• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


Chúa nhật 22 TN A : Như ngọn lửa bùng cháy trong trái tim tôi

Văn Hào, SDB

Để anh em có thể nhận ra đâu là Thánh ý của Thiên Chúa” (Rm 12,2)

Ngày nay khi nói về Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành, nhiều người có khuynh hướng giản lược Ngài qua hình tượng một ông phỗng vô tri bất động, đang muốn dang rộng đôi tay ôm đón chúng ta trong vòng tay thần thánh của Ngài. Hiển nhiên, bản chất của Thiên Chúa là tình yêu, điều đó ai cũng biết. Nhưng để có kinh nghiệm về tình yêu Thiên Chúa và cảm thấu sự hiện hữu của Ngài, không phải là điều dễ dàng và lắm lúc khiến ta cảm thấy khó chịu. Thiên Chúa có thể quấy rối sự tĩnh lặng đối với những ai say sưa và vui thích chiêm ngắm Ngài, đồng thời đôi khi Ngài cũng khiến cho những kẻ tin vào Ngài trở nên hụt hẫng và nghi ngại. Quyền uy đáng sợ của Thiên Chúa có thể làm cho ta chới với hay chao đảo.

Ngôn từ của Giêrêmia mà  chúng ta nghe trong phụng vụ hôm nay, phản ánh uy quyền của Thiên Chúa như thế, có thể khiến ta bối rối, ngay cả trong thời đại hôm nay. Giêrêmia đã diễn tả quyền uy đó bằng một cung cách khá cường điệu “Lạy Chúa, Ngài đã lôi cuốn con, và con đã để Ngài chinh phục. Ngài quá mạnh mẽ đối với con, và Ngài đã chiến thắng”. Chúng ta có thể diễn dịch mạnh mẽ hơn : “Lạy Chúa, Ngài đã khống chế được con, và con đã đầu hàng. Ngài dùng sức mạnh để chiếm đoạt con, và Ngài là người đã chinh phục” Các nhà bình luận và chú giải ghi nhận: hạn từ pata trong tiếng Do Thái được dịch là “ quyến rũ” hay “ lôi cuốn”, mang âm hưởng của sự cuốn hút, cũng như là sự hấp dẫn tình dục. Động từ thứ hai chazaq ,mạnh mẽ hơn được dịch là “ dùng sức mạnh để khống chế”, nó có thể làm ta liên tưởng đến một sự tấn công tình dục hay hiếp dâm, chứ không chỉ đơn thuần là sự quyến rũ xuông. Giêrêmia đã sử dụng những hình ảnh sống động này dể diễn tả kinh nghiệm của chính ông, một vị ngôn sứ đã bị Thiên Chúa tóm lấy, để bắt ông phải công bố một sứ điệp  khác thường. Ông kể lại, không phải Thiên Chúa kêu mời ông, nhưng ông khẳng khái xác quyết là Thiên Chúa đã quyến rũ ông, đã lôi kéo ông, và đã dùng sức mạnh để trấn áp ông, bắt ông phải thực hiện. Ông chẳng còn một lựa chọn nào khác.

Lý do mà Giêrêmia tường thuật lại, xem ra có vẻ hài hước và ông cảm thấy “suốt ngày ông đã trở nên như một thứ trò cười”. Sứ điệp mà Chúa bắt ông phải công bố được khởi đầu với “ bạo lực và hủy diệt”. Giêrêmia nói “ Lời của Chúa làm tôi phì cười và tôi phải xem lại. Lời của Chúa như một củ đấm giáng vào mặt, giống như một bữa nọ thầy cả Pashhur đã làm đối với ông giữa đám đông”(Gier 20,2). Không phải là Giêrêmia cam chịu cách bất đắc dĩ, nhưng quả thật ông không còn một chọn lựa nào khác. “Tôi sẽ không nghĩ đến Ngài, cũng chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa. Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bùng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến hao mòn, nhưng làm sao nén được” (Giêr 20,9). Lời của Thiên Chúa, lời chân lý, đã chế ngự Giêrêmia, như một ngọn lửa bừng bừng thiêu cháy. Hình ảnh này cũng làm cho ta liên tưởng đến một hình tượng song đối khác: Đó là một bức tranh hiền hòa mà tác giả thánh vịnh mô tả, khi ông ta nói về việc tìm kiếm Thiên Chúa. Bởi lẽ “Hồn con khao khát Chúa, thân xác con mòn mỏi đợi trông Ngài, như mảnh đất khô cằn không giọt nước: Lời của Thiên Chúa tạo nên ngọn lửa bùng cháy, ngọn lửa của sự thâm tín chân lý cách sâu xa và chính Ngài là đấng duy nhất có thể làm dịu cơn khát và dập tắt ngọn lửa đó.

Trong Tân ước, chúng ta có thể tìm thấy cả 2 yếu tố này:  nỗ lực tìm kiếm Thiên Chúa, đồng thời Thiên Chúa chính là đấng chinh phục và thâu tóm mọi sự. Sau khi Phêrô đã xác tín rất đúng Đức Giêsu là đấng Messia, ông vẫn đinh ninh trong đầu, Đức Giêsu là người chiến thắng sẽ thiết lập Vương quốc của Thiên Chúa, và ông là Petros, là đá tảng, sẽ trở thành phó vương chỉ đứng liền sau Đấng Messia trong vương quốc này. Đức Giêsu nói cho các học trò mình, là Ngài sẽ xây dựng Vương quốc đó không theo kiểu cách như vậy, nhưng Ngài sẽ phải “ chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão, các tư tế các ký lục. Ngài sẽ bị giết chết và ngày thứ ba  sẽ sống lại”.

Phêrô phản đối. Ông không chấp thuận tùng phục Thiên Chúa theo đường lối trên. Ông nói với Đức Giêsu “Thưa Thầy, xin Chúa đừng để những điều đó xảy ra cho Thầy”. Vấn đề ở đây, Chúa nói với Phêrô là ông đang suy tính không theo những gì Thiên Chúa vạch định, nhưng chỉ theo sự toan tính của loài người. Đức Giêsu đã hoàn toàn quy thuận thánh ý Chúa Cha, không phải ý riêng của Ngài. Ngài đi tìm kiếm và thực hiện những gì Cha Ngài muốn mà không thể chống lại được. Ngài không có một chọn lựa nào khác, song phải tuân theo.

Cách thức mà ngọn lửa bùng cháy lên dường như muốn thu tóm tất cả chúng ta. Nhưng một khi chúng ta dấn mình trên con đường này, chúng ta sẽ cảm nghiệm thấy một cái gì đó tựa như dòng nước sự sống của Thiên Chúa làm dập tắt ngọn lửa ấy. Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô đã khuyến mời giáo đoàn Rôma “ Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa,. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm trí, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa, cái gì là tốt nhất, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,1-2). Thánh ý của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng như  một con đường thẳng tắp, phẳng lặng và an bình, giống như Giêrêmia và Đức Giêsu đã vạch dẫn, nhưng tâm hồn những ai kháo khát Chúa sẽ được no thỏa nhờ nước ban sự sống, để nhờ đó, chúng ta được đổi mới tâm can hầu có thể phân định đâu là thánh ý Ngài.

John.W. Martens

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

 

Chủ Nhật 21 TN A: Đá Tảng Phêrô- Quyền bính vững chắc

Văn Hào, SDB

“Anh là Phêrô, là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy (Mt 16,18).

Một trong những điều mà Kinh thánh nói tới, thường dễ gây ra dị ứng, nhưng vẫn rất được quan tâm, đó là quyền bính. Quyền bính quả là một thách đố, nhưng thách đố như thế nào? Theo truyền thống Thánh kinh, quyền bính được phú trao như một ân huệ nhưng không. Tuy nhiên, đề cập tới những con người kém cỏi được trao ban quyền bính, thậm chí có quyền sinh sát hoặc có thể khuynh đảo xã hội, thì rất họa hiếm, trong xã hội ngày xưa cũng như ngày nay. Vì vậy, một cách mặc nhiên phải hiểu là, những ai được trao phó quyền bính, ngay cả những quyền bính được ban trao một cách chính đáng, thì chính họ cũng như chúng ta, cần phải lắng nghe để hiểu rõ sự thật về chính nhân thân nơi con người của mình. Trong cựu ước, các ngôn sứ  thường được trao phó để đảm nhận công việc khó khăn này. Thiên Chúa khích lệ và cổ vũ để họ dám nói, dám nhắc bảo những con  người nắm trong tay quyền lực nhưng phạm nhiều sai trái, để họ biết trở về với con đường giao ước và những thánh chỉ của Giavê.

Trong cách thức đó, Isaia đã nói với Shebna, “chủ cung điện”, tức tể tướng dưới triều đại của hoàng đế Sennacherib, vua nước Assyria. Chúng ta sẽ biết nhiều về thời kỳ này, cùng những nhân vật liên quan, khi đọc lại  sách Isaia 36-39, và sách các vua quyển thứ nhất 18-20. Isaia quả quyết với Shebna là ông ta sẽ bị tước quyền hành, để trao cho Eliakim, người sẽ làm chủ lâu đài. Hiện nay, Shebna đang là tể tướng triều đình. Shebna sẽ bị truất phế, theo lời Isaia, vì ông ta đã xây một lăng mộ kiên cố cho chính ông ta và đã bội nghĩa với chủ. Chúa nói qua miệng Isaia : “Ta sẽ tống khứ ngươi khỏi chức vụ, và sẽ đuổi ngươi ra khỏi địa vị.”

Đoạn văn trên mang chở ý nghĩa sâu xa, vừa trong văn mạch cổ xưa, vừa tương thích với  lối cắt nghĩa hiện nay. Eliakim đã được trao ban quyền bính, thay cho Shebna, “để trở thành cha của dân cư tại Giêrusalem và của nhà Giuđa. Ta sẽ đặt trên vai nó chìa khóa nhà Đavit, nó sẽ mở và không ai đóng được. Nó sẽ đóng lại và không ai có thể mở ra. Nó sẽ thắt đai lưng và ngồi trên ngai an toàn cho tới khi Eliakim bị hạ bệ và ngã đổ.”

Đoạn văn này vẫn để lại âm vang và ám chỉ về quyền bính để lãnh đạo trong Giáo hội, Ekklesia, như được nói tới trong trình thuật Tin Mừng hôm nay. Tại Cêsarê Philiphê, Đức Giêssu đã đặt tên cho Simon là Petros, nghĩa là Đá.  Matthêu thuật lại, Đức Giêsu nói với Phêrô “Con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy, cửa hỏa ngục cũng không chống nổi. Ta sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời. Điều gì ở dưới đất con cầm buộc, trên trời cũng sẽ cầm buộc. Điều gì con tháo mở dưới đất, trên trời sẽ tháo mở”.  Nhiều học giả tranh luận về tính xác thực của bối cảnh toàn bộ câu truyện. Nhưng có một điều chắc chắn, tên của Simon được Đức Giêsu  thay đổi và gọi là Petros, là chi tiết được cả 4 phúc âm thuật lại, không có gì phải bàn cãi.

Qua sự kiện này,  Đức Giêsu muốn nói lên điều gì? Oscar Cullmann trong cuốn tự điển thần học tân ước đã viết : “ Vì Phêrô, đá tảng của Hội Thánh, đã được chính Đức Giêsu đặt định, nên Ngài trở thành “ chủ của ngôi nhà, là chìa khóa của Vương quốc Nước Trời ”( Is 22,22; Khải huyền 3,7). Ngài còn là người trung gian của mầu nhiệm Phục sinh, và có phận vụ tiếp nhận dân của Chúa vào trong Vương quốc Phục Sinh này. Chính Đức Giêsu đã ủy thác cho Phêrô năng quyền để mở cửa Vương Quốc của Thiên Chúa đang đến, hoặc là sẽ đóng lại”. Shebna và Eliakim được phó trao quyền bính để phục vụ ông chủ của ngôi nhà là Hezekiah. Cũng vậy, Phêrô cũng được trao phó quyền bính để cai quản ngôi nhà của Đấng Messia.

Nhưng chúng ta phải nhớ rằng, quyền bính này không thuộc về người quản lý ngôi nhà. Nó hệ tại ở chính ngôi nhà đó, và sâu xa hơn, nó phát nguyên từ Thiên Chúa. Ngay sau khi Phêrô tuyên tín Đức Giêsu là Đấng Messia, ông đã bị Người khiển trách vì đã không quy thuận đường lối của  Chúa. Đó là lý do tại sao ngay cả hôm nay, khi chúng ta chấp nhận vâng phục quyền bính đối với các vị lãnh đạo trong Giáo hội, thì chính các Ngài là những người được ủy thác, luôn được mời gọi phải hành xử quyền bính trong khiêm tốn để phục vụ, bởi lẽ quyền bính tối thượng trong Giáo hội khởi nguồn từ Thiên Chúa, và chính xác hơn, là chính Thiên Chúa.

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chúa Nhật 18 TN năm A: Một tình yêu có thể sờ chạm đến được

Văn Hào, SDB

“Ai có thể tách chũng ta ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô ( Rm 8,13)”.

Báo “Người Canh Phòng” số ra ngày 19/6 có tường thuật rằng, theo một báo cáo của liên hợp quốc, con số những người di dân phải rời bỏ quê hương hiện nay vượt quá 50 triệu người trên khắp thế giới. Đây là con số kỷ lục kể từ sau thế chiến lần thứ hai. Sự gia tăng  số người di dân khiến các quốc gia tiếp nhận và các tổ chức trợ giúp cũng phải khựng lại. Phân nửa số dân tị nạn là trẻ em. Họ đi một mình hay từng đoàn, thất thểu tìm chốn nương thân, và thường bị rơi vào tay bọn buôn người.

Tôi chưa từng bị thiếu ăn một ngày nào, nhưng gia đình thân phụ tôi,  khi phải di tản sau thế chiến lần thứ 2, đã có kinh nghiệm này. Họ lê lết đi qua nhiều quốc gia và sống nhiều năm trong các trại tị nạn. Một người bà con của bố tôi đã sống cảnh ly tán từ năm 16 tuổi và sống sót sau chiến tranh nhờ được tiếp tế thực phẩm từ những người Mỹ thiện nguyện. Câu chuyện bi thảm của người họ hàng đó mãi 30 năm sau mới kết thúc, khi ông ta được đoàn tụ với mẹ và những người thân ở Canada.

Kinh Thánh thuật lại khá nhiều câu truyện về những di dân và những người đang bị cơn đói hành hạ, giống như trình thuật trong bài Tin mừng hôm nay. Thời Chúa Giêsu,  nhiều người sống rất bấp bênh, thiếu cái để ăn, thiếu nơi để ở, luôn bị đe dọa phải sống lưu vong hay bị tống khứ ra ngoài xã hội. Nhiều người trong họ, nhất là phụ nữ và trẻ em, dễ rơi vào tình trạng như vậy. Matthêu nói về việc Đức Giêsu làm phép lạ nhân bánh ra nhiều cho dân chúng ăn, khởi đầu bằng sự thương cảm của Ngài đối với đám đông, khi họ cần được chữa lành về thể lý cũng như tinh thần. Đoàn người đi theo Đức Giêsu tới một nơi hoang vắng. Các môn đệ Chúa  đã không tỏ ra vô cảm. Khi các ông thấy họ đói, đã xin Đức Giêsu giải tán để họ vào các làng mua thức ăn.

Tuy nhiên, việc Chúa Giêsu giảng dạy và chữa lành, thỏa mãn sự đói khát thiêng liêng của dân chúng, cũng chưa đủ nói lên việc thực hiện sứ mạng cứu thế của Ngài. Để trả lời các môn đệ, khi họ xin Chúa giải tán dân chúng, một đám đông khổng lồ gồm 5 ngàn người không kể phụ nữ và trẻ em, Ngài đã nói với các ông:” Họ không cần đi đâu cả, anh em hãy cho họ ăn”. Đây đích thực là một sự quan tâm rất cụ thể, khởi dẫn đến một phép lạ Đức Giêsu sẽ thực hiện. Nhưng về phía chúng ta thì sao ? Đức Giêsu nhắc đến trách nhiệm của các tông đồ cũng như của mọi người. Phép lạ  Đức Giêsu thực hiện chỉ có thể hiểu được khi gắn kết với sứ mạng cứu thế của Ngài. Phép lạ này không phải để phô diễn một kỳ tích trước quần chúng, nhưng nhằm  biểu tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, một tình yêu cụ thể mà chúng ta có thể sờ đến, chạm đến được. Khi chúng ta cho người nghèo túng được  ăn , hay cho những người vô gia cư có nơi trú ngụ, cho dù đó có phải là phép lạ hay không, thì ít ra động thái ấy vẫn biểu tỏ tình yêu của Thiên Chúa một cách rất cụ thể. Và đây chính là bổn phận của mỗi người chúng ta, cũng như của cả Giáo hội.

Tình yêu có thể sờ thấy, chạm thấy, đáp ứng những nhu cầu rất cụ thể của con người. Đó cũng là lý do ngôn sứ Isaia đã phóng một tầm nhìn xa về Vương quốc của Thiên Chúa, và không phải chỉ mình Isaia có được viễn kiến đó. Cái nhìn về Vương quốc được biểu tỏ qua hình ảnh nước uống nhằm thỏa mãn cơn khát. Đồng thời, mọi người có thể thỏa thích mua rượu và sữa mà không phải trả đồng nào. Bản văn thực sự nói về cuộc lưu đày của dân Israel, hoài vọng về cố hướng và mơ ước dến một đời sống mới, một cuộc sống mà Thiên Chúa đã hứa ban cho họ. Đó không phải là một quê hương trần thế, nhưng là một vương quốc thiêng liêng sẽ được thiết lập.

Đối với những người sống lưu vong rời xa đất mẹ, phải chiến đấu chống lại cái đói và tình trạng vô gia cư, không gì đáng mơ tưởng cho bằng lời hứa về một quê hương thanh bình với lương thực dồi dào. Khi đáp ứng những nhu cầu thể lý của những con người đang sống cảnh cơ hàn, tình yêu và những lời hứa của Thiên Chúa trở nên thật kỳ diệu.

Tình yêu của Thiên Chúa là một thực tại linh thánh. Quả thật, Thánh Phaolô  đã khẳng định rằng “ Cho dù hoạn nạn, cơ cực, bị sát hại, đói khát, trần trụi, tù đày, gươm đao,..vẫn không thể tách chúng tôi ra khỏi tình yêu của Đức Kitô”. Đây là một lời hứa linh thiêng rất sâu sa, được  gói ghém nơi một đoạn văn đẹp nhất trong toàn bộ  Kinh Thánh. Thánh Phaolô đã khẳng khái tuyên bố “ Dù sống hay chết, dù thiên thần hay ma vương quỷ lực, dù hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ một sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một thụ tạo nào khác, đều không thể tách lìa chúng tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Đây là lời hứa của Thiên Chúa về một tình yêu vĩnh cửu dành trao cho con người. Điều này biểu tỏ một thực tại, cho thấy tình yêu chính là  căn gốc thuộc  bản tính Thiên Chúa và Thiên Chúa hứa sẽ chăm sóc, yêu thương chúng ta, cho dù hiện tại chúng ta có như thế nào đi nữa. Đây cũng là lời gọi mời được gửi trao cho các tông đồ của Đức Giêsu cũng như cho toàn thể  Hội Thánh, một cộng đoàn được quy tụ  nhân danh Ngài. Hội Thánh tiếp nối sứ vụ của Đức Giêsu và các môn đệ, để nuôi dưỡng những người đói khát, giúp đỡ những người trần trụi có áo mặc, những kẻ không nhà có nơi ăn chốn ở, và cho những kẻ bị hất ra khỏi xã hội có chỗ dung thân. Khi thực hiện điều này, ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa sẽ trở nên một thực tại hữu hình, đập tan bóng tối đè nặng nơi những trại tị nạn đang nhốt kín biết bao con người khổ đau, và tình yêu của Thiên Chúa sẽ thâm nhập vào tận đáy lòng của những con người mà trước đây họ vẫn tưởng rằng mình bị quên lãng.

Thiên Chúa không lãng quên ai bao giờ.

John W. Martens

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chủ nhật 20 TN năm A: Mọi người đều “thuộc về”

Văn Hào, SDB

“Hãy đuổi bà ta đi, vì bà cứ lẽo đẽo đi theo và quấy rầy chúng ta”(Mt 15,23)

Có nhiều người không thuộc về ai, cũng chẳng thuộc về một tổ chức nào hay một đoàn thể nào. Họ thình lình xuất hiện, có thể chỉ để phá đám, hoặc gây rối. Họ không giống ai, có chăng chỉ là thứ  người ương ương, dở dở. Thiết tưởng rằng, bạn có thể suy đoán tôi đang nói tới loại người nào. Quả đúng như vậy, rất có thể trong loại người đó có bạn, và có cả chính tôi nữa. Giáo hội ngày nay đa phần gồm những con người chẳng đáp ứng đúng theo quy chuẩn mà các môn đệ đã đề ra, khi các Ngài nhìn vào người phụ nữ Canaan đã đến xin Chúa chữa lành cho con gái bà bị quỷ ám. Các môn đệ nói với Chúa hãy “quát bảo để đuổi bà ta đi, vì bà cứ lẽo đẽo đeo bám chúng ta mãi”. Tuy nhiên Chúa đã không xua đuổi, và Ngài nói với người phụ nữ: “ Ta chỉ được sai đến với các con chiên lạc nhà Israel”.

Tại sao bà ta không “ thuộc về”? Chúng ta khởi đầu với 3 lý do: hoặc bà ta chỉ là một  phụ nữ, hoặc bà ta là một người Canaan-  gốc dân ngoại, hoặc bà ta chỉ đến để nhũng nhiễu và gây rối, vì bà cứ  đeo bám một cách dai dẳng . Ấy vậy mà, một nửa trong chúng ta lại là phụ nữ, đa phần chúng ta cũng là gốc dân ngoại, và nói một cách công tâm, tất cả chúng ta đều đã từng nhũng nhiễu và gây bao phiền toái cho người khác. Đức Giêsu tuyên bố Ngài chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel, không có dân ngoại trong đó. Ngài còn so chiếu người phụ nữ Canaan với một con chó, có vẻ như thật khinh suốt, nếu đúng ngôn từ đó ám chỉ đến một con vật quen thuộc mà người ta vẫn thường nuôi trong nhà. Rõ ràng, người phụ nữ này không “thuộc về”, nhưng tại sao một kiều cư gốc dân ngoại lại không được Đức Giêsu quan tâm đến, khi Ngài thực thi sứ vụ chữa lành và rao giảng.

Đức Giêsu đã đến “miền Tyre và Sidon”, một vùng đất dân ngoại. Chắc chắn Ngài sẽ gặp những kiều dân ở đó. Điều này đánh đố chúng ta khi nêu vấn nạn tại sao Đức Giêsu lại tuyên bố “ Ngài chỉ được sai đến với các con chiên lạc nhà Israel” , cũng như Ngài đã từng chỉ thị cho các môn đệ giống như vậy khi sai các ông đi truyền giáo ( Mt 10,6). Tuy nhiên, chúng ta phải qui chiếu một cách hài hòa những lời tuyên bố trên với sứ vụ rộng khắp,  mà Đức Giêsu đã chuyển giao cho các môn đệ trước khi về trời  “ Hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Điều này gợi mở cho chúng ta  hai thực tại song chiếu trong lịch sử cứu độ. Một là dòng dõi Abraham, tức dân Israel-một dân tộc  ưu tuyển, được lựa chọn cách riêng để thực hiện  giao ước thân tình với Thiên Chúa, và mặt khác, giao ước này trong tương lai sẽ được dàn trải đến khắp muôn dân.

Ngôn sứ Isaia đã nêu lên khía cạnh thứ hai này theo truyền thống cựu ước. Vị ngôn sứ tiên báo rằng “Những dân ngoại giữ ngày sabat mà không vi phạm, và những ai tuân thủ giao ước của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỉ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng vì nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân” ( Is 56,6-7). Isaia và nhiều tiên tri khác cũng nói rằng sẽ tới lúc mọi dân tộc sẽ được đón nhận giao ước. Điều đó  xảy ra bao giờ và như thế nào, chúng ta phải  nhìn xuyên suốt trong lăng kính của lịch sử ơn cứu độ mới có thể lãnh hội được. Trong sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu và của cả Giáo hội, chúng ta sẽ thấy lời tiên báo của Isaia đang trở thành hiện thực.

 

Có thể, thái độ và lời nói của Đức Giêsu đã chạm đến lòng tự ái của người phụ nữ Canaan. Nhưng các học trò của Ngài trong khoảnh khắc lạ kỳ đó của lịch sử cứu độ, đã khơi dậy lòng tin của bà đặt để nơi Thiên Chúa, là Chúa của người Israel.  Thoạt đầu, Đức Giêsu đã im lặng, không đáp trả trước lời cầu ngỏ của người thiếu phụ. Kế đến Ngài tuyên bố là Ngài chỉ được sai đến với các con chiên lạc nhà Israel, với người nhà mà thôi. Và cuối cùng Ngài còn nói một cách mạnh mẽ  thẳng thừng “ Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó.”  Trong cơn thử thách, người phụ nữ gan lì này đã không tuyệt vọng, nhưng vẫn tin. Bà ta vẫn tin chắc chắn  rằng Đức Giêsu có thể ra tay hành động để cứu chữa con gái bà.

Đức tin của bà không bị lung lay và chẳng suy chuyển chút nào.

John W. Martens

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

 

 

Chúa Nhật 16 TN A: Cứ để cả hai cùng mọc lên

Văn Chính, SDB

Mt 13, 24-43

Một điểm nổi bật của Dụ ngôn Cỏ Lùng mà chúng ta dễ nhận thấy, đó là sự quân bình và trưởng thành của các đầy tớ. Nếu không có sự quân bình và trưởng thành này của các đầy tớ, thì dụ ngôn có thể có một kết cục khác như sau:

Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?” Ông đáp: “Kẻ thù đã làm đó!” Đầy tớ nói: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?” Ông đáp: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Thế rồi, một trong số đầy tớ liền nói: “Cứ để tôi, thưa ông chủ. Vì tôi có thể phân biệt rõ lúa và cỏ lùng”. Rồi anh ta đi làm, và khi nhổ cỏ lùng, anh ta đã làm bật rễ những gốc lúa như ông chủ đã nói trước.

Ngày nay, có nhiều Ki-tô hữu cũng giống như những người đầy tớ quá nhiệt thành kia, không chấp nhận sự bao dung đối với những loại cỏ lùng xấu. Với sự nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa, họ sẵn sàng làm một cuộc thánh chiến với những ai họ nhận thấy là xấu, với ý định loại trừ họ ra khỏi Giáo hội, quốc gia, hay thế giới này. Rốt cuộc, họ mới nhận ra rằng mình đã mắc phải lỗi lầm nghiêm trọng.

Bạn cứ tưởng tượng các đầy tớ ngạc nhiên và bị “sốc” thế nào khi họ trở về nhà báo cho ông chủ biết chuyện cỏ lùng đang mọc trong ruộng lúa của ông, và xin phép để đi nhổ cỏ lùng. Như những người nông dân tốt, họ muốn làm chuyện đó. Thế nhưng tại sao ông chủ lại cản họ không nhổ cỏ lùng trong ruộng? Có thể vì 2 lý do:

Trước hết, ông chủ biết rằng lúa đang sống và mọc lên cùng với cỏ lùng. Cỏ lùng có thể gây bất tiện tạm thời nào đó trong lúc này, nhưng chúng không thể làm lúa chết được. Thứ đến, đây là chuyện quan trọng, ông chủ biết thật khó để phân biệt giữa lúa và cỏ lùng. Chúng trông rất giống nhau. Chỉ khi mùa gặt đến, các đầy tớ mới có thể phân biệt được rõ ràng nhờ vào hoa trái của chúng. Cho dẫu các đầy tớ có thể phân biệt được chính xác cỏ lùng và lúa, thì ông cũng ngăn cản họ, vì lý do “sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa” (Mt 13,29).

Sau đó, Đức Giê-su tiếp tục giải thích cho các môn đệ rằng “Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái ác thần” (c 38). Lối giải thích này của Đức Giê-su làm sáng tỏ quan điểm của dụ ngôn: các người Ki-tô hữu không nên tìm cách loại trừ những kẻ xấu ra khỏi thế gian này. Họ cứ để kẻ tốt và người xấu sống bên cạnh nhau trong thế giới cho đến Ngày Thu Hoạch. Khi đó mọi sự sẽ dựa vào kết quả của họ. Chúng ta nên để kẻ tốt, người xấu sống chung trong một nhà, một căn hộ, một tòa nhà, một khu vực, một quốc gia, một thế giới, vì lý do đơn giản: chúng ta là những con người tốt nhưng cũng có thể phạm phải sai lầm. Một cách tự nhiên, chúng ta cũng có thể có ý tưởng giống như các đầy tớ trong dụ ngôn, thế nhưng ý tưởng đó không đúng. Các đầy tớ trung tín là những người biết nhận ra rằng họ có thể sai lầm. Sự bất khoan dung, ước muốn loại trừ người xấu quanh chúng ta, sẽ biến chúng ta trở thành những người đầy tớ bất trung đối với Thiên Chúa, Đấng “cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45)

Những người đầy tớ quá nhiệt thành muốn loại trừ những người mà họ nhận thấy là xấu, rốt cuộc họ cũng đang đi tới ý định chống lại chính Thiên Chúa. Chúng ta hãy nghĩ tới trường hợp của chàng thanh niên Sao-lô mà sau này trở thành Thánh Phao-lô. Ngài đã từng một thời nhiệt thành ruồng bắt những người Ki-tô hữu, vì ngài đã mang nơi mình một quan điểm xấu. Chúng ta cũng có thể nghĩ đến những người “Ki-tô hữu nhiệt thành” muốn săn đuổi những kẻ phá thai, đồng tính, những người tín hữu da trắng với đầu óc kỳ thị chủng tộc, chủ nghĩa duy quốc gia, nòi giống...

Sứ điệp Tin mừng ngày hôm nay thật rõ ràng. Nếu bạn muốn trở thành người đầy tớ trung tín của Thiên Chúa, bạn cần được chuẩn bị để biết đón nhận những kẻ mà bạn nhận thấy là xấu xa. Chúng ta phải nhớ lời của Thày Giê-su: “Cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt” (câu 30).

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Chủ Nhật 19 Thường Niên Năm A: Câu chuyện về “Ma-thánh thiêng”

Văn Hào, SDB

“Hãy can đảm lên. Thầy đây, đừng sợ” (Mt 14,27)

Chỉ đảo qua những bản dịch Kinh Thánh cổ xưa chuyển sang Anh Ngữ, ví dụ bản dịch của Douay-Rheims hay của King James, chúng ta sẽ thấy hạn từ ma (ghost) xuất hiện hơn cả một trăm lần ở mỗi bản dịch. Các bản dịch này chuyển ngữ từ hạn từ Hy Lạp hagios pneuma thành thuật ngữ “Holy ghost” (ma thánh ). Trong các bản dịch hiện hành, các dịch giả thường sử dụng từ “Holy Spirit” (thần khí). Từ ngữ “ghost” (ma) trong các văn bản hiện nay chỉ dùng để chuyển ngữ từ tiếng Hy Lạp Phantasma và hạn từ này chỉ xuất hiện trong trình thuật kể lại việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước, như được thuật lại trong Mt 14,26. Tuy nhiên, từ ngữ ghost trong bản dịch của Douay-Rheims và King James không ám chỉ ý niệm ma quái, mà  nói  về một cuộc thần hiện (apparition) hoặc về sự xuất hiện của thần khí (spirit), thì có lẽ chính xác hơn.

Điều này lý giải lý do tại sao ý niệm của từ ngữ này dần dần được chuyển đổi. Ngày nay, người ta dang dần dần loại bỏ những hình ảnh ma quái trong các phim hoạt hình, trong các câu chuyện cho trẻ em, hay trong các hóa trang ngày lễ Halloween (trước lễ các Thánh). Vì thế, thuật ngữ holy ghost (ma thánh thiêng) không còn biểu thị cho 2 khía cạnh “thánh thiện và thiêng liêng” nữa. Ám ảnh sợ hãi không nhất thiết phải gắn liền với hình ảnh ghost (ma). Dẫu sao, khi người ta dùng từ ngữ phantasma  với ý niệm về ma quái, hoặc về thần hiện, hoặc nói về thần khí, rõ ràng từ ngữ này không nhắm đến một con người bằng xương bằng thịt bình thường xuất hiện trước mặt các môn đệ. Cho nên, sự liên tưởng khi nhìn thấy một phantasma (có vẻ giống như ma quái) đang đi trên mặt nước khiến các ông khiếp sợ. Họ la toáng lên “ma kìa” và rất kinh khiếp.

Khi có một người lạ hay một người chúng ta không hề quen biết xuất hiện, thường  chúng ta sợ. Đây là phản ứng tự nhiên của chúng ta cũng như của các tông đồ. Tuy nhiên, trong lần gặp gỡ này, Đức Giêsu muốn vén mở đôi điều về thần tính của Ngài cho các học trò mình. Thoạt đầu, Chúa  đi trên mặt nước cách lạ thường không phải nhằm khải thị thần tính của Ngài, cho dù sự kiện đó rõ ràng biểu hiện năng quyền của Ngài có thể thống trị thiên nhiên. Điều sâu xa Chúa Giêsu muốn truyền đạt cho các môn đệ , giữa lúc các ông đang khiếp hãi, là lời trấn an “Hãy can đảm lên, Thầy đây, đừng sợ”. “Thầy đây” là thuật ngữ dịch từ tiếng Hy Lạp “egô eimi” có nghĩa “Ta là”. Đây cũng là lời bày tỏ căn tính của Đức Chúa Giavê trong cựu ước, được sách xuất hành 3,14 thuật lại. Chúa nói với Môisen : “Ta là (Đấng) Ta Là” – Ego sum qui sum . Đức Giêsu muốn phá tan nỗi khiếp sợ của các môn đệ bằng cách khẳng định sự hiện diện của Ngài giữa cơn giông bão, và sâu xa hơn, đó chính là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi hữu thể của Đức Giêsu. Thiên Chúa đang hiển hiện nơi thân xác của chính Đức Giêsu.

Phêrô xuất hiện, và ông đã đáp trả lời trấn an của Thầy mình. Ông tin rằng đây không phải là một bóng ma, một phantasma, nhưng là chính Đức Giêsu Đấng đang gọi mời ông và các môn đệ. Phêrô bắt đầu bước xuống biển và đi trên mặt nước. Nhưng một lần nữa, ông lại sợ khi sóng to gió lớn nổi lên. Quyết tâm của ông bị chao đảo. Ông từ từ lún chìm trong dòng nước. Cho dù Đức Giêsu có nói hay không nói với Phêrô “ Sao kém tin thế”, thì Phêrô cũng đã gào lên với Chúa “Thưa Thầy, xin cứu con”. Đây là một động thái tổng hợp cả hai mặt: vừa nghi ngờ khiến ông bị chìm, vừa bày tỏ lòng tin như một phương sách cuối cùng. Lòng tin đó khởi dẫn ông tìm đến ơn cứu độ giữa lúc bị chìm dưới biển. Không phải chỉ Phêrô, nhưng tất cả những ai lúc đó đang ở trên thuyền, chứng kiến những sự kiện nói lên sự trọng thị đối với Đức Giêsu - chính xác hơn là sự tôn phục Ngài, chúng ta cũng như các tông đồ sẽ phải thốt lên “ Đúng Ngài là con Thiên Chúa”. Đức Giêsu đã mặc khải  uy quyền của Ngài vượt trên sức mạnh thiên nhiên và khuất phục cả những mãnh lực làm chúng ta chảo đảo sợ hãi. Nhưng quan trọng hơn hết, Ngài khải thị cho chúng ta chính thần tính của Ngài và biểu tỏ sức mạnh có thể cứu lấy những gì đã hư mất.

Đa phần chúng ta chưa từng có kinh nghiệm về sự hiện diện linh thánh của Thiên Chúa sâu xa như các môn đệ, và trải nghiệm đức tin giống như các ngài đã kinh qua khi thắng vượt được sự nghi ngờ và nỗi sợ hãi. Các ngài e rằng, mình có thể  rơi vào những ảo giác bên ngoài nhằm đánh lừa , và cái họ thấy trước mắt chỉ là một bóng ma đầy kinh khiếp. Vì thế, đây là mấu chốt khiến câu chuyện ma trong trình thuật Tin Mừng hôm nay trở nên khá thú vị. Không phải lúc nào Thiên Chúa cũng đến với chúng ta trong hình hài thân xác, hoặc giữa cơn bão tố, hay trong lúc chúng ta chao đảo đức tin. Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta trong muôn vàn cách thái khác nhau. Ngôn sứ Elia đã đến một cái hang trên núi Horeb, ngọn núi của Chúa, để gặp Chúa. Nhưng Chúa không hiện diện trong cơn giông bão. Ngài không có mặt trong cơn động đất, trong núi lửa, nhưng Chúa đến trong “tiếng gió hiu hiu nhè nhẹ”. Sau khi Elia nghe những âm thanh nhẹ nhàng này, ông tiến ra đứng trước cửa hang để đón gặp Chúa. Trong sự thanh vắng sau cơn bão tố, Chúa đã xuất hiện , hoàn toàn tĩnh lặng giữa núi rừng. Thần khí của Chúa đã đến với Elia dưới một  một dạng thức thiêng liêng. Người ta có thể sánh ví , Ngài đến giống hệt như một bóng ma vậy.

John.W.Martens

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

CN 17 TN năm A: Cái Cũ và cái Mới

Văn Hào, SDB


Trong các câu chuyện thần thoại và cổ tích, người ta thường nhắc đến 3 điều ước. Ước muốn sỡ đắc một cái gì hoặc ước muốn được toại nguyện một công việc gì, là mong ước chung của con người ngày xưa cũng như ngày nay. Trong  chuyện thần thoại, sau khi lựa chọn những điều mình ước, sự thật sẽ phơi bày ra. Bài học cho thấy, đạt được ước nguyện không dễ dàng gì. Sách các vua quyển thứ nhất giới thiệu với chúng ta một trạng huống gần giống như trong truyện cổ tích, nhưng nhân vật chính là vua Salomon, một vị vua trẻ rất khôn ngoan. Thiên Chúa hiện ra với Salomon trong một giấc mơ giữa đêm khuya và nói với ông “Hãy xin ta một điều ước, và ta sẽ ban cho”. Bởi lẽ, Salomon là một con người khiêm tốn thẳm sâu, và có lòng yêu mến Thiên Chúa, nên ông ta tuyên bố mình chỉ là tôi tớ của Chúa. Ông chỉ xin cho mình một điều ước giản đơn , đó là được khôn ngoan  để lãnh đạo dân,  và để biết phân định đâu là tốt, đâu là xấu. Vị vua Israel này chỉ có một  ước muốn duy nhất là có được khả năng để phục vụ Chúa và dân của Ngài.

Vua Salomon đã phân định, không phải chỉ là những ước mơ hời hợt và nông nổi, nhưng là một mong ước sâu xa tận đáy lòng để biết quy thuận ý Chúa. Ông được ban sự khôn ngoan để có thể thấy được điều gì là tốt nhất cho đất nước của ông, cho dân của ông, cũng như đó là điều tốt nhất cho chính ông. Salomon đã không cảm nghiệm trước được niềm vui do ân ban này, và ông chỉ nếm trải khi niềm vui đó đã đã tròn đầy. Đứng trước lời cầu xin của Salomon, Thiên Chúa đã ban cho ông một “đầu óc khôn ngoan và biết phân định tốt xấu”. Ngài còn ban cho ông ấy 2 điều khác “Ta sẽ ban cho con cả những điều con không xin, đó là sự thịnh vượng và được kính phục trong suốt cả đời” , và “Nếu con bước đi trong đường lối của Ta, tuân giữ những thánh chỉ và nhưng huấn lệnh của Ta, như Đavid thân phụ ngươi đã tuân hành, thì Ta sẽ cho con được trường thọ” (1V 3,13).

Salomon đã biết nhận ra những giá trị khác cao quý hơn của cải trần thế. Khi gặp cảnh huống tương tự, có lẽ chúng ta vẫn thích cầu xin cho mình được giầu sang, được phú quý, được sống lâu, và khi đã trải nghiệm cuộc đời với những suy nghĩ chín chắn hơn, chúng ta mới tìm kiếm sự khôn ngoan và sự minh mẫn. Vương quốc của Salomon, tuy giàu của cải, nhiều sự kính phục dành cho ông và ông sẽ được sống lâu, vẫn là một vương quốc thuộc trần thế và qua mau, sớm muộn cũng sẽ lụi tàn. Vì vậy việc Salomon tìm kiếm sự khôn ngoan khai mở cho chúng ta một hướng đích khác để nhắm đến. Nếu sự khôn ngoan trần thế là một điều đáng mơ ước, thì tại sao chúng ta lại không ước mơ đến một sự khôn ngoan khác - Sự khôn ngoan trong vương quốc vĩnh cửu?

Trong hai dụ ngôn mà Thánh Matthêu nói tới hôm nay, Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta sự khôn ngoan mới mẻ này “ Nước Trời giống như một kho tàng được chôn giấu trong ruộng. Có người đã tìm thấy và đem giấu đi. Rồi anh ta vui mừng đem bán tất cả của cải anh có để mua cho được khu ruộng ấy. Thế rồi, Chúa Giêsu lại nói tiếp “ Nước Trời giống như một thương gia đi tìm ngọc quý, khi đã tìm được, anh ta đã bán tất cả tài sản để mua viên ngọc quý đó”.

Hai dụ ngôn này đề cập đến hai khía cạnh: Một là giá trị lớn lao của kho tàng chôn trong ruộng hay giá trị của viên ngọc quý, mà Nước Trời được sánh ví, hai là ước muốn của những con người tìm ra kho báu hoặc viên ngọc đã dám bán tất cả để mua cho được cái mình đã tìm thấy. Cả hai khía cạnh này đều rất quan trọng. Điều đầu tiên,  chúng ta có nhận ra vương quốc nước trời vượt trên những giá trị trần thế hay không, và thứ đến, chúng ta có dám bán mọi sự để tậu cho được điều chúng ta đã khám phá ra không.

Cũng giống như sự khôn ngoan, không phải giàu sang, danh vọng hay trường thọ, Vương quốc Nước Trời có thể được chia sẻ cho người khác mà không bị mất đi hay bị suy giảm. Luôn luôn, sự khôn ngoan lúc nào cũng dồi dào để ta có thể sẻ chia, có thể ban tặng, có thể đổi trao. Đó là lý do tại sao, anh thương gia và người phú hộ dám liều bán tất cả để mua điều quý giá đã tìm thấy. Đó là một hình ảnh xem ra có vẻ khôi hài và cũng rất táo bạo, cũng như bạn bán một cái gì đó để có thể tậu lại, làm sở hữu cho riêng mình. Tuy nhiên, Vương quốc Nước Trời vẫn không bị suy giảm  hoặc mất đi, sau khi bạn bán mọi thứ để tậu nó lại, đồng thời người khác vẫn có thể mua nó. Điều lạ lùng nhất, là sau khi bạn mua lấy Nước Trời, niềm vui của việc mua bán vẫn không bị vơi mất. Người mua sẽ chẳng bao giờ phải hối hận.

Đức Giêsu đã kết thúc hai dụ ngôn bằng câu hỏi, xem những học trò của Ngài có hiểu những điều Ngài giảng dạy hay không. Họ trả lời rằng có. Tuy nhiên, Ngài đã tóm kết 2 dụ ngôn bằng 1 dụ ngôn ngắn khác. Ngài nói “ Bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời, cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của  mình cả cái mới lẫn cái cũ.”

Quả vậy, Đức Giêsu đã hướng dẫn các môn đệ của mình vào trong kỷ luật. Lời giáo huấn của Ngài tự nó là một kho tàng, nhưng cái gì là mới và cái gì là cũ? Đa phần các học giả đồng ý cho rằng sự khôn ngoan theo Kinh Thánh Cựu ước là cái cũ, còn sự khôn ngoan của Đức Giêsu thì mới. Còn chúng ta, chúng ta được mời gọi hãy khám phá ra kho tàng quý giá từ cả hai.

John. W. Marteus 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %