• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


Chủ nhật 6 Phục Sinh năm A: “Tình yêu và Thánh Thần”

Văn Hào, SDB

“Nếu anh em yêu mến Thầy, hãy giữ các giới răn của Thầy” (Ga 14,15).

Lưu giữ những kỷ niệm về Đức Giêsu thật sống động và tiếp nối những công việc Ngài đã khởi sự, là hai công việc chủ yếu đối với mọi Kitô hữu. Các bài đọc Lời Chúa của phụng vụ hôm nay, Chủ nhật 6 Phục sinh, mô tả cách thế giúp chúng ta, cá nhân cũng như cả Hội Thánh, thực hiện những bổn phận quan hệ và cao quý này. Bài diễn từ biệt ly của Chúa Giêsu được thánh Gioan ghi lại ( Ga,14 ) mà chúng ta nghe trong  phụng vụ, đề cập đến cả 2 công việc đó. Việc thứ nhất liên quan đến tình yêu, và  việc thứ hai đề cập đến Thánh Thần, đồng thời cũng liên đới với tình yêu. Cả hai phạm trù này gắn kết chặt chẽ với nhau và không thể tách rời nhau.

Những ai yêu mến Đức Giêsu sẽ tuân giữ giới răn Ngài. Các giới răn của đức Giêsu dường như không phải là 613 điều luật của cựu ước được tóm kết trong thập giới. Nhưng những  giới lệnh Đức Giêsu đã ban bố thì giản đơn hơn, đồng thời mang tính thách đố cao hơn. Tất cả mọi điều răn Ngài gửi trao cho các môn đệ, xoay quanh việc tin vào Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu, đấng khải thị về Chúa Cha, đồng thời cũng nói về việc yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Đức Giêsu và yêu thương nhau. Nếu chúng ta tin và yêu mến, chúng ta sẽ đắc thủ được các nhân đức khác, và các việc lành thánh sẽ nảy sinh. Vì vậy, chúng ta phải đặt mình vào trong chuỗi dây tình yêu  liên hoàn, trải rộng từ Chúa Cha đến Chúa Con và đến những kẻ tin. Cũng tương tự, những ai biết yêu thương nhau, họ cũng sẽ yêu mến Chúa Cha và Chúa Con.

Cộng đoàn đức tin do Chúa Giêsu hình thành đã xác tín  rằng sức mạnh của tình yêu sẽ luôn trổi vượt và phá đổ sức mạnh của hận thù. Họ hiến thân cho lý tưởng của tình yêu, như một năng động lực vĩ đại, vươn tới cả những kẻ thù của mình. Họ phục vụ cho lý tưởng tự hiến, yêu thương, với  một trái tim vị tha, bởi lẽ đây chính là mô thức căn bản của tình yêu mà Đức Giêsu đã vạch dẫn, mời gọi thực hiện. Trong thơ thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô (1 Cor 13), Thánh Phaolô đã mô tả tình yêu đó như sau :“Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả”.

Những lý tưởng cao cả này vượt xa khả năng giới hạn nơi con người mỏng dòn chúng ta. Vì vậy, Đức Giêsu trước lúc ra đi, đã hứa gửi ban sự trợ giúp linh thánh cho các học trò mình qua dạng thức “ một Đấng Bào Chữa” khác. Đó chính là Thánh Thần. Hạn từ Hy Lạp Parakletos (Đấng Bào Chữa) hàm ngậm ý nghĩa về một người nào đó sẽ nâng đỡ và ủi an những ai cần trợ giúp. Từ ngữ này cũng ám chỉ về một vị luật sư nơi tòa án, sẽ đứng ra bảo vệ thân chủ và đấu tranh cho quyền lợi của họ, là chính chúng ta. Khi nói Chúa Thánh Thần là Đấng Bầu Chữa, Đức Giêsu muốn minh định rằng Thánh Thần sẽ thực hiện phần vụ của Ngài giống như Đức Giêsu đã thi hành khi Người còn tại thế.

Tình yêu và hoạt động của Thánh Thần là hai phương cách giúp cho những kỷ niệm về Đức Giêsu được lưu giữ cách sống động, và để những hoạt động mà Người đã khởi sự  được tiếp nối. Chúng ta cần phải luôn gợi nhớ rằng Thiên Chúa là đấng khởi xướng , Thiên Chúa là đấng đã tuôn đổ tình yêu của Ngài xuống trên chúng ta qua Đức Giêsu, và qua những giáo huấn cũng như gương mẫu của Người, chúng ta sẽ học được cách yêu thương lẫn nhau. Thánh Thần của Thiên Chúa được trao ban cho ta qua phép rửa, chúng ta cần phải cộng tác với Ngài, mở lòng cho những sức mạnh  thần thiêng đang tác động trong chúng ta và giữa chúng ta.

Sách Công Vụ Tông Đồ đã mô tả sức mạnh Thần khí được tỏ hiện thế nào qua việc trải rộng đức tin Kitô giáo xuyên suốt thế giới địa trung hải thời cổ đại. Những vị tông đồ kiệt xuất như Phêrô và Phaolô và những vị khác, chẳng hạn Philiphê, cũng góp phần lớn lao trong sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh đến với muôn dân. Bài đọc trong sách Công vụ chương 8 hôm nay cho thấy, sứ điệp Tin Mừng đã được truyền tải, khởi đầu từ Giêsusalem, đến Juđêa và đến cả địa hạt Samaria. Ở đó Philip đã làm những công việc mà Đức Giêsu khi còn tại thế đã làm. Vị tông đồ cũng đã dạy dỗ dân chúng, cũng thực hiện những phép lạ để chữa lành. Sự thành công đó được tiếp nối với những tông đồ ở Giêsusalem, tức Phêrô và Gioan. Hai ông đã đến vùng Samaria, cử hành phép rửa ban Thần khí cho dân chúng vùng này.

Trong khi hai vị tông đồ lớn đã đảm nhận vai trò quan trọng trong việc lưu giữ những kỷ niệm về đức Giêsu được sống động và trải rộng những công việc đi khắp nơi, thì những tín hữu khác, những con người rất bình thường, mà ngày nay chúng ta gọi là những tín hữu buổi sơ khai, cũng có nhiều đóng góp đáng kể. Thơ thứ nhất của Thánh Phêrô nói về họ. Họ là những Kitô hữu gốc dân ngoại, có lẽ là những lao động di dân, và có thể là những khách lạ hay người ngoại quốc trong bối cảnh văn hóa xã hội bấy giờ. Họ tìm đường đến với Giáo hội qua gương sáng của các anh em Kitô hữu khác. Bài đọc hôm nay, trong 1P 3, Thánh Phêrô khuyên mời họ hãy chia sẻ những công việc tốt lành và hãy có một nhãn quan thần học dựa trên khuôn mẫu của Đức Giêsu. Ngài khởi xướng cho họ một kế hoạch truyền giáo, quảng diễn đức tin  bằng việc sẵn sàng chia sẻ, bằng thái độ ân cần và kính phục đối với nhau, tôn trọng  lẫn nhau, can đảm chấp nhận những chống đối, ngay cả có thể bị hành quyết, tất cả để theo gương Đức Giêsu. Phương sách truyền giáo như thế, luôn luôn là  cách thế hữu hiệu nhất để lưu giữ những kỷ niệm về Đức Giêsu được sống động, và để những công việc Đức Giêsu đã khởi sự được tiếp nối thực hiện.

Daniel J.Harrington

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

 

Chủ nhật 5 Phục Sinh năm A: Lưu giữ Kỷ niệm sống động về Đức Giêsu

Văn Hào, SDB

“Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9).

Vào phần 2 mùa Phục sinh, những câu hỏi chính được đặt ra cho mọi người: “Làm sao lưu giữ được những kỷ niệm sống động về Đức Giêsu ? - Làm sao để những công việc Đức Giêsu đã thực hiện và khơi mào trước đây, được tiếp nối sau khi Ngài chết và trở về với Chúa Cha?”. Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta hãy trở về với những chỉ dẫn nơi bài huấn từ của Đức Giêsu trong bữa tiệc ly mà Thánh Gioan đã ghi lại (Ga 14,17). Bối cảnh của bài diễn từ này nằm trong bữa tối cuối cùng với các môn đệ, trước khi Chúa Giêsu thọ nạn. Đức Giêsu đã nhắn gửi những học trò thân thiết của mình, cách thức lưu giữ những kỷ niệm về Ngài và thực hiện sứ mạng Ngài trao phó. Những chỉ huấn này vẫn  thức thời và luôn mang tính thời sự cho Giáo hội trong mọi thời đại, đặc biệt cho chúng ta ngày hôm nay.

Khởi đầu bài diễn từ, Đức Giêsu và các môn đệ đã trò chuyện với nhau. Trong mẩu đối thoại đó, Ngài đưa ra một khẳng quyết. Một môn đệ  đã bình phẩm,  hiểu sai điều  Chúa giáo huấn.Vì thế, Chúa  Giêsu đã nói những lời dạy bảo rõ nét hơn và tích cựu hơn về chính Ngài.

Trong bài Tin Mừng hôm nay trích trong Gioan chương 14, Đức Giêsu thoạt đầu nói về việc đi dọn chỗ cho các môn đệ, và chỉ cho các ông đâu là lối đường đưa họ đến  đó. Tôma cắt ngang và hỏi Chúa, “Chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường đi”. Đức Giêsu trả lời, chỗ đó chính là tình trạng “ chúng ta được sống với Chúa Cha” , và “Ngài chính là con đường đi, là sự thật và là sự sống”.

Rồi đến lượt Philip,  Ông ta nói với Chúa là hãy cho họ thấy Chúa Cha, và điều đó cũng đủ rồi. Điều này không giản đơn, có gì đó xem ra có vẻ ngô nghê và hơi khó chịu. Tuy nhiên, yêu cầu của Philip đã khiến đức Giêsu truyền đạt cho các học trò của mình nhãn quan sâu xa nhất và thâm thúy nhất được diễn đạt trong suốt Tin mừng của T. Gioan. “Ai thấy Thầy là thấy Cha”. Sứ điệp mà Gioan nhắm tới, là trình bày Đức Giêsu vừa như là người khải thị về Chúa Cha, vừa là hiện thân của chính Chúa Cha. Nếu ta muốn biết Thiên Chúa là ai, Thiên Chúa nghĩ gì, và Thiên Chúa muốn gì nơi ta, chúng ta phải đến với đức Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha.

Đức Giêsu chính là “Lời” của Thiên Chúa được gởi trao cho con người, nên những gì chúng ta biết và nhớ về Ngài, sẽ trở nên rất quý báu. Bởi lẽ khi chúng ta biết  Đức Giêsu là chúng ta biết  Chúa Cha. Đối với chúng ta là những kẻ tin, cũng như đối với toàn thế Hội Thánh, việc cần thiết phải làm là lưu giữ những kỷ niệm về Chúa Giêsu cho thật sống động. Chúng ta làm được điều đó, bằng việc đọc và gẫm suy Lời Chúa, bằng việc cùng nhau cử hành Thánh Thể để tưởng nhớ đến đức Giêsu, bằng việc thực hành những truyền thống đức tin của Hội Thánh, và cùng nhau sống theo những chỉ dạy khôn ngoan của chính Ngài. Những kỷ niệm về đức Giêsu sẽ đưa dẫn chúng ta hướng về giá trị cao quý của cuộc sống làm người, sẽ giúp chúng ta loại trừ những hành vi sai trái, sẽ làm cho chúng ta ý thức tầm quan trọng của một tình yêu vị kỷ, biết yêu thương cả những kẻ thù, sẽ công bố cho mọi người biết rằng chết không phải là hết, và sẽ giúp chúng ta xác tín rằng trong Đức Giêsu, tình yêu và sự sống sẽ chiến thắng hận thù và cái chết.

Giữ mãi kỷ niệm về đức Giêsu cho thật sống động, là một thách đố lớn nhất cho chúng ta trong mùa Phục sinh. Về vấn đề này, Giáo hội  với những định chế của mình đóng một vai trò chủ đạo và quan trọng. Bài đọc ngày hôm nay trong sách Công vụ tông đồ chương 6, cho chúng ta thấy được các Kitô hữu buổi sơ khai đã áp dụng những định chế cụ thể. Trường hợp các bà góa trong xã hội theo văn hóa Hy Lạp ngày xưa thời giáo hội sơ khai, là một ví dụ. Để giải quyết, nhóm 12 tông đồ đã chỉ định 7 người Hy Lạp (có lẽ là phó tế?) để chăm sóc cho họ và cho những người khác. Sự kiện này cho thấy Giáo hội ban đầu đã thiết định những quy chế để áp dụng, và Giáo hội vẫn giữ mãi những kỷ niệm về Chúa Giêsu cách sống động. Kết quả là Lời của Chúa vẫn tiếp tục được tỏa rộng.

Trong thân thể mầu nhiệm đức Kitô, chúng ta được chuyển giao để thủ đắc một căn tính mới và một phẩm giá mới. Các Kitô hữu gốc dân ngoại, được nói tới trong thơ thứ nhất của Thánh Phêrô, vẫn bị coi như là nhửng người bị gạt ra bên ngoài, trên phương diện chính trị và xã hội. Nhưng Thánh Phêrô đã mặc cho họ một tước hiệu ấn tượng nhất như tước hiệu dành cho dân Israel thời cựu ước. Qua phép rửa nhân danh Đức Giêsu, họ trở thành “ Một dân được tuyển chọn, thuộc hàng tư tế vương giả, chủng tộc thánh thiện, là dân riêng của Chúa”. Công việc của họ bây giờ là làm chứng tá về đức Giêsu, như một viên đá sống động, bị con người loại bỏ nhưng được tuyển chọn và trở nên quý giá trong con mắt của Thiên Chúa. Những con người đã một thời lưu lạc chẳng còn dân tộc, nay đã là dân của Thiên Chúa. Họ kết liên với nhau để cho mọi người biết cách thức Thiên Chúa đã kêu gọi họ thoát khỏi vùng tối tăm đến nơi đầy ánh sánh huy hoàng như thế nào.

Giữ mãi những kỷ niệm về Chúa Giêsu một cách sinh động là bổn phận của mọi Kitô hữu và của cả Hội Thánh. Nếu chúng ta thật sự tin rằng Đức Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống, chúng ta sẽ biết khám phá ra những cách thức mới mẻ và đầy sáng tạo để lưu giữ mãi những kỷ niệm sống động về Ngài. Nếu chúng ta thật sự tin rằng “Ai thấy và nghe Đức Giêsu, chính là nghe và xem thấy Chúa Cha”, thì việc lưu tồn những kỷ niệm sống động về Ngài sẽ là một công việc quan hệ nhất và ý nghĩa nhất mà mỗi người chúng ta có thể và phải đem ra thực hành.

Daniel J. Harrington.SJ.

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chúa Nhật CN 5 Phục sinh A: “Những tâm hồn không xao xuyến.”

Văn Hào, SDB

“Tâm hồn anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và cũng hãy tin vào Thầy” (Ga 14,1)

Có nhiều người được phú ban khả năng đặc biệt. Đó là, họ vẫn giữ được bộ dạng thanh thản, an bình, ngay cả trong những thời điểm khốn khó nhất. Họ không có vẻ căng thẳng hay cảm thấy phiền toái, dù bên trong họ vẫn phải đắng lòng gánh lấy những bầm dập và nghiệt ngã. Không phải chỉ vì họ là những con người lạc quan, biết nhìn ra những khía cạnh tích cực trong mọi trạng huống. Cũng không phải vì họ biết khôn khéo giải quyết sự việc khi nhìn vào những khổ đau hoặc bất công người khác phải gánh chịu  sau đó được minh oan. Nhưng trên hết, niềm vui sẽ được hiện lộ ra bên ngoài rõ ràng khi họ biết nhìn thực tại bằng một cặp mắt cắm sâu trong niềm hy vọng,  và hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa. Họ có thể biểu tỏ trạng huống tâm hồn họ theo cách thức sâu xa mà Đức Giêsu đã khuyến mời các môn đệ thực hành trong bài Tin Mừng hôm nay: “ Tâm hồn anh em đừng xao xuyến”. Bạn có bao giờ gặp những con người như vậy không? Hay có thể chính bạn là con người như thế ?

Trong Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu không chỉ khuyên mời các học trò của mình hãy để tâm hồn của họ tĩnh lặng, đừng lo lắng, nhưng Ngài còn vạch dẫn cho họ cách thái để đạt được điều ấy. Bối cảnh câu chuyện xảy ra trong bữa tiệc ly, các môn đệ có nhiều lý do khiến họ lo âu, buồn sầu . Đức Giêsu  nói với họ về viễn cảnh sẽ đi xa, xa thật xa, sẽ bị trao nộp, và sẽ bị phản bội bởi hai người bạn thân tín nhất. Các môn đệ nhốn nháo hỏi nhau, Ngài sẽ đi xa, nhưng đi đâu? Làm sao họ biết con đường Ngài đi để có thể cùng đi với Ngài. Tin mừng Marcô đề cập đến vấn đề “ Ai” sẽ là người phản bội ( 2,7 ; 4,41 ; 8,29). Nhưng trong Tin mừng Gioan, trọng tâm của khúc mắc là chuyện đó xảy ra “ ở đâu”. Người môn đệ được Đức Giêsu trao quyền hành lớn nhất tức Phêrô, muốn biết “ Thầy ở đâu” (Ga 1,38). Đức Giêsu biết Ngài từ đâu đến và sẽ đi về đâu, nhưng những kẻ thù của Ngài không biết ( Ga 7,27 ;8,14 ;9,29). Trước tòa án, Philatô tra hỏi, muốn biết Chúa Giêsu từ đâu đến (19,9). Khi đến ngôi mộ trống, Maria Madalêna cũng bộc bạch sự lo lắng “ Chúng tôi không biết họ để Người ở đâu” (Jn 20,2 ;20,13).

Xuyên suốt Tin mừng của Thánh Gioan, ý niệm “ ở đâu” không mang ý nghĩa một nơi chốn không gian, nhưng là trạng huống con người kết hợp sâu xa với Đức Giêsu, trong đó họ được nghỉ ngơi trong Chúa và tin vào Ngài. Đức Giêsu cũng muốn những kẻ tiếp bước theo Ngài sống theo cách thức mà Ngài đã sống, là luôn kết hợp với Chúa Cha, như Ngài đã nói “ Cũng như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng vui hưởng được ở trong Cha, và ở trong chúng ta” ( Ga 17,21). Có lần Đức Giêsu còn minh giải thêm “ Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở và  Ngài còn cắt nghĩa rõ hơn “ Thầy đi để dọn chỗ cho anh em” ( Ga 14,2). Nhiều Kitô hữu phác vẽ một viễn cảnh về một nơi ở trên trời, nơi Đức Kitô đã chuẩn bị sẵn môt “căn hộ năm sao” cho những ai trung thành bước theo Ngài. Nơi ở mà Chúa Giêsu nói đến không phải vậy, nhưng chính là tình trạng kết hợp sâu xa với Ngài. Đó vừa là một thực tại hiện sinh, vừa là một động thái sâu xa hướng về sự viên toàn vào thời cánh chung.

Đây không phải là điều chúng ta dễ dàng lãnh hội được, cũng không phải là một cuộc hành trình giản đơn. Tuy nhiên, theo một nghĩa khác, có một điều khá đơn giản: Đức Giêsu chính là con đường đi. Trong Tin mừng Gioan, Thánh Tôma luôn là đại biểu cho những người hay chất vấn và nghi ngờ, đã lên tiếng “ Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường đi?” (câu 5) Không biết đường đi, là một cách biểu lộ dễ nhất của một người muốn đứng ngoài cuộc. Philip đã đưa ra một chiến thuật khác để đối kháng “ Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, thế là đủ cho chúng con ( câu 8)”. Ông ta bày tỏ ước muốn chỉ cần nhìn thấy Đấng mời gọi chúng ta sống kết hợp sâu tận với Ngài, thế thôi, giống như chỉ cần nhìn thấy căn phòng khách sạn rẻ tiền đã trang bị sẵn đồ đạc để ta đến trú ngụ, không cần điều gì khác. Dù chúng ta không biết cách thâm nhập vào cõi lòng đầy an bình của Thiên Chúa, nhưng chúng ta đã gặp được Đức Giêsu, thấy được vẻ thần linh, kín nhiệm của Thiên Chúa nơi Ngài. Tin Ngài và dấn bước theo Ngài, ngay cả khi trực diện cái chết, tâm hồn chúng ta sẽ trở nên tĩnh lặng và an bình, không còn xao xuyến, giống như một đứa bé thơ chẳng lo âu, đang ngủ yên trong vòng tay của mẹ nó (Tv 131,2)

Barbara E.Reid, nữ tu Đa Minh, giáo sư môn Tân Ước tại Đại học Công giáo ở Chicago. Bà cũng là trưởng khoa và là phó viện trưởng tại trường đại học này.

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chủ Nhật 4 Phục Sinh năm A: CHỨNG TÁ CUỘC KHỔ NẠN

Văn Hào, SDB

“Chính Ngài mang lấy tội của chúng ta nơi thân thể Ngài, đưa lên cây Thập giá” (1P 2,24).

Trong thế giới Hy Lạp- Rôma ngày xưa, những nô lệ đôi khi cũng được đối xử tử tế, nhưng hoàn toàn do tùy thích của người chủ, chứ luật pháp không đòi buộc. Ngay cả những nô lệ tại nhà, như được nói tới trong thơ thứ nhất của Thánh Phêrô, vẫn có thể bị bạo hành theo ý của ông chủ. Thánh Phêrô trong thơ thứ nhất của Ngài đã khuyên những người nô lệ đó hãy  phục tùng quyền bính của người chủ, cả khi họ tử tế cũng như lúc họ khắc nghiệt. Người nô lệ không có một quyền gì trên cuộc sống của họ, tất cả hoàn toàn lệ thuộc vào chủ. Thánh Phêrô đưa ra lời mời gọi này, hàm ngậm sự  nhẫn nhục chịu đựng, ngay cả khi  thân xác họ bị khai thác hay bị lạm dụng tình dục.

Khi đọc lại những lời khuyên đó trong bối cảnh xã hội thế kỷ đầu tiên, chúng ta hôm nay sẽ hiểu sứ điệp đó như thế nào? “Nếu anh em hứng chịu những đánh đập khi anh em sai lỗi, thì dễ hiểu, nhưng khi anh em làm đúng mà vẫn phải  chịu đựng những bất công, thì có Thiên Chúa chứng giám cho anh em”. Khuyên nhủ tín hữu như thế, dường như Thánh Tông đồ đòi hỏi phải biết cam chịu trong câm nín trước những tàn bạo và bất công, lại còn có vẻ gián tiếp tán thưởng những hành vi gian ác đó. Không phải vậy đâu. Quả thật, khi chúng ta nhìn vào thực trạng xã hội ngày hôm nay, chúng ta sẽ thấy có một hình thái nô lệ mới đang nở rộ quanh ta. Sứ điệp mà Thánh Phêrô nói ở trên hàm ngậm điều gì, để ngỏ trao cho con người thời đại này?

Rất quan trọng, chúng ta phải nhớ rằng, vào thế kỷ đầu tiên, việc mua bán nô lệ là một định chế xã hội hợp pháp. Việc sang tay trao đổi nô lệ, hoàn toàn tùy thuộc vào cá nhân các ông chủ . Nếu có ai giúp các nô lệ trốn thoát, nguời đó sẽ bị pháp luật trừng trị. Chính những nô lệ bỏ trốn sẽ bị đối xử bằng những cực hình rất kinh sợ, và đương nhiên điều đó hợp pháp lúc bấy giờ. Giáo hội thời sơ khai chỉ là một thiểu số nhỏ nhoi, hầu như cũng chẳng có tiếng nói gì về mặt xã hội và chính trị. Chính vì thế, các Kitô hữu thuở ban đầu đứng trước tình trạng này, chỉ biết khuyến khích các nô lệ hãy noi gương Chúa Giêsu, chịu đựng những bất công và chấp nhận để tiếp bước theo Ngài.

Đoạn văn trong thơ thứ nhất của Thánh Phêrô, (1P2,22-24), theo ý kiến của một vài học giả, là một phần trong thánh thi của các tín hữu thời sơ khai. Thánh thi này quy chiếu vào cuộc khổ nạn  Đức Giêsu, như  ngôn sứ Isaia nói tới (Is53, 4-12).  Đó là bài ca về “ Người Tôi Tớ Đau Khổ”. Những bi thương của các nô lệ trong thế kỷ đầu tiên là một điều  rõ rệt, không cần bàn cãi, và những khổ đau đó được gắn kết với những kinh nghiệm trong nỗi thống khổ  của chính Đức Giêsu. Quả thật, những ai hứng chịu đau khổ cách bất công, cả trong thời đại ngày hôm nay, vẫn có thể suy tưởng trạng huống đời mình liên đới với Đức Giêsu, “Đấng đã bị đối xử tàn bạo, phũ phàng, nhưng không oán thù, hoàn toàn tín thác vào Đấng sẽ giải oan cho mình”. Đau khổ ngày nay, được mặc lấy một ý nghĩa linh thánh, để những khốn khó Đức Giêsu đã gánh chịu được hiện lộ rõ nét nơi tất cả những ai chấp nhận khổ đau trong thân thể mầu nhiệm của Ngài.

Tuy nhiên, có một nguy cơ ở đây, đó là chúng ta cứ thụ động thinh lặng đứng ngoài lề, khi thấy những bóc lột và lạm dụng người khác gây ra cho những kẻ yếu thế, khiến họ phải chịu đựng cách bất công và vô lý. Không phải vậy. Thánh giáo phụ Chrysolomo, trong khảo luận “Bàn về hư danh” (số 69) đã chỉ dạy các người trẻ hãy chấp nhận những bất công xảy đến, nhưng “tuyệt đối không để điều đó tiếp tục xảy ra”. Khi nào những đau thương  và bất công xảy đến, bổn phận chúng ta là phải cố gắng đẩy lùi tình trạng đó bằng chứng tá của chính mình. Dầu sao, có những lần chúng ta cố ngăn chặn những bất công mà người khác phải gánh chịu, nhưng không cách nào làm được, chúng ta vẫn phải cam chịu. Ở đây, mẫu gương của Chúa Giêsu sẽ giúp chúng ta hiểu được rằng chính Ngài là đấng vô tội đã hứng chịu mọi phũ phàng và gian ác, để qua những khổ đau đó, Ngài chữa lành mọi thương tích nơi chúng ta. Tôi không muốn hứng chịu khổ đau. Tôi cũng không muốn những người tôi yêu thương  phải lãnh lấy đau khổ. Tôi cũng  chẳng muốn ai chịu đựng như thế. Nhưng mổi lần chúng ta đón nhận những bầm dập và nghiệt ngã, điều quan trọng là chúng ta ý thức được Đức Kitô, vị Mục Tử Nhân Lành thấu rõ những khổ đau nơi thân phận con người chúng ta. Thánh Phêrô trong thơ thứ nhất của Ngài đã viết: “Chúng ta bị tan tác như chiên non tan đàn xẻ nghé, nhưng chúng ta sẽ được chủ chăn dẫn về, và Ngài cũng là Đấng chăm sóc linh hồn chúng ta”. Đoạn văn trong Is 53,6 nói rõ hơn: “ Vị Mục tử Nhân lành đã chuốc lấy khổ đau, để khơi nguồn cứu độ, vì chúng ta là những con chiên lang thang mỗi người mỗi ngả, nhưng đức Chúa đã đặt mọi tội khiên chúng ta trên đầu Ngài”.

Nỗi thống khổ của đức Giêsu vô tội giúp chúng ta nhận thức được ý nghĩa của những đau khổ chúng ta đã và đang kinh qua, đồng thời hướng việc chặn đứng những bất công của chúng ta đến một mục đích linh thiêng. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu ngày xưa, cũng cho phép chúng ta thông dự với những ai đang gánh chịu đau khổ ngày hôm nay, đang bị bách hại sống kiếp nô lệ, đang bị lạm dụng thân xác, bị áp bức hay bị tổn thương bởi muôn vàn lý do khác nhau. Khi  chúng ta chịu đựng đau khổ, hoặc cố gắng ngăn chặn những khổ đau người khác  gánh chịu, điều quan trọng là chúng ta nhận ra rằng Đấng Chăn Chiên Nhân Lành không muốn tạo ra những khổ đau cho ta, nhưng Ngài muốn cất đi những đau khổ đó. Chúng ta sẽ làm chứng tá rằng vị Mục Tử Nhân Lành đó đã đến trần gian để cho ta “được sống và sống dồi dào”(Ga 10,10),  và Ngài mong muốn đưa chúng ta trở về với đàn chiên trong an lành.

John W.Martens

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chúa Nhật IV Phục Sinh Năm A: “CÁNH CỬA MỞ TOANG”.

Văn Hào, SDB

“Tôi là cửa cho chiên ra vào” (Ga 10,7)

Vài năm trước, trên truyền hình có trình chiếu một chương trình đố vui mang tên “Mời bạn tham gia trò chơi”. Người tham gia cuộc chơi sẽ có cơ hội trúng thưởng. Sự hồi hộp gay cấn xảy ra khi họ được hỏi phải chọn cửa nào trong ba cửa. Hai trong ba cửa không trúng giải, còn cửa thứ ba sẽ trúng một giải thưởng có giá trị, như một chuyến du lịch, một chiếc xe hơi hay một số tiền mặt khá lớn. Mỗi lần tổ chức như thế, sẽ có người may mắn trúng giải khi chọn đúng cánh cửa có giải thưởng.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu sánh ví mình như là “cánh cửa” đem đến cho ta quà tặng đắt giá nhất. Không giống như trò chơi đố vui ở trên khi người ta đánh lừa người tham gia để họ chọn sai cánh cửa có giải thưởng. Đức Giêsu đã minh thị Ngài chính là cánh cửa mở toang, để tất cả chúng ta có thể chọn đúng cánh cửa này.

Khởi đầu bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói về Ngài như là mục tử chăn dắt chiên. Ngài sẽ đến với đàn chiên qua cửa chuồng chiên. Ngài sánh ví mình với hình ảnh trái ngược về những người ăn trộm. Họ lần mò vào đàn chiên không bằng cửa chính, và sẽ không thể điều khiển đàn chiên theo họ đi ra ngoài. Họ là người xa lạ, và các con chiên sẽ chạy trốn, vì chúng không nghe được tiếng của họ. Sau đó, trong phần cuối của chương này, Chúa Giêsu đã đưa hình ảnh người chăn chiên nhân lành để nói về chính Ngài. Một khía cạnh khác khá quan trọng khi trưng dẫn hình ảnh này, đó là cánh cửa được mở ra cả hai hướng: Đi vào và đi ra. Nhưng bài Tin Mừng hôm nay quy chiếu về Đức Giêsu như là cửa chuồng chiên. Các môn đệ  không chỉ đến với đàn chiên qua Ngài, nhưng họ còn được Ngài dẫn ra ngoài đồng cỏ để bổ dưỡng.

Tất cả những ai được Ngài dẫn vào sẽ tìm được cho mình, giữa sự thân ái của cộng đoàn đức tin, một nơi để thư giãn và nghỉ ngơi, một nơi để được an dưỡng và chữa lành. Đó cũng là nơi  chúng ta được nuôi dưỡng qua bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể. Nhưng bất cứ ai được dẫn vào  cũng sẽ được dẫn ra, đi đến những đồng cỏ xanh tươi, những đồng cỏ mầu mỡ để thực hiện sứ mệnh. Đức Giêsu là cửa chuồng chiên, vừa dẫn chúng ta đi vào, vừa dẫn chúng ta đi ra.

Sau đó, trong Tin Mừng Gioan, hình ảnh cánh cửa mở toang cũng mang lấy một hình thái mới. Cạnh sườn Chúa Giêsu trên Thập giá được mở ra, khi người lính lấy giáo đâm Ngài (Ga 19, 34), cũng gọi mời chúng ta tiến vào, để bước ra trong sức mạnh của Đấng Phục Sinh. Tất cả những ai đi vào cuộc sống như Ngài đã sống, một cuộc sống  trải rộng y hệt một đồng cỏ mênh mông đầy ắp những khinh miệt, những quên lãng, và những chống đối từ những con người đã đi vào chuồng chiên bằng con đường khác, thậm chí ngay cả mạng sống chúng ta cũng bị lấy đi, thì khi đó chính Đức Giêsu mở toang cạnh sườn Ngài ra để dẫn chúng ta ra ngoài đến một cuộc sống hồi sinh hoàn toàn mới mẻ. Trước cái chết, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ về cuộc khổ nạn Ngài sẽ kinh qua như một cơn đau quặn khi sinh nở để có được niềm vui lúc một sinh linh được chào đời (Ga 16,20-26). Máu và nước tuôn trào từ cạnh sườn mở toang ra, gợi nhắc chúng ta về những “dòng sông mang chở nước sự sống” mà Chúa Giêsu đã hứa. Những dòng sông đó sẽ tuôn trào từ nơi Ngài (theo nguyên ngữ là từ cõi lòng của Ngài) và từ con tim của những kẻ tin Ngài (Ga 7,38).

Ngôi mộ mở toang ngày Chúa Nhật Phục Sinh khép lại hình ảnh này. Cánh cổng sự chết đã bị bẻ gẫy bởi Đấng đã đến để “cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Cánh cổng sự sống bây giờ đã rộng mở ra cho mọi người. Lời mời gọi hãy đi vào cánh cổng này qua Ngài và qua cách sống của Ngài, đối với nhiều người cũng không dễ dàng để chấp nhận. Những người Pharisêu, đại biểu cho hạng người cứng lòng, đã không chấp nhận lời gọi mời đó để bước vào và bước ra cùng với Ngài và qua Ngài. Họ nghĩ rằng có một lối đường khác, chứ không chấp nhận đi qua cửa chuồng chiên là chính Đức Giêsu.

Chắc chắn, không có một kỹ xảo nào nhằm đánh đố chúng ta để chọn cho đúng cánh cửa. Cánh cửa Giêsu vẫn luôn mở toang ra chờ đón mọi người.

Barbara E. Reid, nữ tu dòng Đaminh tại Grand Rapids, Michigan Hoa Kỳ. Bà là giáo sư môn Tân ước tại Đại học công giáo ở Chicago, bang Illinois. Cũng tại đây bà làm trưởng khoa và là phó viện trưởng.

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chủ nhật 3 Phục sinh năm A: CHỨNG TÁ VIỆC BẺ BÁNH

Văn Hào, SDB

“Ngài đã tỏ mình ra cho họ khi bẻ bánh” (Lc 24,35).

Sự phong phú trong câu chuyện về các môn đệ trên đường đi Emmaus khiến chúng ta không thể tóm kết trong một vài câu giản đơn, hoặc loại bỏ đi vài ba chi tiết trong câu chuyện đó. Dường như mọi chi tiết đều có thể gợi hứng cho độc giả khám phá ra những điều thú vị ngạc nhiên. Làng quê Emmaus, nơi mà Cleopas và một người bạn đồng hành của ông đang tiến về, là một ngôi làng mà sách Macabe cũng đề cập tới (1 Mcb 3,40) . Có lẽ Emmaus trong sách Macabe không mấy liên quan đến Emmaus trong Tin mừng Luca, nhưng cũng có một vài gợi nhắc để giúp ta liên tưởng.

Emmaus là nơi mà Guida Macabe đã chiến thắng oanh liệt Seleucid, tướng quân của Lysias, cùng với quân đội nhà vua Antioko Epiphanes năm 166 trước công nguyên. Lính của Guida Macabe ra bên ngoài thành, đóng quân tại phía nam Emmaus (1 Mcb 3,57) và thật kỳ diệu, với quân số ít ỏi, vũ khí thô sơ, các anh em nhà Macabe đã đánh tan tành lực lượng hùng hậu của tướng Seleucid. Mục đích của Guida Macabe là chiếm lại đền thờ để thanh tẩy và bảo tồn. Họ đã thành công qua những cuộc giao tranh ác liệt. Anh em nhà Macabe đã liều lĩnh với những trận quyết chiến  để dành lại tự do cho việc phụng tự của người Do Thái. Trước khi lâm trận, Guida Macabe đã nói với dân “ Bây giờ, chúng ta hãy kêu lên trời, xin Người thương đến chúng ta. Xin Người nhớ lại giao ước đã thiết lập với tổ tiên mà nghiền nát đoàn quân đang ở trước mặt chúng ta đây. Bấy giờ mọi dân tộc sẽ biết rằng có một Đấng cứu chuộc và giải thoát Israel (1 Mcb 4,10.11).

Guiđa hy vọng dân ngoại sẽ biết rằng chính Thiên Chúa là đấng đem lại cho Israel chiến thắng, và Thiên Chúa sẽ là Đấng Giải Cứu dân  Ngài. Hạn từ “Giải Cứu” trong tiếng Hy Lạp mà Guida đã nói với dân, cũng là hạn từ gần giống với ý niệm mà Cleopas đã diễn tả với nỗi buồn mênh mông trên đường đi Emmaus, nơi chốn biểu trưng cho những chiến thắng oanh liệt nhất của Israel năm xưa. Cleopas đã bộc bạch nỗi buồn với người bạn đang đồng hành ( Đức Giêsu) bên cạnh mình “Chúng tôi hy vọng rằng Ngài sẽ là đấng giải cứu Israel”.

Khi dùng hạn từ Hy Lạp tương đồng như thế, phải chăng Luca muốn nói cho chúng ta biết lý do tại sao Cleopas và các môn đệ phải rất lâu sau mới có thể hiểu được ý nghĩa của việc đức Giêsu bị đóng đinh? Phải chăng Luca muốn so sánh cuộc chiến thắng của anh em nhà Macabe sau bao giao tranh khốc liệt gây nhiều tổn thất và chết chóc , với sứ mạng cứu thế của đức Giêsu . Sứ mạng đó chắc chắn không phải kết thúc nơi thập giá, với sự thất bại cay đắng và phũ phàng trước mắt người đời.

Ở đây, chứng tá căn gốc của đức Giêsu và Giáo hội quy chiếu vào khung căn bản này. Công trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện không giống với những gì con người suy định. Con người chỉ có thể nắm bắt và hiểu được, như hai môn đệ trong suốt  cuộc  hành trình dài đến Emmaus, bằng một thái độ từ khước hận thù chiến tranh, đồng thời biết mở lòng đến với tha nhân, chia sẻ cho nhau bữa ăn trong sự thân tình. Mầu nhiệm đức Giêsu Phục sinh vẫn còn ấn kín đối với Cleopas và người môn đệ kia, cho đến khi “Ngài ngồi đồng bàn với họ - Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho họ”. Lúc đó con mắt đức tin của họ mới mở ra, và họ nhận ra Ngài.

Nhưng chúng ta phải chân nhận rằng, cho dù Cleopas với người bạn đồng hành lúc ban đầu đã không nhận ra đức Giêsu và tâm hồn họ vẫn ngập sâu trong thất vọng, họ vẫn mời người khách lạ cùng ăn với họ, cùng đồng bàn với họ. Đây là một động thái tỏ hiện sự thân thiện đơn thuần, nhưng từ đó dẫn đến việc bẻ bánh và mắt của họ đã được mở ra. Đức Giêsu đã đến với họ, sự chiến thắng chính là sự Phục sinh của Ngài. Việc bẻ bánh dẫn đưa chúng ta trở về, đi vào trong cuộc sống của Đức Giêsu và trong cuộc sống của chính Giáo hội. Câu chuyện Emmaus cũng sử dụng những ngôn từ giống như câu chuyện Chúa làm phép lạ nhân bánh ra nhiều nuôi 5000 người trong Tin mừng Luca. “ Ngài cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, mắt ngước lên trời, tạ ơn, bẻ ra, trao cho môn đệ và các môn đệ phân phát cho dân ( Lc 9, 16-17). Phép lạ đó chắc chắn biểu thị việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quên rằng động thái căn bản của tình thân hữu đối với nhau và biết chia sẻ cho nhau những lương thực vật chất là cánh cửa khởi dẫn đến bàn tiệc thiêng liêng.

Cũng tương tự như thế, việc bẻ bánh trong câu chuyện Emmaus cũng hướng mời chúng ta thực hành sự  tương giao thân hữu trong lòng Giáo hội. Sự sẻ chia huynh đệ trong cuộc sống đời thường, là phương cách để dung mạo đức Kitô được hiện lộ ra nơi bóng dáng của người khách lạ. Và sâu xa hơn nữa, điều đó được biểu tỏ một cách thâm sâu nơi bàn tiệc Thánh Thể, bàn tiệc thiêng liêng dưỡng nuôi cộng đoàn bằng chính Mình và Máu đức Kitô.

Vì đức Kitô đã phục sinh, nên Hội Thánh tự hiến mình “ qua việc bẻ bánh” (Cv2, 42,46). Hội thánh trao ban chính mình bằng việc sẻ chia thân tình trong tình huynh đệ, và bằng bàn tiệc thiêng liêng của bí tích Thánh Thể: Cả 2 kết liên với nhau để làm sáng tỏ chứng tá về đức Kitô “ Qua Ngài, ơn giải cứu đã đến với chúng ta.”

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chúa Nhật III Phục Sinh Năm A: “BƯỚC VÀO HY VỌNG ”

Văn Hào, SDB

“Chúng tôi hy vọng rằng Ngài sẽ là Đấng cứu Israel” (Lc 24,21)

Họ đang đi khỏi Giêrusalem, nơi mà những hy vọng của họ đã tan tành mây khói. Cleopas và người bạn đồng hành của ông ta – có lẽ là bạn đời- đang nặng nề lê bước tiến về Emmaus, thành phố mà thời Đế Quốc Rôma vẫn được gọi là Nicopolis: Thành phố chiến thắng. Họ đã khao khát mãnh liệt một cuộc chiến thắng.

Khi trò chuyện với người khách lạ đang đồng hành với họ trên đường đi Emmaus, họ diễn tả niềm hy vọng nơi Đức Giêsu. Họ kỳ vọng Ngài sẽ là người chiến thắng, sẽ cứu họ, nhưng một lần nữa người Rôma đã nghiền nát niềm hy vọng sẽ được giải cứu nơi họ. Vừa đi, họ vừa tranh luận xem những gì đã xảy ra có ý nghĩa gì. Đầu óc họ vẫn mù tối không nhận ra Đấng Chiến Thắng đang cận kề bên họ.

Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện về sự thay đổi nơi những người cùng sánh bước với Đức Giêsu về làng Emmaus: Từ một ước mơ đã sụp đổ tan tành dẫn đến một chân trời hy vọng đầy tươi sáng. Họ từng đặt kỳ vọng về một Đấng sẽ giải cứu họ khỏi kiếp nô lệ, một vị nào đó sẽ  làm đảo chiều tình trạng khốn cùng nơi họ. Hầu chắc, họ nghĩ rằng điều đó sẽ xảy ra với một cuộc đảo chánh chính trị đầy binh lực.

Nhưng, điều mà họ đắc thủ được trên đường Emmaus là một câu chuyện hoàn toàn mới mẻ. Họ đã có được một tầm nhìn mới, và con tim của họ đã bùng cháy lên với tràn trề hy vọng. Cánh cửa đã mở toang, dẫn họ đi vào một chân trời mới- mới đối với họ và mới đối với tất cả chúng ta, vượt xa thật xa những kỳ vọng mà trước đây họ hằng mơ ước.

Vào năm 1990, 3 năm trước khi trở thành vị tổng thống đầu tiên của Cộng Hoà Czech, ông Vaclav Havel đã bày tỏ những suy tư của ông về niềm hy vọng. Ông nói “Hy vọng là trạng huống của đầu óc con người, chứ không phải của thế giới. Hoặc chúng ta có hy vọng hoặc chúng ta không có chút nào. Hy vọng là một chiều kích của tâm hồn, là một định hướng của tinh thần. Nó không giống với niềm vui khi chúng ta đã đạt được sở nguyện. Nhưng đúng hơn, đó là một khả thể giúp ta làm việc cho một mục đích nào đó bởi vì công việc đó tốt lành, chứ không phải chỉ vì nó nhằm đến một cơ hội  giúp ta thành công…. Hy vọng không phải chỉ là sự xác tín về một vấn đề nào đó sẽ diễn tiến trôi chảy, nhưng là đoan chắc một công việc có ý nghĩa thực sự mà không màng đến kết quả sẽ ra sao”. Ông Havel đã nắm bắt được và diễn tả bằng thơ văn những gì mà Thánh Luca tường thuật trong Tin Mừng hôm nay, bày tỏ niềm hy vọng được bùng cháy lên như thế nào trong tâm khảm những người bạn đồng hành với Đức Giêsu trên đường về Emmaus. Niềm hy vọng đó được khơi dậy giữa lúc họ đang  trốn chạy khỏi Giêrusalem trong cơn mù tối tuyệt vọng vì những sự việc đã xảy ra  không như họ mong đợi. Các môn đệ dần dần nhận thức rằng cái chết của Đức Giêsu không phải là dấu chấm hết, kết thúc những mong ước, cũng không phải là một hành động riêng lẻ của ai đó sẽ giải cứu họ. Nhưng cái chết của Ngài chính là khởi điểm đặc biệt dẫn vào một sự sống mới, khai mở niềm hy vọng mới nơi họ.

Khi tham dự cử hành việc bẻ bánh, các môn đệ đã không chỉ nhận ra một Đức Giêsu đã biến đổi, nhưng họ sẽ từ từ nhận thấy cả thế giới được biến đổi. Đức Giêsu đã giải thoát họ khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết, nhưng công trình cứu chuộc sẽ không hoàn tất trọn vẹn cho đến khi các môn đệ biết sống trọn vẹn cách thức mà Đức Giêsu đã thể hiện nơi bàn tiệc Thánh Thể. Chỉ khi nào những học trò của Chúa biết diễn bày cuộc sống mình bằng cách liều thân để cho thân xác của họ được bẻ ra, để máu của họ cũng được tuôn trào, được hiến dâng vì tình yêu cho anh em, thì lúc đó niềm hy vọng nơi họ mới thực sự bùng cháy. Cleopas và người bạn đồng hành của ông đã chọn lựa quay trở lại Giêrusalem, thành phố đã giết chết các ngôn sứ và giết cả chính họ,  khi đôi mắt của họ thực sự mở ra, thoát khỏi mù tối.

Cái nhìn của họ đã được biến đổi tận căn, không phải trong một khoảnh khắc ma thuật, nhưng qua cả một tiến trình dài đắm chìm trong cầu nguyện, học hỏi kinh thánh, gặp gỡ tha nhân và đấu tranh miệt mài để có thể hiểu được chính Đức Giêsu hiện thân nơi những con người đang cùng họ đồng hành. Đặc biệt, khi họ biết chuyên cần mỗi ngày cùng tham dự bàn tiệc Thánh Thể: Cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và chia sẻ với nhau và cùng nhau nài xin Chúa “Xin Thầy ở lại với chúng con”. Khi những khoảnh khắc biến đổi này xảy ra và khi chúng ta biết khước từ những ước mơ cỏn con, để cho niềm hy vọng thực sự bừng cháy lên, thì Đức Giêsu mà chúng ta nghĩ tưởng theo đầu óc nhân loại sẽ biến mất , thay vào đó là một Đức Giêsu Phục Sinh thực sự , sẽ ở lại mãi mãi trong chúng ta.

Tại Giêrusalem, Cleopas và người bạn đồng hành của ông đã trở lại với cộng đoàn, với những con người hầu như đã được biến đổi. Cùng với các phụ nữ đã đến ngôi mồ trống và cùng với Simon, họ sẽ nhìn thấy bằng một cặp mắt mới, và kể lại một câu chuyện mới. Rồi, họ có thể dẫn đưa những người khác đi vào một cuộc hành trình mới và liên tục , dẫn đến chân trời hy vọng.

Barbara E. Reid, O.P (Nữ Tu Đaminh thuộc cộng đoàn Đaminh ở Grand Rapids, Michigan,à là Giáo sư nghiên cứu Tân Ước tại Đại Học Công Giáo ở Chicago, Illinois, và là phó trưởng khoa tại Đại Học này).

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %