại cỏ dại nữa. Phân biệt cỏ dại với một loại thảo mộc hữu ích, tùy thuộc vào sự hiểu biết của từng người.

Trong dụ ngôn về lúa tốt và cỏ dại, dường như không có sự phân định ró ràng giữa hai thể loại này. Một bên là lúa, để làm ra cơm bánh, một bên là cỏ dại, tiếng Hy Lạp là Zizania, và tên khoa học nó thuộc chủng loại Lolium Temulentum. Các bản dịch cổ trong Kinh Thánh vẫn gọi là cỏ lùng, hay cỏ dại. Zizania trông khá giống cây lúa khi nó mới mọc lên, nhưng khi nó lớn lên, người ta dễ phân biệt nó với cây lúa. Dụ ngôn của Chúa Giê-Su khai sáng cho chúng ta thấy loại cỏ Zizania này cuối cùng không thể được sử dụng, không giống như loại cỏ bông, cây thuốc chúng ta nói ở trên. Khi người làm vườn phát hiện ra nó, nó sẽ bị đốn bỏ. Tuy vậy, để phân định lúa tốt với cỏ dại, phải chờ đợi ngày cánh chung, eschaton, khi nhũng người thợ gặt, là các thiên thần sẽ đến thu gom lúa tốt cho vào kho lẫm và gom đốt cỏ dại, như một cuộc phân định chung thẩm.

Đôi khi có một vài sinh viên hỏi tôi có phải dụ ngôn ám chỉ việc tiền định, tức là có một số người đã là lúa tốt, và một số khác đã là cỏ dại ngay từ lúc ban đầu. Vấn nạn đó chống lại gay gắt ý nghĩ ẩn dụ của dụ ngôn. Cây cỏ chỉ là cây cỏ, và con nguời  vẫn là con người. Điểm nhấn của Chúa Giê-Su nơi dụ ngôn, là Ngài không chủ trương nói rằng có những người vốn xấu xa ngay từ ban đầu, từ căn rễ. Nhưng Giáo hội là một thân thể mầu nhiệm pha trộn cả những vị thánh và những tội nhân. Chúng ta không thể nói ai là những người biểu trưng cho lúa tốt, và ai là những cỏ dại, vì bản tính bất toàn của con người chúng ta. Những hiểu biết và những quyết định của chúng ta khi xét đoán người khác không thể nào chính xác, khi chúng ta muốn tiếm quyền Thiên Chúa trong công việc này.

Dương như trong dụ ngôn này, Giáo hội được khuyến mời hãy luôn có thái độ kiên nhẫn và khoan nhượng đối với những con  người mà chúng ta dễ kết án.Tất cả chúng ta hợp thành một nhiệm thể. Chúng ta được dựng  nên tốt lành theo họa ảnh của Thiên Chúa, nhưng ai cũng có khuynh hướng chiều theo tội lỗi. Không ai trong chúng ta trở thành lúa tốt nếu Chúa không trợ giúp. Chúng ta dễ có khuynh hướng sai lạc là muốn làm tinh sạch giáo hội bằng cách loại trừ những ai phạm tội không theo kiểu cách của chúng ta, hoặc không suy nghĩ giống như chúng ta. Khuynh hướng này cần phải được loại bỏ. Chúng ta phải kiên nhẫn để cho Thiên Chúa làm việc, khi chúng ta đang chuẩn bị cho ngày cánh chung sau cùng. Matthêu không hổ thẹn khi nói về Ngày Chung Thẩm ( Ngày Chung Thẩm viết hoa).  “Sẽ có nhiều người bị ném vào nơi khóc lóc nghiến răng, và một số nguời công chính sẽ sáng chói như ánh mặt trời trong vương quốc của Chúa Cha”. Trong khi Giáo Hội vẫn sử dụng quyền bính để thẩm xét những hành vi của con người như trong Mt 18, và những ai còn sống trong sự hiệp thông với Giáo hội, thì với sự hiểu biết hạn hẹp của chúng ta, chúng ta không thể kết luận ai là lúa tốt, ai là cỏ dại . Về điều này chúng ta cần phải nhấn thật mạnh một lần nữa, dụ ngôn với ý nghĩa  ẩn dụ thì vẫn chỉ là ẩn dụ mà thôi. Chúng ta không phải là cây cỏ, nhưng chúng ta là những con người. Khác với cây cỏ, vì nó chỉ là cỏ cây, thế thôi. Chúng ta là con nguời, và chúng ta vẫn có thể lớn lên theo cách thức mà Chúa muốn chúng ta phải là, để phục vụ vương quốc với hoa trái mà chúng ta không bao giờ biết đến, và hoa trái đó ở ngay chính trong tâm hồn chúng ta.

John. W. Martens

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

 

CHÚA NHẬT XV TN A: Hãy nghe đây! (Mt 13:1-23)

Văn Chính, SDB

“Tại sao Thày lại dùng dụ ngôn mà nói với họ ?” (Mt 13,10)

Tại sao Đức Giê-su lại dùng những dụ ngôn mà nói với dân chúng? Các học giả Thánh Kinh nhất trí rằng Đức Giê-su đã dùng các dụ ngôn để dạy dỗ dân chúng. Dụ ngôn là một thể loại mang tính thực tế qua đó người kể muốn dùng những sự so sánh giữa các sự việc với nhau. Thực thế, tiếng Hy Lạp dùng hạn từ Parabole và có thể dịch ra là “so sánh”, “đối chiếu”. Một dụ ngôn được dùng để trình bày một việc tương tự, qua đó một điều gì đó được kể lại một cách “tương tự” như thế. Một cách chung, người ta thường cho rằng một “dụ ngôn”, được dịch sang tiếng Do thái là mashal, có một nghĩa rộng hơn nghĩa của “dụ ngôn”, và bao gồm cả những câu đố, những lời cách ngôn, những ẩn dụ, và những câu chuyện. Cho dù các bậc thày Do Thái cũng dùng các dụ ngôn để giáo huấn, thế nhưng vẫn có những yếu tố khác biệt so với những dụ ngôn của Đức Giê-su.

Phải chăng rằng những dụ ngôn thì quá khô khan? Tôi xin đan cử một câu chuyện.

Nghe đây! Một người gieo giống ra đi gieo giống. Đang khi anh ta gieo giống, một số hạt rơi trên vệ đường, thế là  chim trời bay đến ăn tất cả. Một số hạt khác rơi trên nơi có nhiều sỏi đá và chỉ có ít đất. Hạt giống vẫn mọc lên cho dẫu có ít có đất. Thế nhưng khi mặt trời mọc lên, chúng bị thiêu đốt, và vì không đâm rễ sau, nên chúng héo úa. Một số hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên và che lấp chúng. Có những hạt rơi trên đất tốt nên sinh hoa kết quả, hạt được 100, hạt được 60, hạt được 30. Ai có tai thì hãy nghe!

Bây giờ, các ngươi hiểu chưa?

Có nhiều lý do để Đức Giê-su dùng dụ ngôn trong giáo huấn của Ngài, thế nhưng một trong những lý do chính yếu là dân chúng thường nhớ những câu chuyện hơn là những lý thuyết. Những câu chuyện thường hấp dẫn dân chúng ở mọi độ tuổi và cho phép chúng ta hình dung ra sự việc một cách sống động. Đa số chúng ta đều nhớ những câu chuyện được ưa thích khi chúng ta còn nhỏ, hay hay dễ nhớ lại những câu chuyện được kể đi kể lại nhiều lần cho các trẻ em. Các câu chuyện truyền đạt ý nghĩa ngang qua những vai đơn giản và qua những biến cố xảy ra thường ngày.

Tuy thế, các dụ ngôn cũng không luôn luôn dễ hiểu, nhưng tình tiết của chúng đều có thể mang ý nghĩa. Các dụ ngôn không giới hạn ý nghĩa, nhưng luôn mở rộng. Điều này đúng khi Đức Giê-su giải thích cho các môn đệ tại sao Ngài lại dùng dụ ngôn để giáo huấn dân chúng, và khi Ngài giải thích, một ý nghĩa cụ thể của dụ ngôn đã được gợi lên cho các người nghe.

Khi các môn đệ hỏi Đức Giê-su tại sao Ngài lại dùng dụ ngôn mà giảng dạy dân chúng, Ngài đã giải thích: “Lý do Thày dùng dụ ngôn để nói với họ là vì “chúng nhìn mà không thấy, nghe mà không nghe, không hiểu”. Lời giải thích mang tính tiên tri này cho thấy không phải sức mạnh của câu chuyện, nhưng là tính chất mờ tỏ của dụ ngôn đối với những người không muốn tìm hiểu ý nghĩa của nó. Tuy nhiên như trong sách tiên tri Isaia 6,10 được Đức Giê-su nói lại, đã nhấn mạnh rằng các thính giả của Đức Giê-su phải “nhìn bằng con mắt của họ, nghe bằng đôi tai của họ, và hiểu bằng tấm lòng của họ mà hoán cải – và rồi Ta sẽ chữa lành chúng.” Ý nghĩa luôn mang tính hiện tại đối với người chăm chú tìm kiếm nó.

Đức Giê-su làm cho dụ ngôn mang ý nghĩa hiện tại khi ngài giải thích dụ ngôn về Người Gieo Giống và nói tới một mẫu gương của việc chăm chú nhìn, nghe và tìm kiếm. Hạt giống là Lời Thiên Chúa, và các loại đất mà hạt giống được gieo trồng biểu trưng cho điều kiện tâm hồn con người biết đón nhận Lời Thiên Chúa. Một số hạt giống bị bóp nghẹt đối với những người thiếu hiểu biết; một số người khác vui vẻ đón nhận Lời và hạt giống nơi họ mọc lên nhanh nhưng rồi bị héo úa đi; một số người khác đón nhận nhưng sau đó lại lãng quên đi, vì để tâm “lo tới những sự việc trần thế và vinh hoa phú quý”. Thế nhưng hạt giống Lời Chúa nào rơi “trên đất tốt”, thì sẽ sinh hoa kết quả “hạt được một trăm, hạt được 60, hạt được 30”.

Đức Giê-su đã dùng dụ ngôn Người Gieo Giống và giải thích cho các môn đệ hiểu khi họ đến và xin Ngài cho biết tại sao Ngài lại giảng dạy bằng các dụ ngôn. Ngài trả lời họ rằng “đối với anh em thì được cho biết những bí mật về Nước Trời, còn đối với những người khác thì không được như thế.” Lý do mà những bí mật “không được tỏ ra” không phải vì Đức Giê-su muốn che giấu chân lý, nhưng là vì Ngài muốn các môn đệ phải đi tìm kiếm chân lý. Lối giải thích về dụ ngôn Người Gieo Giống phù hợp với đại đa số đám thính giả của Đức Giê-su. Với dụ ngôn này, Đức Giê-su muốn chất vấn: Bạn là thửa đất đầy sỏi đá hay thửa đất đầy gai góc? Bạn trả lời thế nào?

Cầu Nguyện:

Bạn hãy hòa mình vào đám đông đang nghe Đức Giê-su giảng dạy bằng các dụ ngôn. Bạn đang đón nhận Lời của Ngài thế nào?

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Chủ nhật 6 Phục Sinh năm A: “Tình yêu và Thánh Thần”

Văn Hào, SDB

“Nếu anh em yêu mến Thầy, hãy giữ các giới răn của Thầy” (Ga 14,15).

Lưu giữ những kỷ niệm về Đức Giêsu thật sống động và tiếp nối những công việc Ngài đã khởi sự, là hai công việc chủ yếu đối với mọi Kitô hữu. Các bài đọc Lời Chúa của phụng vụ hôm nay, Chủ nhật 6 Phục sinh, mô tả cách thế giúp chúng ta, cá nhân cũng như cả Hội Thánh, thực hiện những bổn phận quan hệ và cao quý này. Bài diễn từ biệt ly của Chúa Giêsu được thánh Gioan ghi lại ( Ga,14 ) mà chúng ta nghe trong  phụng vụ, đề cập đến cả 2 công việc đó. Việc thứ nhất liên quan đến tình yêu, và  việc thứ hai đề cập đến Thánh Thần, đồng thời cũng liên đới với tình yêu. Cả hai phạm trù này gắn kết chặt chẽ với nhau và không thể tách rời nhau.

Những ai yêu mến Đức Giêsu sẽ tuân giữ giới răn Ngài. Các giới răn của đức Giêsu dường như không phải là 613 điều luật của cựu ước được tóm kết trong thập giới. Nhưng những  giới lệnh Đức Giêsu đã ban bố thì giản đơn hơn, đồng thời mang tính thách đố cao hơn. Tất cả mọi điều răn Ngài gửi trao cho các môn đệ, xoay quanh việc tin vào Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu, đấng khải thị về Chúa Cha, đồng thời cũng nói về việc yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Đức Giêsu và yêu thương nhau. Nếu chúng ta tin và yêu mến, chúng ta sẽ đắc thủ được các nhân đức khác, và các việc lành thánh sẽ nảy sinh. Vì vậy, chúng ta phải đặt mình vào trong chuỗi dây tình yêu  liên hoàn, trải rộng từ Chúa Cha đến Chúa Con và đến những kẻ tin. Cũng tương tự, những ai biết yêu thương nhau, họ cũng sẽ yêu mến Chúa Cha và Chúa Con.

Cộng đoàn đức tin do Chúa Giêsu hình thành đã xác tín  rằng sức mạnh của tình yêu sẽ luôn trổi vượt và phá đổ sức mạnh của hận thù. Họ hiến thân cho lý tưởng của tình yêu, như một năng động lực vĩ đại, vươn tới cả những kẻ thù của mình. Họ phục vụ cho lý tưởng tự hiến, yêu thương, với  một trái tim vị tha, bởi lẽ đây chính là mô thức căn bản của tình yêu mà Đức Giêsu đã vạch dẫn, mời gọi thực hiện. Trong thơ thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô (1 Cor 13), Thánh Phaolô đã mô tả tình yêu đó như sau :“Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả”.

Những lý tưởng cao cả này vượt xa khả năng giới hạn nơi con người mỏng dòn chúng ta. Vì vậy, Đức Giêsu trước lúc ra đi, đã hứa gửi ban sự trợ giúp linh thánh cho các học trò mình qua dạng thức “ một Đấng Bào Chữa” khác. Đó chính là Thánh Thần. Hạn từ Hy Lạp Parakletos (Đấng Bào Chữa) hàm ngậm ý nghĩa về một người nào đó sẽ nâng đỡ và ủi an những ai cần trợ giúp. Từ ngữ này cũng ám chỉ về một vị luật sư nơi tòa án, sẽ đứng ra bảo vệ thân chủ và đấu tranh cho quyền lợi của họ, là chính chúng ta. Khi nói Chúa Thánh Thần là Đấng Bầu Chữa, Đức Giêsu muốn minh định rằng Thánh Thần sẽ thực hiện phần vụ của Ngài giống như Đức Giêsu đã thi hành khi Người còn tại thế.

Tình yêu và hoạt động của Thánh Thần là hai phương cách giúp cho những kỷ niệm về Đức Giêsu được lưu giữ cách sống động, và để những hoạt động mà Người đã khởi sự  được tiếp nối. Chúng ta cần phải luôn gợi nhớ rằng Thiên Chúa là đấng khởi xướng , Thiên Chúa là đấng đã tuôn đổ tình yêu của Ngài xuống trên chúng ta qua Đức Giêsu, và qua những giáo huấn cũng như gương mẫu của Người, chúng ta sẽ học được cách yêu thương lẫn nhau. Thánh Thần của Thiên Chúa được trao ban cho ta qua phép rửa, chúng ta cần phải cộng tác với Ngài, mở lòng cho những sức mạnh  thần thiêng đang tác động trong chúng ta và giữa chúng ta.

Sách Công Vụ Tông Đồ đã mô tả sức mạnh Thần khí được tỏ hiện thế nào qua việc trải rộng đức tin Kitô giáo xuyên suốt thế giới địa trung hải thời cổ đại. Những vị tông đồ kiệt xuất như Phêrô và Phaolô và những vị khác, chẳng hạn Philiphê, cũng góp phần lớn lao trong sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh đến với muôn dân. Bài đọc trong sách Công vụ chương 8 hôm nay cho thấy, sứ điệp Tin Mừng đã được truyền tải, khởi đầu từ Giêsusalem, đến Juđêa và đến cả địa hạt Samaria. Ở đó Philip đã làm những công việc mà Đức Giêsu khi còn tại thế đã làm. Vị tông đồ cũng đã dạy dỗ dân chúng, cũng thực hiện những phép lạ để chữa lành. Sự thành công đó được tiếp nối với những tông đồ ở Giêsusalem, tức Phêrô và Gioan. Hai ông đã đến vùng Samaria, cử hành phép rửa ban Thần khí cho dân chúng vùng này.

Trong khi hai vị tông đồ lớn đã đảm nhận vai trò quan trọng trong việc lưu giữ những kỷ niệm về đức Giêsu được sống động và trải rộng những công việc đi khắp nơi, thì những tín hữu khác, những con người rất bình thường, mà ngày nay chúng ta gọi là những tín hữu buổi sơ khai, cũng có nhiều đóng góp đáng kể. Thơ thứ nhất của Thánh Phêrô nói về họ. Họ là những Kitô hữu gốc dân ngoại, có lẽ là những lao động di dân, và có thể là những khách lạ hay người ngoại quốc trong bối cảnh văn hóa xã hội bấy giờ. Họ tìm đường đến với Giáo hội qua gương sáng của các anh em Kitô hữu khác. Bài đọc hôm nay, trong 1P 3, Thánh Phêrô khuyên mời họ hãy chia sẻ những công việc tốt lành và hãy có một nhãn quan thần học dựa trên khuôn mẫu của Đức Giêsu. Ngài khởi xướng cho họ một kế hoạch truyền giáo, quảng diễn đức tin  bằng việc sẵn sàng chia sẻ, bằng thái độ ân cần và kính phục đối với nhau, tôn trọng  lẫn nhau, can đảm chấp nhận những chống đối, ngay cả có thể bị hành quyết, tất cả để theo gương Đức Giêsu. Phương sách truyền giáo như thế, luôn luôn là  cách thế hữu hiệu nhất để lưu giữ những kỷ niệm về Đức Giêsu được sống động, và để những công việc Đức Giêsu đã khởi sự được tiếp nối thực hiện.

Daniel J.Harrington

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

LỄ MÌNH MÁU THÁNH: Chúng ta được biến đổi theo điều chúng ta ăn (Ga 6,51-59)

Văn Chính, SDB

Thánh nữ Juliana thành Liege, một nữ tu dòng thánh Âu-tinh, đã có một thị kiến trong có thánh nữ nhìn thấy một mặt trăng tròn trịa chiếu sáng. Mặt trăng thật hoàn hảo, ngoại trừ bị  một vài lỗ nhỏ màu đen, mà qua đó thánh nữ được cho biết là do thiếu việc lễ mừng Thánh Thể. Chuyện này đã dẫn đến việc mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa trong niên lịch phụng vụ của Giáo Hội vào năm 1264.

Tại sao chúng ta cần mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa? Lễ mừng này cho chúng ta cơ hội để cám tạ Thiên Chúa vì sự hiện diện thường hằng của Đức Giê-su Ki-tô cách hữu hình trong Bí Tích Mình và Máu Thánh Chúa. Đó cũng là cơ hội để chúng ta tìm hiểu sâu hơn ý nghĩa cúa Bí Tích này cũng như có thái độ sống sao cho xứng đáng, vì Bí Tích Thánh Thể là bí tích của sự sống, mà ai ăn uống bất xứng, sẽ lãnh lấy án phạt cho mình như Thánh Phao-lô đã viết trong thư gởi tín hữu thành Cô-rin-tô: “Thật vậy, ai ăn uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. Vì lẽ đó, trong anh em, có nhiều người ốm đau suy nhược, và cũng có lắm người đã chết” (1Cr 11,29-30).

Để hiểu biết hơn về Bí Tích Thánh Thể, trước hết, chúng ta cần cầu xin Đức Giê-su ban cho chúng ta bí tích này. Bài Tin mừng hôm nay, đúng hơn là cả chương 6 của Tin Mừng Gioan, cho chúng ta câu trả lời. Chúng ta có thể thấy Đức Giê-su đưa ra cho chúng ta 2 lý do:

a)    Đức Giê-su hứa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Qua Bí Tích Thánh Thể, Đức Giê-su cho chúng ta một dấu chỉ hữu hình và một phương cách hiệu quả để hiện diện với chúng ta và đưa chúng ta đến với Ngài. Như Đức Giê-su đã nói: “Ai ăn thịt và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong người ấy”.

b)    Đức Giê-su nói rằng Ngài đến để cho chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10,10). Trong Bí tích Thánh Thể, ngài trở thành phương cách hữu hình của sự trao ban sự sống cho chúng ta, để chúng ta có thể sống dồi dào trong thế giới này và trong cuộc sống mai hậu, như lời Ngài đã nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.  Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,53-54)

Đức Giê-su nói với người Do thái khi họ cùng nhau đến để xin Ngài ban cho họ bánh ăn một lần nữa. Nhưng lần này, Đức Giê-su muốn ban cho họ thứ bánh và máu một cách bí tích. Trong đầu óc phàm tục của họ, họ không thể hiểu và đánh giá được giá trị của bí tích này. Họ xầm xì với nhau: “Làm sao ông này có thể ban cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (c. 52). Thế nhưng Đức Giê-su khẳng quyết: “Thịt tôi chính là của ăn, máu tôi thật là của uống” (c. 55). Kết cục, những người Do Thái đã bỏ đi khi nghe về Bí Tích Thánh Thể, vì họ thấy bí tích này quả không có nghĩa gì đối với họ trong cuộc sống vật chất của trần gian.

Vấn nạn mà những người theo Đức Giê-su đặt ra vẫn còn là một vấn đề đối với chúng ta ngày hôm nay. Nếu chúng ta đến với Bí Tích Thánh Thể với một đầu óc duy vật, chúng ta chẳng thể hiểu được, và tất nhiên sẽ đánh mất tất cả những ơn ích của một món quà tuyệt vời của Tình Yêu Thiên Chúa. Bí Tích Thánh Thể thực là của ăn và của uống cho chúng ta, nhưng đồng thời cũng rất khác biệt với những loại đồ ăn thức uống của trần gian. Điều khác biệt lớn nhất hệ tại ở những lời của Đức Ki-tô mà Thánh Âu-Tinh đã được nghe trong lúc cầu nguyện: “Con chẳng thể làm cho Ta đi vào thân xác con trừ khi con đón nhận như một thức ăn cho cơ thể con; và đó cũng là cách con được biến đổi trong Ta”. Hằng ngày, chúng ta biến đổi những thức ăn thành thịt máu chúng ta, thì thức ăn của Bí Tích Thánh Thể cũng biến đổi chúng ta thành thân mình của Đức Ki-tô. Câu nói của Ludwig Feuerbach “chúng ta sẽ trở thành điều mà chúng ta ăn” thì càng đúng hơn nữa trong sự cảm nghiệm về Bí Tích Thánh Thể.

Nhưng tại sao nhiều người trong chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể, nhưng không cảm nghiệm được sự biến đổi tận căn này? Có thể câu chuyện sau đây cũng soi sáng việc này: Một nhóm gồm những người Nga và người Hoa Kỳ cùng tham gia vào một cuộc thám hiểm. Trong ngăn chứa lương thực có loại bánh mì đen của người Nga. Vị của nó thật ngon, nhưng lại quá cứng để nhai. Chuyện xảy ra là trong một bữa ăn, một người Hoa Kỳ cắn một miếng bánh và bị gãy một chiếc răng. Anh ta liền quẳng ổ bánh vào trong ngăn và làu bàu: “Đúng là loại bánh mì cộng sản”. Nhưng một người Nga cãi lại: “Chẳng phải vì loại bánh của xã hội chủ nghĩa đâu, mà là do hàm răng hư thối của tư bản đấy”.

Nếu chúng ta không cảm nghiệm được năng lực biến đổi của Bí Tích Thánh Thể, thì có lẽ không phải do Bí Tích Thánh Thể, nhưng chính do việc thiếu niềm tin của chúng ta. Ngày hôm nay, chúng ta hãy đến với Bí Tích Thánh Thể trong một đức tin sống động tin vào sự hiện diện thực sự của Đức Giê-su trong Bí Tích Thánh Thể, và chúng ta sẽ cảm nghiệm quyền năng cứu độ của Thiên Chúa cũng nhưng tình yêu có sức biến đổi của Ngài.

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Chủ nhật 5 Phục Sinh năm A: Lưu giữ Kỷ niệm sống động về Đức Giêsu

Văn Hào, SDB

“Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9).

Vào phần 2 mùa Phục sinh, những câu hỏi chính được đặt ra cho mọi người: “Làm sao lưu giữ được những kỷ niệm sống động về Đức Giêsu ? - Làm sao để những công việc Đức Giêsu đã thực hiện và khơi mào trước đây, được tiếp nối sau khi Ngài chết và trở về với Chúa Cha?”. Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta hãy trở về với những chỉ dẫn nơi bài huấn từ của Đức Giêsu trong bữa tiệc ly mà Thánh Gioan đã ghi lại (Ga 14,17). Bối cảnh của bài diễn từ này nằm trong bữa tối cuối cùng với các môn đệ, trước khi Chúa Giêsu thọ nạn. Đức Giêsu đã nhắn gửi những học trò thân thiết của mình, cách thức lưu giữ những kỷ niệm về Ngài và thực hiện sứ mạng Ngài trao phó. Những chỉ huấn này vẫn  thức thời và luôn mang tính thời sự cho Giáo hội trong mọi thời đại, đặc biệt cho chúng ta ngày hôm nay.

Khởi đầu bài diễn từ, Đức Giêsu và các môn đệ đã trò chuyện với nhau. Trong mẩu đối thoại đó, Ngài đưa ra một khẳng quyết. Một môn đệ  đã bình phẩm,  hiểu sai điều  Chúa giáo huấn.Vì thế, Chúa  Giêsu đã nói những lời dạy bảo rõ nét hơn và tích cựu hơn về chính Ngài.

Trong bài Tin Mừng hôm nay trích trong Gioan chương 14, Đức Giêsu thoạt đầu nói về việc đi dọn chỗ cho các môn đệ, và chỉ cho các ông đâu là lối đường đưa họ đến  đó. Tôma cắt ngang và hỏi Chúa, “Chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường đi”. Đức Giêsu trả lời, chỗ đó chính là tình trạng “ chúng ta được sống với Chúa Cha” , và “Ngài chính là con đường đi, là sự thật và là sự sống”.

Rồi đến lượt Philip,  Ông ta nói với Chúa là hãy cho họ thấy Chúa Cha, và điều đó cũng đủ rồi. Điều này không giản đơn, có gì đó xem ra có vẻ ngô nghê và hơi khó chịu. Tuy nhiên, yêu cầu của Philip đã khiến đức Giêsu truyền đạt cho các học trò của mình nhãn quan sâu xa nhất và thâm thúy nhất được diễn đạt trong suốt Tin mừng của T. Gioan. “Ai thấy Thầy là thấy Cha”. Sứ điệp mà Gioan nhắm tới, là trình bày Đức Giêsu vừa như là người khải thị về Chúa Cha, vừa là hiện thân của chính Chúa Cha. Nếu ta muốn biết Thiên Chúa là ai, Thiên Chúa nghĩ gì, và Thiên Chúa muốn gì nơi ta, chúng ta phải đến với đức Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha.

Đức Giêsu chính là “Lời” của Thiên Chúa được gởi trao cho con người, nên những gì chúng ta biết và nhớ về Ngài, sẽ trở nên rất quý báu. Bởi lẽ khi chúng ta biết  Đức Giêsu là chúng ta biết  Chúa Cha. Đối với chúng ta là những kẻ tin, cũng như đối với toàn thế Hội Thánh, việc cần thiết phải làm là lưu giữ những kỷ niệm về Chúa Giêsu cho thật sống động. Chúng ta làm được điều đó, bằng việc đọc và gẫm suy Lời Chúa, bằng việc cùng nhau cử hành Thánh Thể để tưởng nhớ đến đức Giêsu, bằng việc thực hành những truyền thống đức tin của Hội Thánh, và cùng nhau sống theo những chỉ dạy khôn ngoan của chính Ngài. Những kỷ niệm về đức Giêsu sẽ đưa dẫn chúng ta hướng về giá trị cao quý của cuộc sống làm người, sẽ giúp chúng ta loại trừ những hành vi sai trái, sẽ làm cho chúng ta ý thức tầm quan trọng của một tình yêu vị kỷ, biết yêu thương cả những kẻ thù, sẽ công bố cho mọi người biết rằng chết không phải là hết, và sẽ giúp chúng ta xác tín rằng trong Đức Giêsu, tình yêu và sự sống sẽ chiến thắng hận thù và cái chết.

Giữ mãi kỷ niệm về đức Giêsu cho thật sống động, là một thách đố lớn nhất cho chúng ta trong mùa Phục sinh. Về vấn đề này, Giáo hội  với những định chế của mình đóng một vai trò chủ đạo và quan trọng. Bài đọc ngày hôm nay trong sách Công vụ tông đồ chương 6, cho chúng ta thấy được các Kitô hữu buổi sơ khai đã áp dụng những định chế cụ thể. Trường hợp các bà góa trong xã hội theo văn hóa Hy Lạp ngày xưa thời giáo hội sơ khai, là một ví dụ. Để giải quyết, nhóm 12 tông đồ đã chỉ định 7 người Hy Lạp (có lẽ là phó tế?) để chăm sóc cho họ và cho những người khác. Sự kiện này cho thấy Giáo hội ban đầu đã thiết định những quy chế để áp dụng, và Giáo hội vẫn giữ mãi những kỷ niệm về Chúa Giêsu cách sống động. Kết quả là Lời của Chúa vẫn tiếp tục được tỏa rộng.

Trong thân thể mầu nhiệm đức Kitô, chúng ta được chuyển giao để thủ đắc một căn tính mới và một phẩm giá mới. Các Kitô hữu gốc dân ngoại, được nói tới trong thơ thứ nhất của Thánh Phêrô, vẫn bị coi như là nhửng người bị gạt ra bên ngoài, trên phương diện chính trị và xã hội. Nhưng Thánh Phêrô đã mặc cho họ một tước hiệu ấn tượng nhất như tước hiệu dành cho dân Israel thời cựu ước. Qua phép rửa nhân danh Đức Giêsu, họ trở thành “ Một dân được tuyển chọn, thuộc hàng tư tế vương giả, chủng tộc thánh thiện, là dân riêng của Chúa”. Công việc của họ bây giờ là làm chứng tá về đức Giêsu, như một viên đá sống động, bị con người loại bỏ nhưng được tuyển chọn và trở nên quý giá trong con mắt của Thiên Chúa. Những con người đã một thời lưu lạc chẳng còn dân tộc, nay đã là dân của Thiên Chúa. Họ kết liên với nhau để cho mọi người biết cách thức Thiên Chúa đã kêu gọi họ thoát khỏi vùng tối tăm đến nơi đầy ánh sánh huy hoàng như thế nào.

Giữ mãi những kỷ niệm về Chúa Giêsu một cách sinh động là bổn phận của mọi Kitô hữu và của cả Hội Thánh. Nếu chúng ta thật sự tin rằng Đức Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống, chúng ta sẽ biết khám phá ra những cách thức mới mẻ và đầy sáng tạo để lưu giữ mãi những kỷ niệm sống động về Ngài. Nếu chúng ta thật sự tin rằng “Ai thấy và nghe Đức Giêsu, chính là nghe và xem thấy Chúa Cha”, thì việc lưu tồn những kỷ niệm sống động về Ngài sẽ là một công việc quan hệ nhất và ý nghĩa nhất mà mỗi người chúng ta có thể và phải đem ra thực hành.

Daniel J. Harrington.SJ.

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

LỄ CHÚA BA NGÔI: Thờ Thần nào, sẽ nên vậy

Văn Chính, SDB

Xuất hành 34:4-6, 8-9; 2 Cô-rin-tô 13:11-13; Gio-an 3:16-18

Có lẽ chúng ta đã quen thuộc với mẩu chuyện kể về thánh Âu tinh thành Hippo, một nhà thần học nổi tiếng và cậu bé trên bãi biển. Thánh Âu Tinh muốn suy biết và hiểu rõ về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào: Một Thiên Chúa duy nhất, nhưng lại có Ba Ngôi vị. Một mà lại là 3, rồi 3 lại là 1. Thật khó hiểu và quá phức tạp với sự suy lý của trí hiểu con người. Thế rồi Thánh Âu tinh đã nhận được bài học từ cậu bé: việc cố tìm hiểu như thế thật vô ích, vì trí khôn giới hạn của con người không thể dung nạp được mầu nhiệm lớn lao vô hạn như thế, tựa như việc cố lấy hết nước của đại dương để đổ vào một lỗ cát nhỏ được đào trên bãi biển.

Một điều không thể hiểu được với trí khôn của loài người, vậy thì tại sao phụng vụ Chúa nhật hôm nay lại mừng một cách long trọng mầu nhiệm Ba Ngôi như thế? Chắc chắc Phụng vụ Giáo hội không muốn đưa mầu nhiệm này ra để hù dọa chúng ta, hoặc là làm linh thiêng hóa hệ thống giáo lý hay thần học của Ki-tô giáo. Tuy trí khôn của con người không thể hiểu được mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi như thế nào hay mầu nhiệm đó ra sao,  nhưng trí khôn con người vẫn có thể hiểu ra được tại sao Thiên Chúa lại tỏ lộ mầu nhiệm này cho con người. Quả thế, khi Thiên Chúa tỏ lộ mầu nhiệm Ba Ngôi, một mầu nhiệm Tình Yêu vĩ đại là bản chất của Thiên Chúa, thì không phải để trí khôn con người có dịp phân tích, tìm hiểu, hay lý giải mầu nhiệm này, nhưng là để con người nhận biết được Tình yêu của Thiên Chúa và đi vào trong mối tương giao tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là cái lý do tại sao mà Thiên Chúa muốn tỏ lộ mầu nhiệm này cho chúng ta.

Trước hết, chúng ta đâu thấy các bài đọc Kinh thánh trong ngày lễ hôm nay cung cấp cho chúng ta một ý niệm hay một sự lý giải minh tỏ về Tín lý Một Chúa Ba Ngôi. Ngay cả hạn từ “Ba Ngôi” cũng chẳng thấy có trong Kinh thánh. Các tín hữu thời Giáo hội sơ khai đã biết đến giáo lý này và đón nhận giáo lý này như một điều phải tin không phải khi họ hiểu về mầu nhiệm này, nhưng là khi họ nhận biết về lý do tại sao Thiên Chúa tỏ lộ mầu nhiệm này.

Trong lịch sử cứu độ, Thánh Kinh chúng ta thấy Chúa Cha là Đấng Tạo dựng, Chúa Con là Đấng Cứu Độ, và Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh hóa. Tuy thế, không có ngôi nào lại hiện hữu và hoạt động riêng rẽ một mình. Rồi chính Đức Giê-su đã nói rõ hơn cho chúng ta về Chúa Cha là Đấng đã sai Ngài và về Chúa Thánh Thần, Đấng mà Ngài đã trao ban cho các môn đệ và mọi tín hữu. Đức Giê-su nói rằng Chúa Cha đã trao ban Chúa Con là tất cả những gì Người có, rồi đến lượt Chúa Con lại trao ban Thánh Thần là tất cả những gì Ngài nhận được từ Chúa Cha. Như thế, mầu nhiệm Ba Ngôi là một mầu nhiệm của Tình yêu trao ban, một mầu nhiệm để cảm nhận, để sống hơn là để phân tích tìm hiểu bằng lý lẽ của con người.

Thêm vào đó, điều quan trọng của tín điều này hệ ở chỗ: chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, vì thế, càng cảm nhận về Thiên Chúa, thì chúng ta càng biết về bản thân mình hơn.

Những nhà chuyên môn về tôn giáo nói với chúng ta rằng con người chúng ta sẽ giống như Vị thần mà chúng ta tôn thờ. Kẻ tôn thờ thần chiến tranh thì có xu hướng gây chiến. Kẻ thờ thần khoái lạc, có xu hướng tìm kiếm khoái lạc, kẻ thở một Thiên Chúa hay nổi giận, có xu hướng trả thù, còn kẻ thờ phượng Thiên Chúa Tình yêu, thì có xu hướng sống cho Tình yêu. Thờ Chúa nào, thì cũng nên giống như vậy.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nói với chúng ta về loại Thiên Chúa của Tình yêu mà chúng ta tôn thờ, và chúng ta phải trở nên loại người nào. Có hai điều để suy tư:

Thiên Chúa không hiện hữu đơn độc, nhưng trong một cộng đoàn tình yêu và chia sẻ. Thiên Chúa không phải là một vị thần cô đơn, nên kẻ thờ phượng Người phải tránh lối sống cô độc, biệt lập. Lối sống của Ki-tô giáo không mang màu sắc bi quan của sự xa tránh xã hội, hay những mối tương giao.

Một tình yêu chân thực luôn mang 3 thành phần. Cộng đoàn Chúa Ba Ngôi thật trọn vẹn. (Hình ảnh gia đình: cha – mẹ – con cái)

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một thách đố, và cũng là lời mời gọi chúng ta biết đi vào mối tương giao giữa bản thân chúng ta – Thiên Chúa – tha nhân. Xin Thiên Chúa Ba Ngôi chúc phúc cho chúng ta.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Chủ Nhật 4 Phục Sinh năm A: CHỨNG TÁ CUỘC KHỔ NẠN

Văn Hào, SDB

“Chính Ngài mang lấy tội của chúng ta nơi thân thể Ngài, đưa lên cây Thập giá” (1P 2,24).

Trong thế giới Hy Lạp- Rôma ngày xưa, những nô lệ đôi khi cũng được đối xử tử tế, nhưng hoàn toàn do tùy thích của người chủ, chứ luật pháp không đòi buộc. Ngay cả những nô lệ tại nhà, như được nói tới trong thơ thứ nhất của Thánh Phêrô, vẫn có thể bị bạo hành theo ý của ông chủ. Thánh Phêrô trong thơ thứ nhất của Ngài đã khuyên những người nô lệ đó hãy  phục tùng quyền bính của người chủ, cả khi họ tử tế cũng như lúc họ khắc nghiệt. Người nô lệ không có một quyền gì trên cuộc sống của họ, tất cả hoàn toàn lệ thuộc vào chủ. Thánh Phêrô đưa ra lời mời gọi này, hàm ngậm sự  nhẫn nhục chịu đựng, ngay cả khi  thân xác họ bị khai thác hay bị lạm dụng tình dục.

Khi đọc lại những lời khuyên đó trong bối cảnh xã hội thế kỷ đầu tiên, chúng ta hôm nay sẽ hiểu sứ điệp đó như thế nào? “Nếu anh em hứng chịu những đánh đập khi anh em sai lỗi, thì dễ hiểu, nhưng khi anh em làm đúng mà vẫn phải  chịu đựng những bất công, thì có Thiên Chúa chứng giám cho anh em”. Khuyên nhủ tín hữu như thế, dường như Thánh Tông đồ đòi hỏi phải biết cam chịu trong câm nín trước những tàn bạo và bất công, lại còn có vẻ gián tiếp tán thưởng những hành vi gian ác đó. Không phải vậy đâu. Quả thật, khi chúng ta nhìn vào thực trạng xã hội ngày hôm nay, chúng ta sẽ thấy có một hình thái nô lệ mới đang nở rộ quanh ta. Sứ điệp mà Thánh Phêrô nói ở trên hàm ngậm điều gì, để ngỏ trao cho con người thời đại này?

Rất quan trọng, chúng ta phải nhớ rằng, vào thế kỷ đầu tiên, việc mua bán nô lệ là một định chế xã hội hợp pháp. Việc sang tay trao đổi nô lệ, hoàn toàn tùy thuộc vào cá nhân các ông chủ . Nếu có ai giúp các nô lệ trốn thoát, nguời đó sẽ bị pháp luật trừng trị. Chính những nô lệ bỏ trốn sẽ bị đối xử bằng những cực hình rất kinh sợ, và đương nhiên điều đó hợp pháp lúc bấy giờ. Giáo hội thời sơ khai chỉ là một thiểu số nhỏ nhoi, hầu như cũng chẳng có tiếng nói gì về mặt xã hội và chính trị. Chính vì thế, các Kitô hữu thuở ban đầu đứng trước tình trạng này, chỉ biết khuyến khích các nô lệ hãy noi gương Chúa Giêsu, chịu đựng những bất công và chấp nhận để tiếp bước theo Ngài.

Đoạn văn trong thơ thứ nhất của Thánh Phêrô, (1P2,22-24), theo ý kiến của một vài học giả, là một phần trong thánh thi của các tín hữu thời sơ khai. Thánh thi này quy chiếu vào cuộc khổ nạn  Đức Giêsu, như  ngôn sứ Isaia nói tới (Is53, 4-12).  Đó là bài ca về “ Người Tôi Tớ Đau Khổ”. Những bi thương của các nô lệ trong thế kỷ đầu tiên là một điều  rõ rệt, không cần bàn cãi, và những khổ đau đó được gắn kết với những kinh nghiệm trong nỗi thống khổ  của chính Đức Giêsu. Quả thật, những ai hứng chịu đau khổ cách bất công, cả trong thời đại ngày hôm nay, vẫn có thể suy tưởng trạng huống đời mình liên đới với Đức Giêsu, “Đấng đã bị đối xử tàn bạo, phũ phàng, nhưng không oán thù, hoàn toàn tín thác vào Đấng sẽ giải oan cho mình”. Đau khổ ngày nay, được mặc lấy một ý nghĩa linh thánh, để những khốn khó Đức Giêsu đã gánh chịu được hiện lộ rõ nét nơi tất cả những ai chấp nhận khổ đau trong thân thể mầu nhiệm của Ngài.

Tuy nhiên, có một nguy cơ ở đây, đó là chúng ta cứ thụ động thinh lặng đứng ngoài lề, khi thấy những bóc lột và lạm dụng người khác gây ra cho những kẻ yếu thế, khiến họ phải chịu đựng cách bất công và vô lý. Không phải vậy. Thánh giáo phụ Chrysolomo, trong khảo luận “Bàn về hư danh” (số 69) đã chỉ dạy các người trẻ hãy chấp nhận những bất công xảy đến, nhưng “tuyệt đối không để điều đó tiếp tục xảy ra”. Khi nào những đau thương  và bất công xảy đến, bổn phận chúng ta là phải cố gắng đẩy lùi tình trạng đó bằng chứng tá của chính mình. Dầu sao, có những lần chúng ta cố ngăn chặn những bất công mà người khác phải gánh chịu, nhưng không cách nào làm được, chúng ta vẫn phải cam chịu. Ở đây, mẫu gương của Chúa Giêsu sẽ giúp chúng ta hiểu được rằng chính Ngài là đấng vô tội đã hứng chịu mọi phũ phàng và gian ác, để qua những khổ đau đó, Ngài chữa lành mọi thương tích nơi chúng ta. Tôi không muốn hứng chịu khổ đau. Tôi cũng không muốn những người tôi yêu thương  phải lãnh lấy đau khổ. Tôi cũng  chẳng muốn ai chịu đựng như thế. Nhưng mổi lần chúng ta đón nhận những bầm dập và nghiệt ngã, điều quan trọng là chúng ta ý thức được Đức Kitô, vị Mục Tử Nhân Lành thấu rõ những khổ đau nơi thân phận con người chúng ta. Thánh Phêrô trong thơ thứ nhất của Ngài đã viết: “Chúng ta bị tan tác như chiên non tan đàn xẻ nghé, nhưng chúng ta sẽ được chủ chăn dẫn về, và Ngài cũng là Đấng chăm sóc linh hồn chúng ta”. Đoạn văn trong Is 53,6 nói rõ hơn: “ Vị Mục tử Nhân lành đã chuốc lấy khổ đau, để khơi nguồn cứu độ, vì chúng ta là những con chiên lang thang mỗi người mỗi ngả, nhưng đức Chúa đã đặt mọi tội khiên chúng ta trên đầu Ngài”.

Nỗi thống khổ của đức Giêsu vô tội giúp chúng ta nhận thức được ý nghĩa của những đau khổ chúng ta đã và đang kinh qua, đồng thời hướng việc chặn đứng những bất công của chúng ta đến một mục đích linh thiêng. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu ngày xưa, cũng cho phép chúng ta thông dự với những ai đang gánh chịu đau khổ ngày hôm nay, đang bị bách hại sống kiếp nô lệ, đang bị lạm dụng thân xác, bị áp bức hay bị tổn thương bởi muôn vàn lý do khác nhau. Khi  chúng ta chịu đựng đau khổ, hoặc cố gắng ngăn chặn những khổ đau người khác  gánh chịu, điều quan trọng là chúng ta nhận ra rằng Đấng Chăn Chiên Nhân Lành không muốn tạo ra những khổ đau cho ta, nhưng Ngài muốn cất đi những đau khổ đó. Chúng ta sẽ làm chứng tá rằng vị Mục Tử Nhân Lành đó đã đến trần gian để cho ta “được sống và sống dồi dào”(Ga 10,10),  và Ngài mong muốn đưa chúng ta trở về với đàn chiên trong an lành.

John W.Martens

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %