• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY NĂM A: ÁNH SÁNG

Văn Hào, SDB 

“Khi xưa anh em là bóng tối, nhưng hiện nay trong Chúa, anh em là ánh sáng.” (Eph 5,8)

Ngày ngắn đêm dài. Mùa đông ở Minnesota, trời tối biết bao, khi ánh sáng mặt trời dường như ẩn chìm dưới lớp đá và tuyết bao trùm vạn vật. Ngay cả tại những vùng thường không bị các cơn bão tuyết tàn phá, mùa đông vẫn luôn khắc nghiệt. Tuy nhiên, cho dù ở giữa mùa đông tồi tệ nhất, người ta vẫn có thể sống khi đã quen thuộc với bóng tối. Song, còn một thứ bóng tối sâu xa hơn – sự tăm tối về tâm linh – là một dạng tăm tối nơi thân phận con người, vẫn luôn xảy ra, bất kể mùa đông, mùa hè hay ở thời điểm nào. Mùa chay là thời gian gợi nhắc chúng ta : Đức Kitô đã đến. Ngài là Ánh Sáng soi chiếu trần gian, giải thoát chúng ta khỏi cảnh tăm tối thiêng liêng, và ban trao cho ta Ánh Sáng bất diệt không bao giờ phai tàn.

Trong Tin mừng của Thánh Gioan, Đức Giêsu đã gặp một người mù. Nhưng sự mù lòa thể lý chỉ diễn tả một khía cạnh của bóng tối, và đó cũng không phải là sự  tăm tối sâu xa nhất. Sự mù lòa nơi đôi mắt  anh ta có thật, nhưng cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, đặc biệt theo văn mạch cổ thời bấy giờ, người ta vẫn coi bệnh tật là hệ lụy do tội của chính đương sự. Đức Giêsu phản kháng quan niệm cho rằng anh ta bị mù vì chính anh ta đã phạm tội. Nhưng người mù cần phải phải đáp trả để có thể tiếp cận nguồn ơn chữa lành.Vài người biệt phái đã phẫn nộ với Đức Giêsu, vì Đức Giêsu đã lấy đất sét và mở mắt cho người mù trong ngày Sabát.

Tin Mừng cho chúng ta thấy động thái của Đức Giêsu gây ra sự chia rẽ giữa những người Pha-ri-siêu, khiến một số người trong họ quay sang thách đố Chúa vì “ bất cứ ai chữa bệnh  trong ngày Sa-bát, họ vi phạm luật Môsê”. “Đây không phải là người bởi Thiên Chúa , vì ông ta không tuân thủ luật giữ ngày Sa-bát”. Tuy nhiên, một số người Pha-ri-siêu khác lại hoài nghi, làm sao một người tội lỗi lại có thể làm được những dấu lạ như thế. Cuộc tranh luận dường như đưa ra nhiều lý lẽ, cố gắng để phân định xem những động thái của Đức Giêsu  như thế nào.  Người được chữa lành trước đây có mù thực sự hay không?  Có phải Đức Giêsu đã chữa  lành cho anh ta không? Có phải việc đó xảy ra trong ngày Sa-bát không?  Việc chữa lành người mù có tương hợp với thánh ý Chúa và phù hợp với lề luật không ? 

Vấn đề lớn hơn ở đây là chúng ta cần phân biệt hai thứ mù lòa: mù lòa theo nghĩa đen và mù lòa theo nghĩa bóng. Trên bình diện thiêng liêng, ai thực sự sáng mắt và ai thực sự mù lòa? Có phải hành động của Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa hay chống lại đường lối của Thiên Chúa?  Điều mà những người Pha-ri-siêu nói tới chính là yếu tố then chốt giúp chúng ta phân định về mặt thiêng liêng. Đó cũng là một nỗ lực giúp ta phân định đâu là ánh sáng thật, và đâu là tối tăm thật. Mọi người chúng ta đều biết, là có nhiều tu sĩ cố gắng thể hiện mình là những con người thánh thiện, bước đi trong ánh sáng, trong khi họ vẫn sống giả dối hai mặt, gieo mầm bóng tối và sống không trung thực: Có những người là sứ giả của Thiên Chúa, nhưng lại sống rất giả dối.

Khi có một ai mới lạ đến rao giảng về ánh sáng, chúng ta cần hỏi xem cách thức họ nói có tương hợp với những gì chúng ta biết về cách thức Thiên Chúa thực hiện, phù hợp với kinh thánh và với thánh truyền hay không. Rất hợp lý khi chúng ta đặt nghi vấn xem người đó có phải đã rao giảng bởi một động cơ nào đó chứ không phải bởi Thiên Chúa ,hay không. Những người Pha-ri-siêu có lý khi tra khảo Đức Giêsu, trừ khi họ không muốn thấy ánh sáng và không muốn đón nhận ánh sáng như người mù trong Tin mừng đã trải nghiêm. Cuối cùng, hành động để diễn bày ánh sáng thật của Thiên Chúa không thể được thực hiện cách giả tạo, và bóng tối vẫn không thể được che dấu đi. Đó là lý do tại sao tác giả lá thư gửi giáo đoàn Êphêsô  (vẫn được coi là của Thánh Phaolô ) đã viết: “ Trước kia anh em là bóng tối, bây giờ trong Chúa anh em  là ánh sáng.” Chúng ta phải để ý điều này, là thánh Phaolô không nói các Kitô ở trong ánh sáng hay sống trong bóng tối, nhưng Ngài nhấn mạnh: anh em là ánh sáng. Đây không phải là kiểu nói văn chương chải chuốt, mời gọi ta tiếp cận ánh sáng hay đẩy lui bóng tối, nhưng Ngài nói về chính đời sống mà người kitô hữu  đang sống. Không cần lý luận dông dài, cũng không cần những chiến dịch vận động rầm rộ để che đậy sự tối tăm nơi mình. Cũng vậy, ánh sáng thật sẽ sáng lên và đẩy lùi bóng tối. Nếu các Kitô hữu là ánh sáng, họ phải sống như “con cái sự sáng”.

Người ta có thể nhận ra bóng tối qua những việc đem lại ánh sáng. Người mù trong Tin Mừng mang chở một chứng tá khi từ tình trạng mù lòa, anh ta được biến đổi để có thể xem thấy. Việc chữa lành đó, người ta có thể thấy bằng mắt một cách thể lý. Còn nơi người Kitô hữu, việc chữa lành sự mù lòa thiêng liêng chỉ có thể thấy được khi chính họ trở nên ánh sáng. Phép thánh tẩy là khởi đầu của cuộc biến đổi này. Nó khai mở  một cuộc hồi sinh dẫn tới sự sống mới. Nhưng điều đó chỉ có thể thấy được xuyên qua những việc làm tốt lành, đúng đắn và chân thật. Là những môn đệ tiếp nối dấu chân của Đức Giêsu, mỗi ngày chúng ta phải luôn thực hành sự phân định để chọn lựa giữa ánh sáng và bóng tối, để khi có người hỏi chúng ta “ Có phải người đó đến từ Thiên Chúa không? , chúng ta sẽ trả lời:” Bây giờ trong Chúa, chúng tôi là ánh sáng.”

John W. Martens (Trợ lý giáo sư thần học tại Đại học Thánh Tô-ma, St.Paul, Tiểu bang Minnesota , Hoa Kỳ)

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

 

Chúa Nhật thứ 3 Mùa Chay A: Đến và Chia sẻ Tin mừng cho Tha nhân

Xh 17:3-7; Rm 5:1-2, 5-8; Ga 4:5-42

Hơn một năm trước đây, Hồng Y Đoàn đã bầu chọn Đức Thánh Cha Phan-xi-cô làm Giám Mục Roma và là Đức Thánh Cha của chúng ta. Cũng trong năm qua, Đức Thánh Cha đã làm cho giới truyền thông chú ý đến những gì mà chúng ta chưa từng thấy trong đời. Dường như lời nói và hành động của Đức Thánh Cha đã trở thành những tin tức hằng ngày.

Điều này cũng kích thích ngay cả bản thân tôi, vì dường như Giáo hội vốn không thích giới báo chí trong vài năm vừa qua. Không chỉ thế, cả việc thăm dò ý kiến công luận cũng cho thấy khoảng 20% người Hoa Kỳ cho biết họ chẳng quan tâm tới vấn đề tôn giáo. Kết quả cuộc thăm dò còn cho thấy số người đến tham dự những nghi lễ tại các nơi thờ phượng, gồm những người Công giáo và các tôn giáo khác, cũng giảm sút trầm trọng trong những thập niên vừa qua. Tuy nhiên, dường như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã thay đổi được con số này.

Chúng ta tự hỏi: tại sao lại có sự giảm sút về mối quan tâm thực hành tôn giáo? Chắc hẳn có nhiều lý do và vấn đề này cũng phức tạp nữa. Chúng ta không có thời gian để phân tích và tìm ra lý do ở đây, nhưng tôi chỉ muốn dùng một ít phút để bàn đến cả những người ít niềm tin và không có niềm tin, cũng như những người không chia sẻ chung một niềm tin Công giáo. Bài Tin Mừng ngày hôm nay gợi cho chúng ta nhiều ý hay để suy tư.

Tôi muốn bắt đầu từ bài Tin mừng nói về người phụ nữ Sa-ma-ri và Đức Giê-su tại bờ giếng Gia-cóp. Đó là một cuộc gặp gỡ thường ngày và Đức Giê-su cũng chỉ làm mọi chuyện bình thường. Ngài hỏi xin người phụ nữ nước uống, và bị chị ta vặn lại: “Ông là người do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao?” Chúng ta biết rằng cả hai giới lãnh đạo tôn giáo của người Do Thái và người Sa-ma-ri đều dạy rằng: mọi mối tương giao giữa 2 nhóm người cừu địch này đều là chuyện sai trái, họ chẳng đi vào lãnh địa của nhau hay nói chuyện với nhau. Bên nào ở bên nấy, và cả hai đều cho rằng bên kia là không đúng. Mỗi nhóm đều cho rằng họ mới là những người giữ được niềm tin tôn giáo Do Thái chính thống truyền lại từ thời Áp-ra-ham, Môi-sen, và Đấng Cứu Thế sẽ đến để cứu thoát họ. Vì thế, người Do Thái khinh miệt những người Sa-ma-ri, và ngược lại.

Không chỉ thế, giới lãnh đạo tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem và tại Đền Thờ dạy rằng mọi bậc thày không bao giờ được nói chuyện với một người phụ nữ, và nhất là còn đụng chạm tới những vật dụng dùng để ăn hay uống của người Sa-ma-ri, vì như thế là bị ra ô uế. Đức Giê-su đã phá bỏ những quy định này khi Ngài bắt chuyện với chị phụ nữ Sa-ma-ri, và uống cùng một gàu nước múc từ giếng nước Gia-cóp.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã liên tục mời gọi mọi người Công giáo, đặc biệt các linh mục và Giám mục, hãy đi đến với dân chúng, cách riêng “những người sống bên lề” xã hội, những người nghèo, những người bị kỳ thị, bị lãng quên... tương tự như những con chiên đi lạc. Ngài nói với các Giám mục và linh mục rằng họ cần phải có “mùi của những con chiên”, nhất là những con chiên lạc. Nói cách khác, đó chính là ước muốn của Đức Thánh Cha khi chúng ta đọc bài Tin Mừng ngày hôm nay, rồi từ đó hãy biến trở thành những chuyện bình thường khi chúng ta đi đến với những người nghèo, nghèo về vật chất và nghèo cả về tinh thần. Đức Thánh Cha nói với chúng ta rằng các tội nhân cần được yêu mến, và các linh mục hãy đi đến để gặp gỡ họ như Đức Giê-su đã đến để gặp chị phụ nữ Sa-ma-ri tại bờ giếng Gia-cóp.

Nên biết rằng trong trình thuật Tin Mừng ngày hôm nay, chính Đức Giê-su đã có sáng kiến và đi bước trước. Chính Ngài đích thân tìm đến với chị phụ nữ Sa-ma-ri, chứ không phải chị phụ nữ đến với Ngài trước. Đức Thánh Cha muốn chúng ta hãy học đòi nơi Đức Giê-su chuyện này.

Khi đến với chị phụ nữ Sa-ma-ri để giải đáp vấn đề của chị, Đức Giê-su muốn tỏ cho chị ta biết Ngài là ai và chị ta nên xin Ngài một thứ “nước hằng sống”, thứ nước không chỉ làm cho chị “đã khát” về thể lý. Ngài muốn ban cho chị thứ nước của ân sủng Thiên Chúa, thứ nước làm cho chị thỏa mãn những cơn khát tâm linh. Đức Giê-su nói với chị: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4,13).

Trong thế giới quanh ta, biết bao người đang khát khao tình thương yêu. Trong sự đơn độc và cô đơn, họ khao khát có được ý nghĩa của cuộc sống. Chúng ta có các Bí tích của Đức Ki-tô, có thứ nước hằng sống để trao ban cho họ... mà họ không biết. Chính trên trần gian này, chúng ta có thể mang lại cho họ tin mừng, giúp họ được phúc âm hóa. Hơn hết, toàn bộ ý nghĩa và mục đích của việc phúc âm hóa hệ tại ở việc chia sẻ cho người người anh chị em quanh chúng ta chính Tin mừng của Thiên Chúa, đặc biệt những ai đang sống bên lề Tình yêu của Thiên Chúa, những người nghèo đói về tâm linh.

Có những người nghĩ rằng cuộc đời họ là thứ bỏ đi, chẳng đáng để Thiên Chúa quan tâm đến. Tất nhiên điều đó không đúng. Chúng ta biết rằng cuộc đời riêng tư của chị phụ nữ Sa-ma-ri cũng chẳng ra gì, thế mà Đức Giê-su vẫn yêu thương chị và muốn phục hồi toàn bộ cuộc sống của chị, đưa chị đến với con đường sống. Đó chính là tin mừng, tin vui cho chị. Nhờ đó, chị phụ nữ Sa-ma-ri đã bắt đầu nhận thấy Đức Giê-su không như những người Do Thái khác. Chị nhận ra Ngài là một vị tiên tri, rồi sau cuộc chuyện trò, chị lại nói: “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” Quả thế, Đức Giê-su đã nói cho chị mọi điều xảy ra cho cuộc sống của chị, rồi Ngài tỏ cho chị biết:”Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”. 

Một khi đã nhận ra Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, chị bỏ cả vò nước lại, chạy vào làng và kể cho mọi người biết những gì đã xảy ra cho chị. Kết cục, nhiều người Sa-ma-ri trong làng cũng bắt đầu tin vào Đức Giê-su. Nhờ đó, cuộc sống tâm linh của họ đã được cải thiện và tăng trưởng một khi chính họ nhận ra Đức Giê-su là ai.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô muốn chúng ta cũng nên giống chị phụ nữ Sa-ma-ri: nhận ra Đức Giê-su Na-da-rét là ai, một Đấng Cứu Thế, một Đấng Cứu độ, rồi sau đó lại chia sẻ những gì chúng ta biết cho những người sống chung quanh. Khi làm được chuyện này, chúng ta đã trở thành những người rao truyền tin mừng, trở thành những tông đồ, những sứ giả của Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện, đồng hành và yêu thương chúng ta.

Tất nhiên cũng có những người không tin chúng ta. Chủ nghĩa duy vật và tục hóa làm cho nhiều người chạy theo những thần giả trá, sống ích kỷ, chỉ quan tâm đến tiền bạc và làm sao kiếm được thật nhiều tiền, rồi hưởng lạc... Thế nhưng cũng có vô số người sẽ nhận ra đời sống tâm linh của họ đang dần trở nên cằn cỗi. Họ khát nước. Họ cần những người nói cho họ những lời của Đức Giê-su nói với chị phụ nữ Sa-ma-ri: “Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những ai thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.”.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô quả là một món quà tuyệt vời mà Thiên Chúa ban tặng chúng ta. Ngài rao giảng qua chính lối sống của ngài, một lối sống theo Tin mừng của Đức Giê-su. Đối với tôi, bài trình thuật Tin mừng hôm nay đã được chính Đức Thánh Cha sống. Bản thân cần noi gương bắt chước ngài và sống những gì ngài mời gọi tôi.

Thế còn anh chị em thì sao? Như chị phụ nữ Sa-ma-ri, anh chị em hãy chia sẻ Tin mừng mà mỗi người đã lãnh nhận.

Lm. Charles Irvin

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

SUY NIỆM MÙA CHAY: Hãy vác thập giá mình

Văn Hào, SDB

(Trích trong tập “Chúa Kitô Phục Sinh và đời sống hằng ngày)

Mầu nhiệm phục sinh là tâm điểm đức tin chúng ta. Nhiều Kitô hữu vẫn thường quy chiếu đức tin nơi các mầu nhiệm khác, ví dụ: mầu nhiệm Nhập Thể: làm sao Thiên Chúa trở nên người phàm, cũng như làm sao Thiên Chúa thấu hiểu và đi vào cuộc sống thân tình với chúng ta. Nhiều người khác lại quy chiếu cuộc sống môn đệ của mình trong việc thực hành các mối phúc như là khuôn mẫu cho cuộc sống Kitô hữu và như một kim chỉ nam cho các hành động nơi mình. Tất cả điều đó đều là những khía cạnh quan trọng trong đời sống Kitô hữu. Nhưng đối với tôi, mầu nhiệm phục sinh vẫn là tâm điểm của đời sống thiêng liêng. Mỗi ngày, tôi vẫn trở về với chủ đề này để suy gẫm, hay nói một cách bao quát hơn, tôi vẫn trở về với câu chuyện Chết và Phục sinh của Đức Kitô.

Nhưng mầu nhiệm phục sinh can dự gì đến chúng ta? Chắc hẳn, cũng như bao người khác, chúng ta không bị đóng đinh, cho dầu nhiều Kitô hữu khắp nơi trên thế giới vẫn còn bị tàn sát và giết chết. Và ở đây, vẫn còn một câu hỏi liên quan mà chúng ta không thể trả lời nếu không quy chiếu vào mầu nhiệm phục sinh, đó là “Chúa Giêsu muốn nói gì với chúng ta, trong Tin Mừng Nhất Lãm, khi Ngài mời gọi: “Hãy vác lấy thập giá mình mỗi ngày?” . Cùng với lời gọi mời nhức nhối đó, Chúa Giêsu nói tiếp: “Ai muốn cứu lấy mạng sống mình, sẽ bị mất nó, và ai liều mất mạng sống mình vì Tôi, sẽ tìm lại được mạng sống ấy”. Điều đó có ý nghĩa gì? Đây là một vài suy tư gợi ý về những câu hỏi này.

1.     Trước hết, bạn không cần tự kiếm tìm thập giá cho chính mình. Chính cuộc sống sẽ trao cho bạn thập giá. Nhiều bạn trẻ rất chân thành nói với tôi là họ có rất ít những đau khổ phải hứng chịu trong cuộc sống. Tôi trả lời có vẻ như tiêu cực “Rồi hãy đợi đấy”. Có thể là một cơn bệnh khó chịu, một tai nạn xảy ra, một người chết trong gia đình, một cuộc tình tan vỡ, những phiền toái trong công việc làm ăn, sự cô đơn triền miên, những rắc rối nơi trường lớp, hay những đấu tranh ngoài xã hội để có công ăn việc làm,… Những vấn đề rồi sẽ tới. Thập giá thực sự sẽ đến, điều mà bạn chẳng mong muốn. Bạn chẳng nghĩ đó là thập giá hay sao? Hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã chẳng muốn chết và Ngài cũng không xin gửi thập giá đến cho mình khi cầu nguyện trong Vườn Giệtsêmani. Nhưng rồi, thập giá đã đến với Ngài, và đương nhiên thập giá không phải là hệ quả của tội lỗi. Rõ ràng, nhiều đau khổ đến với ta chỉ là hậu quả của những quyết định vô luân hay xấu xa. Nhưng đa số thì không phải vậy. Nhiều người vô tội vẫn phải hứng chịu những khổ đau.

2.     Thứ đến, cũng giống như Chúa Giêsu, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để chấp nhận thập giá. Điều này không có nghĩa là chúng ta chấp nhận gánh chịu đau khổ một cách vô tư  và thụ động giống như một con vật hoàn toàn câm nín khi phải mang một gánh nặng. Cũng không phải chúng ta gánh chịu đau khổ như những tên tử tội bị chích thuốc độc để phải chết. Ý tưởng chấp nhận và phó dâng những khổ đau cho Chúa có thể giúp chúng ta trong một vài trường hợp, nhưng không phải luôn luôn là như vậy. Mẹ tôi đến thăm bà ngoại của tôi tại nhà dưỡng lão trong nhiều năm. Ở đó có một nữ tu lớn tuổi phải ngồi xe lăn do già yếu. Một bữa nọ, Bề trên của vị nữ tu đó đến thăm. Khi vị nữ tu già này kể lể cho Bề Trên về sự đau đớn bà phải chịu đựng, Bề Trên trả lời “Chị hãy suy tưởng đến Chúa Giêsu trên thánh giá”. Vị nữ tu già mới nói: “Nhưng mà Ngài ở trên thánh giá có 3 tiếng đồng hồ mà thôi”. Nhiều khi những lời khuyên chẳng ích gì mà còn làm tổn hại thêm.

HÃY VÁC LẤY NHỮNG GÁNH NẶNG

Điều này có nghĩa là gì? Có phải là sau đó chấp nhận những thánh giá?

Để bắt đầu, chúng ta phải hiểu rằng đau khổ là một phần của cuộc sống con người. Chấp nhận vác thập giá, nghĩa là hiểu một cách nào đó, sau khi hứng chịu những khủng hoảng, những chán nản, buồn sầu và cả những bầm dập, chúng ta phải chấp nhận những gì đã xảy đến không thể đổi thay. Đó là lý do tại sao việc chấp nhận những khổ đau không phải là cái gì mông lung như một thứ thuốc gây mê, nhưng rõ ràng là một thực tại. Đây là điều khác biệt giữa Kitô giáo với Phật giáo, khi Phật giáo chủ trương việc chịu đựng khổ đau chỉ là một ảo tưởng. Không, trên thập giá, Chúa Giêsu đã tuyên bố cho ta thấy khổ đau gắn liền với kiếp người. Các môn đệ đã có lúc không hiểu điều này. Họ cần một vị lãnh tụ có thể cất khỏi họ những đau khổ, chứ không phải là một Đấng nào đó lại chuốc lấy những khổ đau cho chính mình. Vẫn còn những lúc ta thường rơi vào cảnh huống khó khăn giống như vậy. Nhưng, trên thập giá, chính Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy chấp nhận những khổ đau. Chấp nhận cũng có nghĩa là, không phải miễn cưỡng chịu đựng mà tâm hồn vẫn cảm thấy cay cú. Chấp nhận khổ đau không phải là chúng ta không được nói về những đau khổ đó, không được ta thán, ngay cả không được gào thét để thổ lộ với bạn bè hay gia đình. Và lẽ đương nhiên khi cầu nguyện chúng ta được mời gọi hãy chân thành giãi bày nỗi lòng với Chúa. Ngay cả Đức Giêsu khi cầu nguyện với Chúa Cha trong vườn Cây Dầu, Ngài cũng đã trải lòng mình ra như vậy.

Nhưng nếu bạn đang có sự tức giận với ông chủ của bạn nơi làm việc, hoặc ở nhà trường, hay trong gia đình, bạn không cần bộc lộ sự giận dữ đó ra cho ai và cũng đừng khuếch đại sự đớn đau bạn đang gánh chịu. Nếu bạn có một ông chủ đối xử với bạn tồi tệ, bạn cũng đừng vì thế mà trở nên nhỏ nhen với gia đình bạn. Hoặc về nhà gặp những chuyện rối ren, cũng đừng vịn cớ mà tỏ ra vô cảm với những người chung quanh tại nơi làm việc. Có những chuyện không may ở trường học, về nhà bạn đừng nổi cáu với bố mẹ. Chúa đã không nổi quạu với bất cứ ai khi hứng chịu những đau khổ, cả khi đón lấy những trận đòn tả tơi.

Điều này không có nghĩa là bạn không được mở lòng chia sẻ với người khác về những khổ đau bạn hứng chịu. Ví dụ, khi bị lạm dụng tình dục hay bị khủng hoảng, bạn cần chia sẻ với người khác (có thể với bạn bè hay nhà tư vấn chuyên môn) để bạn được trợ giúp chữa trị. Cũng vậy, những người phải chịu đựng những thách đố dai dẳng triền miên, chẳng hạn, phải chăm sóc một đứa trẻ tật nguyền hay khá đặc biệt, hoặc nuôi dưỡng cha mẹ lớn tuổi…, cần thổ lộ với những người đồng cảnh ngộ để tìm được sự đồng cảm và nâng đỡ. Cũng giống như Chúa Giêsu, bạn có thể nhờ ai vác thập giá giúp mình. Chúa Giêsu đã không kiêu ngạo cậy vào sức mình quá khi để ông Simon thành Kirênê kề vai giúp Ngài vác thập giá. Nếu bạn bè ngỏ ý giúp, bạn đừng từ chối.

Khi bạn đánh con cái bạn rồi sau đó đến chỗ làm việc, mặt bạn lầm lầm lì lì, và việc bạn chia sẻ những vất vả (cả những niềm vui) khi chăm sóc một đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt để tìm sự nâng đỡ, lại là 2 điều hoàn toàn khác nhau: khác nhau ở chỗ một bên là thụ động hứng chịu đau khổ, và một bên là chia sẻ sự hứng chịu đó với người khác. Nói tóm lại, đừng biến thập giá của bạn trở thành thập giá cho một ai đó.

3.     Thứ ba, khi Chúa Giêsu nói về những ai mất mạng sống mình, Ngài không chỉ có ý nói về sự sống thể lý mà thôi. Người Kitô hữu tin rằng, họ được hứa ban đời sống vĩnh cửu, nếu họ tin vào Chúa Giêsu và bước theo con đường của Ngài. Nhưng còn nhiều cái chết khác đến trước cái chết thể lý sau cùng. Chúng ta được gọi mời tập chết, tập chôn vùi một vài phần của cuộc sống để những phần khác có thể tồn tại. Ví dụ, ước muốn có nhiều tiền khiến chúng ta dễ trở nên lãnh cảm trong công việc. Có lẽ bạn muốn được sống mạnh khỏe hơn là muốn chết. Có   khi bạn bị người khác làm phật lòng lại khiến bạn trở nên bất cần, không quan tâm gì đến họ.  Con người ích kỷ của bạn cần phải chết đi để bạn có thể cảm nghiệm sự hồi sinh của lòng quảng đại nơi con người bạn. Phải chăng sự kiêu căng tự mãn khiến bạn bịt tai trước những lời phê bình mang tính xây dựng từ người khác khiến bạn không thể tiến triển trên con đường thiêng liêng.?

Có phải những cái đó cần  chết đi hay không? Về đời sống thiêng liêng trong Kitô giáo, chúng ta gọi đó là “chết cho chính mình”. Cái gì ngăn cản khiến bạn không thể sống yêu thương hơn, tự do hơn, chín chắn hơn, và rộng mở tâm hồn hơn để quy thuận thánh ý Chúa? Bạn để những thứ đó chết đi có được hay không? Nếu có, chắc chắn, bạn sẽ “tìm được sự sống của mình”, bởi lẽ, chết cho chính mình chính là sống cho Chúa. Đây là điều Chúa Giêsu muốn nói tới khi Ngài ngỏ lời với những ai buông xuôi không muốn cứu lấy mạng sống mình. Cách thức “cứu lấy” ở đây, hàm ngậm việc giải thoát chúng ta khỏi những lề thói cũ trói buộc chúng ta. Nếu chúng ta khư khư cố giữ lại những điều cũ kỹ này, chúng ta sẽ chết. Nếu chúng ta can đảm khai trừ chúng, chúng ta sẽ được sống.

4.     Thứ tư, hãy chờ đợi sự Phục Sinh.

Nơi mỗi thánh giá của cuộc sống, luôn hàm chứa một lời mời gọi hướng về một cuộc sống với một cách thức nào đó, thường thường là một cách nhiệm mầu. Đối với tôi, dường như khó hiểu, khi nói Chúa Giêsu biết rõ những gì sẽ xảy đến cho mình khi Ngài phó thác mình cho Chúa Cha trong vườn Cây Dầu. Rõ ràng Ngài hiến mình trọn vẹn cho Chúa Cha. Nhưng liệu Ngài có biết trước những gì sẽ xảy ra? Có những điều đã được tiên báo. Chúa Giêsu đã nói với các lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ “Cứ phá hủy đền thờ này đi, trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại.” Thánh Gioan minh nhiên đưa ra một lời tiên báo về sự Phục Sinh. Nhưng nỗi thống khổ Chúa Giêsu kinh qua trong vườn Cây Dầu và tiếng kêu than thống thiết khi bị bỏ rơi trên thập giá dường như cho ta thấy Ngài không hề hay biết về cuộc sống mới mà Cha Ngài đã dành sẵn cho Ngài. Có lẽ, dường như Chúa Giêsu cũng kinh ngạc trong ngày Phục Sinh. Đối với tôi, điều này khiến việc tự hiến của Ngài cũng gây ngạc nhiên. Đây là lý do tại sao người Kitô hữu hay nói về việc gặp gỡ Chúa Giêsu trên thánh giá. Nếu không biết hoặc không thể ôm lấy thập giá, chúng ta sẽ vuột mất cơ hội biết Chúa một cách thâm sâu hơn. Thập giá thường là nơi chúng ta có thể gặp được Chúa, bởi vì khi chúng ta bị tổn thương, chúng ta dễ mở lòng ra đón nhận ơn Chúa nhiều hơn. Nhiều thứ rượu giúp phục hồi sức khỏe đã hướng dẫn rằng cứ chấp nhận bệnh tật vui vẻ, bạn sẽ từ từ được bình phục . Đây là điều Cha Thomas đã viết  “Trong những bầm dập cay đắng, Thiên Chúa dạy dỗ chúng ta”. Một người bất hạnh nhất trên trần gian chính là những người chưa bao giờ nếm trải những cay đắng bầm dập trong đời sống mình.

5.     Thứ năm, Quà tặng của Thiên Chúa thường đến từ những gì chúng ta không ngờ tới.

Đây là điều mà bà Maddalêna đã khám phá ra, trong ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Cùng với bà Maria, thỉnh thoảng, chúng ta cũng cần có thời gian để nắm bắt được những gì chúng ta đang trải nghiệm, đó là một cuộc Phục Sinh thực sự. Sau biến cố Phục Sinh, các Tông Đồ khác cũng phải có thời gian chín mùi để nhận ra được Đức Giêsu. Cũng như các Tông Đồ đã khám phá ra trong ngày Phục Sinh,  Mầu nhiệm Phục Sinh cũng không xảy ra khi chúng ta chờ đợi. Có khi cần nhiều năm trời. Và cũng thường khó cắt nghĩa, bởi vì đây là sự Phục Sinh của chính bạn. Điều đó có thể chẳng can dự gì đến người khác. Khi tôi còn là một tập sinh Dòng Tên, tôi làm việc trong một bệnh viện phục vụ cho những bệnh nhân ốm nặng ở Cambridge, Massachusett. Mỗi thứ Sáu hàng tuần, nhóm tuyên úy bệnh viện tổ chức một cuộc hội thảo để chia sẻ. Một phụ nữ tên là Doris, một bệnh nhân đã gắn bó đời mình với chiếc xe lăn, đã chia sẻ một điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Bà ta vẫn thường nghĩ chiếc xe lăn chính là thánh giá của bà, và tôi cũng nghĩ như thế. Nhưng từ từ, bà cụ đã coi chiếc xe lăn chính là sự Phục Sinh. Bà nói: “Chiếc xe giúp tôi đi vòng quanh. Không có nó, tôi chẳng làm được gì. Cuộc sống sẽ thật chán nản nếu không có nó”.

Lời nhận xét của bà lưu lại dấu ấn trong cuộc đời tôi suốt 25 năm trời. Thật khó hiểu và không hiểu nổi. Thập giá của bà Doris dẫn đưa bà tới sự Phục Sinh cao cả cho chính bà. Cần nhớ rằng khi mà thế giới chỉ thấy có bóng dáng thập giá, người Kitô hữu chúng ta còn phải nhìn ra những cái khác đàng sau thập giá ấy.

 

Kết luận: Từ sợ hãi đến niềm tin

 

Cuối cùng, đối với Chúa, không có gì là không thể làm được.

Đây là thông điệp mà tôi sẽ thường xuyên nói tới. Tin Mừng Thánh Gioan kể lại, vào ngày thứ nhất trong tuần, các môn đệ ngồi co rúm với nhau trong căn nhà đóng kín, vì sợ. Sau biến cố ngày thứ Sáu tuần Thánh, các Tông đồ hoảng sợ. Thánh Matthêu và Marcô cũng thuật lại rằng, trước đó vào đêm thứ Năm tuần Thánh, họ đã tháo chạy khỏi vườn Cây Dầu vì khiếp hãi. Tối hôm đó, Phêrô đã chối không biết Chúa. Nếu họ cảm thấy sợ khi nghe Chúa bị xử án tử hình, chúng ta hãy tưởng tượng xem thái độ phản ứng của họ ra sao khi thấy Chúa oằn vai vác thánh giá qua những con đường ở Giêrusalem, rồi lại bị đóng đinh vào thập giá, phơi thân ở đó cho đến chết. Đức Giêsu, thủ lĩnh của họ đã bị kết án như một tên tội phạm, một kẻ thù của quốc gia. Con người mà họ  đặt kỳ vọng đã chết. Cánh cửa đã khép lại. Còn gì nữa ngoài sự sợ hãi?

Một lần nữa, các Tông đồ đã không thể nhận ra rằng họ đang nghĩ về một Thiên Chúa đang sống, cũng như Ngài đã loan tin cho Maria Maddalena “Không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được”. Các Tông Đồ không thể nhìn thấy những gì phía sau bức tường của căn phòng đã đóng kín. Họ không muốn chấp nhận rằng Thiên Chúa là Đấng vĩ đại hơn những gì mà họ suy tưởng.

Hẳn nhiên, các ngài có thể được tha thứ. Chúa Giêsu đã chết, thế là hết. Và ai có thể tiên báo Ngài sẽ sống lại? Một lần nữa, chúng ta không dễ để các Tông đồ buông xuôi. Đức Giêsu luôn muốn các Tông Đồ ngạc nhiên với những kỳ vọng. Ví dụ: Khi chữa lành các bệnh nhân, dẹp tan bão tố, cho kẻ chết sống lại… Chúa muốn các Tông đồ biết hướng về một chân trời hy vọng khi các ngài hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng họ đã không làm thế.

Chúng ta vẫn thường nghĩ mình không thể tin rằng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ta một cuộc sống mới. Chúng ta vẫn hay nói: “Mọi sự sẽ không có gì thay đổi, chẳng còn hy vọng gì cả”. Điều này xảy ra khi chúng ta rơi vào bóng tối của thất vọng, thỉnh thoảng đó cũng là do sự cao ngạo của chúng ta. Có nghĩa là, chúng ta vẫn tưởng chúng ta rảnh rỗi hơn Thiên Chúa, giống hệt như khi chúng ta nói “Thiên Chúa không thể xoay nổi tình thế đâu.". Tuyệt vọng là con đường đen tối và nguy hiểm nhất, nó còn đen tối hơn cả sự chết.

Có mấy ai trong chúng ta tin rằng một phần cuộc sống chúng ta sẽ phải chết đi. Có mấy ai nghĩ rằng một phần của đất nước, của thế giới, của Giáo Hội không thể vươn đạt đến sự sống? Có mấy ai trong chúng ta cảm nhận được ân huệ cao quý của niềm hy vọng và sự biến đổi?

Điều này sẽ đến khi chúng ta trở về với việc Phục Sinh. Tôi vẫn thường nhắc lại hình ảnh các Tông đồ co rúm sợ hãi trong căn nhà đóng kín. Trong căn phòng đó, chúng ta không thể kêu mời hướng đến sự sống. Chúng ta được mời gọi thoát vượt những nơi ẩn náu đen tối, để cùng đồng hành với Maria Maddalena, có thể đôi lần đã khóc sướt mướt giống như bà, nhưng luôn trên đường đi kiếm tìm, và cuối cùng chói lòa trước bình minh của một đời sống mới nơi Đức Giêsu: Tràn đầy kinh ngạc, phấn khởi và dẫn đưa chúng ta đến niềm vui.

Chúng ta được mời gọi để tìm kiếm điều mà bà Maria đã thấy “Chúa đã sống lại”.

Bài viết của Cha James Martin, SJ

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

CN 3 Mùa Chay A: Có Đức Ki-tô trong cuộc sống

Trong cuộc sống của người ki-tô hữu, việc đặt Đức Giê-su ở tâm điểm cuộc sống sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta nên tốt hơn gấp bội.

Một ông bố đang đọc báo, nhưng cứ bị đứa con gái nhỏ quấy rầy. Nó muốn ông bố chỉ cho nó xem bản đồ của nước Hoa Kỳ. Với những lời nài nỉ của đứa bé, ông bố bèn xé một mảnh tờ báo chỗ có in hình nước Hoa Kỳ, rồi ông tiếp tục xé mảnh báo này thành những miếng nhỏ hơn, đưa cho đứa bé và bảo: “Con hãy vào trong phòng, rồi xếp lại những miếng này lại với nhau thì con sẽ thấy được bản đồ nước Hoa Kỳ”. Đứa bé vui vẻ nhận lấy những miếng báo nhỏ từ tay ông bố, vào phòng và bắt đầu xếp các mảnh nhỏ này lại với nhau. Chỉ vài phút sau, đứa bé ra và đưa cho ông bố xem bản đồ nước Hoa Kỳ. Ông bố lấy làm ngạc nhiên và hỏi cô bé: “Sao con thông minh thế? Sao con có thể sắp xếp nhanh như vậy?”. Đứa bé nhanh nhảu trả lời: “Vì con thấy hình Chúa Giê-su in ở mặt bên kia, nên con xếp theo đúng hình mặt Chúa Giê-su.” Ông bố đã hiểu ra tại sao hình bản đồ Hoa Kỳ đã được con của mình xếp nhanh như vậy.

Đúng thế, khi chúng ta cho phép Đức Giê-su đến trong cuộc sống của mình, thì mọi chuyện sẽ xảy ra tương tự như thế. Đó cũng chính là mục đích của Mùa Chay Thánh: Đức Giê-su đến trong tâm hồn và cuộc sống của chúng ta, từ đó mọi sự sẽ đi vào trật tự của nó.

Trong các Kinh Tiền Tụng của Mùa Chay, chúng ta đọc thấy những lời này:

Vì Chúa ban cho các tín hữu hằng năm được hân hoan đón chờ mầu nhiệm Vượt Qua với tâm hồn đã được thanh tẩy (Kinh Tiền Tụng Mùa Chay 1)

Chúa đã thương ấn định cho con cái Chúa một thời gian đặc biệt để phục hồi sự trong sạch các tâm hồn” (Kinh Tiền Tụng Mùa Chay 2)

Chúa dùng chay tịnh phần xác chế ngự nết xấu, nâng cao tâm hồn chúng con và ban sức mạnh cùng phần thưởng, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. (Kinh Tiền Tụng Mùa Chay 4)

Như thế vào cuối mùa Chay, tâm trí và tâm hồn chúng ta được canh tân, được đổi mới trong tinh thần, sửa chữa được những nết xấu, nâng tâm hồn lên cùng Chúa và tăng trưởng trong sự thánh thiện. Và cũng vào cuối Mùa Chay thánh, chúng ta muốn để cho Đức Ki-tô chiếm ngự trong tâm hồn và cuộc sống của chúng ta, vì Đức Giê-su chính là “điều cần cho cuộc sống” mà chúng ta đang tìm kiếm.

Đây cũng chính là những gì mà người phụ nữ Sa-ma-ri-ta-nô cần tới khi đối diện với Đức Giê-su tại bờ giếng Gia-cóp. Câu chuyện được mào đầu từ phía Đức Giê-su khi Ngài hỏi xin nước uống (Ga 4,7). Cái khát của Đức Giê-su mang tính biểu tượng: Ngài khao khát niềm tin của chị phụ nữ. Trong suốt cuộc nói chuyện, Đức Giê-su giúp chị dần nhận ra được điều chị cần: niềm tin trong tâm hồn.

Chúng ta có thể nhìn thấy sự tăng triển trong niềm tin của chị khi đối đáp với Đức Giê-su: danh xưng mà chị gọi Đức Giê-su cho thấy mỗi lúc, chị lại càng kính trọng Đức Giê-su hơn khi cuộc nói chuyện cứ tiếp diễn. Thoạt đầu, chị gọi Đức Giê-su là “Ông là người Do Thái” (4,9); rồi đến “Ông là một vị ngôn sứ” (4,19); sau cùng “là Đấng Ki-tô” (4,29). Tiếp đến, không chỉ riêng chị phụ nữ này, mà nhiều người Sa-ma-ri-ta-nô khác nữa trong thành cũng đến và gọi Đức Giê-su là “Đấng Cứu Độ trần gian” (4, 42).

Quả thực, Đức Giê-su đã khơi lên đức tin nơi tâm hồn của chị phụ nữ Sa-ma-ri-ta-nô. Kinh Tiền Tụng trong thánh lễ hôm nay có viết: “Khi người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-ta-nô cho nước uống, Người đã ban cho bà đức tin. Vì Người tha thiết ước mong bà tin vững mạnh, nên đã đốt lên trong lòng bà ngọn lửa yêu mến Cha” (Kinh Tiền Tụng Chúa nhật 3 Mùa Chay).

Đức Giê-su khao khát niềm tin của chị phụ nữ và khơi lên niềm yêu mến Thiên Cha Cha nơi tâm hồn của chị. Cũng thế, Đức Giê-su khao khát đức tin của chúng ta và khơi lên lòng yêu mến Chúa Cha mãnh liệt trong tâm hồn chúng ta. Có Đức Giê-su trong cuộc đời sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta nên tốt đẹp gấp bội, mỗi ngày mỗi tốt hơn. Như chị phụ nữ xứ Sa-ma-ri-ta-nô, chúng ta cần đặt Đức Giê-su ở trung tâm cuộc sống, và đó là điều chúng ta cần tìm kiếm mỗi ngày.

“Vậy, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hưởng hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.” ( Rm 5, 1-2)

Fr. Tommy Lane

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY NĂM A: TRÁNH XA TỘI LỖI

Văn Chính, SDB

“Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,10)

Trong trình thuật cám dỗ của Mát-thêu, tâm điểm của thực tại tội lỗi được phô bày khi Xa-tan sẵn sàng dâng hiến cho Đức Giê-su “mọi nước trên trần gian và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy”, với chỉ một điều kiện thôi: “nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” (c.9) Trong mỗi hành vi tội lỗi, chúng ta đều có ngầm ý này: muốn thờ lạy một điều gì đó hay một ai đó thay vì Thiên Chúa. Đây cũng chính là điều mà Hiến Chế về “Phụng Vụ Thánh” của Công Đồng Vatican II đã mô tả: tội lỗi là “việc chống lại Thiên Chúa” (số 109). Tuy nhiên, Đức Giê-su đã bẻ gẫy sự đồng thuận ngấm ngầm này, một thứ đồng thuận làm nên tội lỗi của bao thế hệ con người, khi Ngài từ chối mọi cám dỗ và những lời dối trá của Xa-tan bằng cách trích lời trong sách Đệ Nhị Luật: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Đnl 6,13).

Chúng ta vừa bước vào Mùa Chay thánh, một mùa gợi nhắc cho chúng ta thái độ dứt khoát của Đức Giê-su đối với tội lỗi. Qua thái độ đó, Ngài thiết đặt lại thái độ cơ bản của con người trước tội lỗi. Với sự dứt khoát nói “KHÔNG” với tội lỗi, một thái độ được thực hiện cách bí tích trong Phép Rửa, và qua sự sám hối chuẩn bị mừng đại lễ Phục Sinh (biểu tỏ sự chiến thắng của Đức Giê-su trên quyền lực của tội lỗi mà Ngài đã khước từ trong sa mạc), Giáo Hội mời gọi chúng ta thực hiện những hành vi sám hối. Sám hối phải mang tính “nội tâm và cá nhân, nhưng cũng mang tính bên ngoài và tập thể nữa”, vì những hành vi cụ thể hữu hình này nói lên ước muốn thờ phượng Thiên Chúa và từ khước Xa-tan của chúng ta. Chúng biểu tỏ “sự ghê tởm tội lỗi vì là một hành vi chống lại Thiên Chúa” (Phụng vụ 109).

Sám hối là thái độ cơ bản khi con người đối diện với những tội lỗi của mình. Việc phạm tội thật dễ dàng, nhưng cũng thật mau quên như thể nó chưa hề xảy ra, và nếu có thì cũng dễ tìm ra những lời giải thích biện minh. Người ta thật dễ tìm ra những lời bào chữa cho tội lỗi của mình, hay tìm cách quên nó đi, như lời Đức Giê-su đã nói: “Hãy lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em” (Lc 3,42) Tội lỗi càng lan rộng khi chúng ta không nhận ra nó hay giả lờ như không biết tới nó. Điều này có thể xảy ra nơi chính bản thân mỗi người khi chúng ta giả vờ như không biết những chuyện như giận dữ, tham ăn, nói hành nói xấu... là những tội xúc phạm đến tha nhân và Thiên Chúa, hay có thể xảy ra trên tầm mức xã hội, khi chúng ta thích thú xem những tranh ảnh và phim ảnh đồi trụy, những hành vi hay lối sống ngầm ý ủng hộ cho những chuyện bạo lực, lạm dụng trẻ em, phụ nữ...

Tội lỗi cũng là một mầu nhiệm khó hiểu và khó để hủy diệt nó. Chẳng hạn, tại sao chúng ta lại làm những điều mà chúng ta biết là sai, những điều mà chúng ta không muốn làm? Trong thư mục tử gởi cho các linh mục vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh năm 2002, Chân Phước Gio-an Phao-lô II đã đề cập đến chuyện lạm dụng tính dụng trẻ em như là “một sự hàng phục trước những dạng thức khổ đau dữ dằn nhất của mầu nhiệm sự dữ (mysterium iniquitatis) trên thế giới này”. Lối diễn đạt bằng hạn từ tiếng La-tinh về “mầu nhiệm tội lỗi”, không phải là một cố gắng làm minh tỏ về tội lỗi, nhưng cho thấy tính chất phi lý và sức quyến rũ chết người của nó, ngay cả khi chúng ta “biết rõ” về nó. Tội lỗi lôi kéo chúng ta ra xa khỏi Thiên Chúa và đưa chúng ta đến chỗ hư không và hủy diệt như thánh Âu-tinh đã mô tả. Thật khó để từ bỏ tội lỗi ra khỏi cuộc sống của chúng ta.

Chính vì thế, Mùa Chay là thời gian cần thiết trong cuộc sống của Giáo Hội và trong cuộc sống cá nhân của những người môn đệ theo Đức Ki-tô. Mùa Chay mời mọi chúng ta dứt khoát khước từ tội lỗi và quay trở về với Thiên Chúa, để không như A-đam và E-và ngày xưa, vì ước muốn trở thành Thiên Chúa, đã quay lưng lại với chính Thiên Chúa và đã rơi vào vòng xoáy của tham vọng cá nhân. Mùa Chay mời gọi chúng ta nên giống Đức Ki-tô, Đấng giống với chúng ta trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi, Đấng đã chiến thắng những cơn cám dỗ rất lô-gíc và mê hoặc chết người của ma quỷ, để không quay lưng lại với Thiên Chúa. Chúng ta hãy làm như tác giả thánh vịnh đã viết, một khi đã lỡ sa ngã phạm tội, chúng ta hãy can đảm quay trở về với Thiên Chúa với “một tâm hồn tan nát và thống hối”, để Thiên Chúa ban cho chúng ta sự tha thứ và lòng thương xót từ ái của Người.

Khi suy nghĩ về những tội lỗi của mình và thực hiện những hành vi sám hối, chuyện này không nhằm chất thêm gánh nặng trong cuộc đời chúng ta, nhưng làm nhẹ gánh trên đôi vai của chúng ta, để lưng của chúng ta có thể đứng thẳng và đón nhận “ân ban nhưng không” của Thiên Chúa. Thánh tông đồ Phao-lô đã viết:”nếu tội lỗi đã thống trị bằng cách làm cho người ta phải chết, thì ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.” (Rm 5,21)

Vậy khi bước vào Mùa Chay thánh, chúng ta hãy cùng với Đức Giê-su nói lên lời khẳng định này: “Xa-tan kia, xéo đi!”. Hãy quay lưng lại với tội lỗi, để ân sủng của Thiên Chúa đổ tràn xuống tâm lòng, tâm trí của chúng ta.

John W. Martens (giáo sư thần học tại Đại Học thánh Tô-ma, St. Paul, Minn.)

Cầu Nguyện:

Hãy ở bên Đức Giê-su trong hoang địa. Tất cả những gì gây nên tội và làm bạn xa rời Thiên Chúa, bạn có muốn thực sự từ khước không?

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

SUY NIỆM MÙA CHAY: Gặp gỡ Đức Giê-su

Văn Hào, SDB

Chúng ta gặp gỡ Chúa mỗi ngày ở đâu?

Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng Chủ Nhật thứ nhất Mùa Vọng dành cho các trẻ em của một Giáo xứ đã nói: “Điều quan trọng nhất có thể xảy ra với mỗi người, là chúng ta gặp được Chúa Giêsu, Đấng yêu mến chúng ta, Đấng đã cứu chuộc chúng ta, và hiến ban sự sống của Ngài cho chúng ta”. Trong thời đại kỹ thuật số ngày càng tăng triển, chúng ta dễ quên đi sự hiện diện của Đấng Phục Sinh đang đồng hành với chúng ta trong cuộc sống đời thường mỗi ngày. Làm sao chúng ta có thể gặp được Chúa mỗi ngày, và gặp Ngài ở đâu? Gặp gỡ Chúa để được biến đổi cuộc sống làm cho chúng ta được vui tươi và hạnh phúc.

Được khởi hứng từ những giáo huấn của Đức Thánh Cha Biển Đức 16, và tiếp tục quy chiếu vào những huấn dụ của Đức Thánh Cha Phanxicô, tôi đề nghị 3 phương sách để chúng ta có thể gặp gỡ Chúa Giêsu một cách sống động. Trước hết, Chúa Giêsu đang sống trong Lời của Ngài, trong các câu chuyện Kinh Thánh được khởi hứng và trong truyền thống của Giáo Hội. Thứ đến, chúng ta gặp gỡ Đức Giêsu trong các Bí tích, nhất là khi chúng ta đều đặn tham dự bàn tiệc Thánh Thể và  đến tòa cáo giải. Và thứ ba, chúng ta gặp gỡ Chúa Giêsu khi yêu mến và phục vụ anh chị em mình, nhất là những người túng thiếu, những người bị xã hội gạt bỏ.

Đây là 3 cách thức diễn tả phương cách để gặp Chúa, đặc biệt được gợi hứng từ giáo huấn của Đức Thánh Cha Biển Đức 16. Trong thông điệp “Chúa là Tình yêu”, Ngài đã viết: “Bản chất sâu xa của Hội Thánh được diễn tả qua sứ vụ với 3 chiều kích “Công bố Lời Chúa (Kerygma- matyria), cử hành Bí tích (Leitourgia), và thực hành đức ái (Diakonia)”. Cả 3 bổn phận này hàm ngậm lẫn nhau và không thể tách rời nhau. Đây là 3 cách thức giúp chúng ta có thể gặp gỡ Chúa trong cuộc sống hôm nay. Gặp Chúa để được biến đổi là chính niềm hy vọng và niềm vui cho tất cả những ai đang khao khát kiếm tìm Ngài.

1.  Gặp Chúa qua Lời của Ngài

Trong tông huấn đầu tiên “Ánh sáng đức tin”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết “Lời đầu tiên mà Thiên Chúa nói với chúng ta nơi Đức Giêsu, không phải chỉ là một lời nói giống như các lời khác, nhưng đây chính là “Ngôi Lời” hằng sống”. Nhưng làm sao chúng ta có thể tiếp cận với Đức Giêsu, hiểu biết Ngài và mang lấy âm hưởng từ Ngài, xuyên qua việc cầu nguyện và chiêm niệm những lời thánh thiêng của Ngài: Câu chuyện Chúa gọi Phêrô, một ngư phủ, có thể soi sáng cho chúng ta. (Lc 5, 1-11). Ở đây, Simon Phêrô gặp Đức Giêsu trong Lời của Ngài và trong tiến trình biến đổi trở nên một người rao giảng Tin Mừng. Mỗi người chúng ta cũng được gọi mời như vậy trong chính trạng huống đặc thù của đời sống chúng ta.

Thánh Luca trình thuật lại việc đám đông chen lấn quanh Đức Giêsu để nghe Ngài  giảng. Chúa Giêsu đã xuống thuyền của Thánh Phêrô và nói ông chèo ra xa một chút. Sau khi giảng cho đám đông, Chúa Giêsu nói với Phêrô “Hãy chèo ra chỗ nước sâu và sẽ bắt được cá”. Phêrô trả lời: Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm, mà chẳng bắt được gì, nhưng nghe Lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Phêrô đã phải cực nhọc thâu đêm và đã không đánh bắt được con cá nào. Ông có thể đã nản lòng bỏ cuộc vì quá mệt mỏi. Ông muốn nói với Chúa là ông mệt quá rồi, chẳng ăn thua gì cả. Thôi, về nhà là tốt nhất. Có thể chúng ta đã trả lời với Chúa như thế khi Chúa đòi chúng ta phải quyết định một việc gì. Chúng ta có thể đã không nghe theo lời chỉ dạy của Chúa, mà chỉ buông xuôi theo bản năng riêng của mình. Nhưng Phêrô đã không hành xử như thế.

Phêrô quyết định vâng theo lời chỉ dạy của Chúa Giêsu. Ông đã chộp lấy cơ hội, và thả lưới vào chỗ sâu, cũng hơi liều lĩnh một chút, tạm quên đi những mệt nhọc, và gác lại những lo sợ, e rằng các bạn đồng nghiệp sẽ cười chê. Chúa Giêsu đã huấn luyện Phêrô để ông không những trở thành một Tông đồ, một người rao giảng Tin Mừng, nhưng còn uốn nắn ông trở nên thủ lãnh các Tông đồ sau này. Chúa Giêsu đã giúp Phêrô thấy được rằng việc tuân phục Lời của Chúa sẽ dẫn đến thành công đầy kinh ngạc. Các ngài đã bắt được cá nhiều đến nỗi lưới gần rách. Nhưng quan trọng hơn, chính kinh nghiệm đầy kịch tính này đã biến đổi Phêrô. Ông đã hối hận tội lỗi mình và bước theo Chúa Giêsu.

Chúng ta phải học lấy bài học này. Vì Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải liều lĩnh ngay cả khi chúng ta đã quá mỏi mệt trong cuộc sống Kitô hữu, với bao lề luật luân lý đầy thách đố mà Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài mời gọi thực hành. Chúng ta phải sống với một cảm giác trống vắng vô vị, nếu giả như Thiên Chúa không hiện hữu. Để bước theo Chúa Giêsu, điều đòi hỏi duy nhất nơi chúng ta cũng chính là điều mà Chúa Giêsu đã đòi hỏi nơi Thánh Phêrô.

Là những người thực hành sứ vụ Tân Phúc Âm hóa, chúng ta có thể tìm thấy nơi bản văn của Thánh Luca nêu trên, một năng lực biến đổi do Lời của Chúa. Chúa Giêsu vẫn luôn hiện diện trong con thuyền của đời ta, và Lời của Ngài luôn khích lệ chúng ta hãy ra xa mà thả lưới. Những con cá đang chờ đợi chúng ta đến bắt, khai mở sứ vụ Tân Phúc Âm hóa, vì chúng ta đã biết lắng nghe và hành động theo sự chỉ dẫn của Lời Ngài. Trong những trạng huống như thế, chúng ta sẽ gặp gỡ Chúa Giêsu với niềm vui tràn trề, được đổi mới, và như Phêrô, chúng ta sẽ trở nên những con người được biến đổi tận căn, dám từ bỏ mọi sự để theo Chúa.

2.  Gặp Chúa nơi các Bí tích

Chúng ta vẫn có thể gặp Chúa nơi các Bí tích của Hội Thánh, các Bí tích đức tin. Trong tông huấn “Ánh sáng đức tin”, Đức Thánh Cha Phanxicô diễn tả các Bí tích như là “phương thế chuyên biệt” giúp chúng ta vươn đạt đến sự viên mãn trong việc gặp gỡ Thiên Chúa là Đấng chân thật”. Cuộc gặp gỡ đó chạm đến căn lõi hữu hiệu nơi chúng ta, khơi dậy lòng trí, ước muốn, tình cảm, mở ra cho chúng ta mối thân tình sống hiệp thông với Ngài.

Câu chuyện Chúa chữa người bất toại (Mc 2, 1 -12) là câu chuyện tuyệt vời, cống hiến cho chúng ta biết về nền tảng của Bí tích Hòa Giải, như một cuộc gặp gỡ ngày hôm nay giữa chúng ta với Chúa Giêsu, Đấng chữa lành. Mỗi người chúng ta có thể hình dung ra tình trạng bất toại nơi chúng ta dưới nhiều dạng thức khác nhau do mầu nhiệm tội lỗi làm suy yếu chúng ta vào những thời khắc khác nhau trong cuộc sống. Mỗi người chúng ta cần được chữa lành giống như người bất toại trong câu chuyện Tin Mừng.

Thánh Marcô mô tả một khung cảnh đáng nhớ: Đó là Chúa Giêsu đang giảng thì có một sự kiện đầy kịch tính cắt ngang. Chúng ta thử tưởng tượng chúng ta đang tề tựu trong phòng khách nơi nhà của Ngài, bất ngờ một đám gạch vụn rơi lả tả xuống trên đầu chúng ta, một lỗ hổng vừa đủ một người chui qua được tháo dỡ từ mái ngói, và rất bất ngờ gây chú ý, một cái cáng cột chặt một người được từ từ thả xuống. Nhóm 4 người đã rất liều lĩnh, can đảm và kiên trì quyết định để làm sao đưa được người bất toại đến với Chúa hầu được chữa lành.

Điều gì đả xảy ra ngay sau đó chắc chắn là điều họ không nghĩ trước trong đầu. Chúa Giêsu đã không tra vấn người bất toại bất cứ điều gì về tình trạng linh hồn của anh ta, nhưng Ngài nói ngay “Này con, tội của con đã được tha rồi”. Nhóm 4 người này thân hành đem người bất toại đến với Chúa với dự định được Chúa Giêsu chữa lành bệnh tật thể lý nhưng bất thình lình họ đón nhận được sự chữa lành thiêng liêng, tha thứ mọi tội lỗi. Không phải mãi về sau trong câu chuyện, sau khi những ký lục thách thức và tra hỏi Chúa lấy quyền gì để tha tội, thì Chúa Giêsu ngay từ đầu đã quay sang nói với người bất toại “hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà”.

Chúa Giêsu trước hết tha tội cho người bất toại và sau đó mới chữa lành sự bất toại thể lý nơi anh ta. Một cách nào đó, Thánh Marcô thách đố chúng ta hãy nhìn vào tội lỗi như là một sự bất toại thiêng liêng. Tình trạng bất toại như thế, cũng giống như sự bất toại thể lý, sẽ không được chữa lành nếu không có sự trợ giúp từ người khác. Một bác sĩ tài giỏi, cũng cần có các trợ tá bên cạnh đưa bệnh nhân đến với bác sĩ để ông ta chữa trị. Trong trường hợp này, bạn bè cũng có thể giúp đưa người bất toại thiêng liêng đến gặp một vị Linh mục. Ngài có thể chẩn đoán và chữa trị bệnh tật thiêng liêng ẩn sâu nơi ta, đó là căn bệnh của tội lỗi.

Tác vụ chữa lành của Chúa Giêsu vẫn được tiếp nối ngày hôm nay. Đó là Bí tích Hòa Giải, một thứ pháo đài đã tồn tại bao đời nay chuyên để chữa lành và tha thứ. Khi chúng ta chịu khó vén bức màn để mở toang cánh cửa căn phòng hòa giải, chúng ta hãy nghĩ đến Chúa Giêsu-Đấng đã chữa lành người thanh niên bất toại ở Capharnaum. Mỗi người trong chúng ta, khi này hay khi khác, đều đang nằm trên chiếc chiếu của người bất toại cần được chữa lành. Chúng ta cần phải thay đổi cõi lòng, metanoia, thực hiện một cuộc trở về đến với Chúa.

Bí tích Hòa Giải là một cuộc gặp gỡ cá nhân giữa chúng ta với Chúa Giêsu, đó  chính là đấng đã dành cả đời mình để chữa lành và tha thứ mọi tội lỗi. Chúng ta không thể gửi tội lỗi của chúng ta đến với Chúa bằng Fax, bằng E-mail, hay bằng thư tín chuyển phát nhanh. Vả lại, hối nhân phải gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu, nơi con người của Linh mục. Sự gặp gỡ này bao gồm việc xưng thú tội lỗi, hành vi sám hối, quyết chí sửa mình, và thực hành việc đền tội đã được chỉ dẫn. Có cuộc gặp gỡ nào mang tính thân tình với Chúa Giêsu, Đấng chịu đóng đinh, Đấng tha thứ và chữa lành, hơn là cuộc gặp gỡ này nơi tòa cáo giải?

Sự tha thứ là một ưu tiên và là một đặc ân mang tính linh thánh. Nó giải thoát chúng ta, hàm chứa đầy ắp tình yêu, một tình yêu dẫn đến một khởi đầu mới. Cũng giống như người bất toại được chữa lành, mỗi người chúng ta cũng được Thiên Chúa chữa trị và tha thứ, khi Đức Giêsu tiếp tục sứ vụ chữa lành của Ngài trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, và mỗi lần chúng ta kiếm tìm sự tha thứ  khi đến với Bí tích Hòa Giải.

3.  Gặp Chúa nơi các việc thực hành bác ái

Cuối cùng, chúng ta gặp gỡ Chúa qua các công việc chia sẻ bác ái. Trong tông huấn “Ánh sáng đức tin”, Đức Thánh Cha Phanxicô viết “Bàn tay đức tin chúng ta hướng lên trời, như thể chúng ta đang xây dựng một lâu đài đức ái dựa trên những tương quan thân hữu, trong đó tình yêu Thiên Chúa trở nên nền móng của tòa lâu đài này”. Trong khi thực thi các việc bác ái, dựa trên tình yêu Thiên Chúa, chúng ta sẽ gặp được Chúa. Đức Thánh Cha cũng nói rằng “Trong Đức Kitô, cuộc sống chúng ta được rộng mở tận căn hướng đến một tình yêu dẫn trước chúng ta, một tình yêu giúp biến đổi chúng ta, từ sâu tận bên trong, hoạt động nơi ta và ngang qua chính chúng ta. Khi chúng ta sao chép tình yêu Đức Kitô, chúng ta gặp gỡ chính Ngài trong nội tâm chúng ta, cũng như gặp được Ngài nơi những người chúng ta giúp đỡ”. Nguồn năng động lực đặc biệt được khai sáng qua dụ ngôn người Samari nhận hậu. (Lc 10, 25-37).

Chúng ta đã quá quen thuộc với câu chuyện này. Một người đi từ Giêrusalem đến Jerikô, sa vào tay bọn cướp. Anh ta bị tước hết đồ đạc và bị đánh nhừ tử, nằm vật vã bên đường. Một Tư tế và một Thầy Lêvi đi ngang qua, có lẽ họ vô cảm hơn là sợ hãi. Nếu họ sờ chạm đến xác chết, theo luật, họ phải tham dự một nghi thức thanh tẩy, trước khi thi hành phần vụ trong đền thờ. Tuy nhiên, người Samaritanô đã động lòng trắc ẩn. Anh ta đã hết lòng trợ giúp nạn nhân. Rồi Chúa Giêsu hỏi: “Theo thiển ý của anh, trong những người này, ai là cận nhân đối với người bị nạn?” Vị thông luật trả lời “người đã tỏ bày lòng thương xót”. Và Chúa Giêsu nói tiếp “anh hãy đi và làm như vậy”.

Có hai loại “người thân cận” được nói tới trong đoạn văn trên: người hành xử với lòng thương xót và người cần đến sự đồng cảm của lòng xót thương. Trong một ý nghĩa sâu xa nhất, một cách rất rõ ràng, chúng ta hiểu rằng người thân cận đó chính là Chúa Giêsu nơi cả hai nhân vật. Trong dụ ngôn, người Samaritanô ít được xem như người thân cận của nạn nhân, nhưng anh ta đã hành xử như một người thân cận thực sự. Giống như người Samaritanô, chúng ta cũng được mời gọi khi chúng ta là môn đệ Đức Giêsu để trở nên người thân cận của anh em mình, biết vun trồng nơi mình một cảm thức nhanh nhạy của cõi lòng đến với tha nhân, và mang chở chứng tá được thực hiện qua những công việc hằng ngày.

Đức Giêsu cũng là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”, Ngài đang gào thét nơi con người nạn nhân bị trấn lột và nằm vất vưởng trên đường. Chúa Giêsu cũng đang hiện diện nơi một thành viên nào đó trong gia đình chúng ta đang gặp trắc trở, nơi một ai đó ở nhà hàng xóm bên cạnh đang sống trong cô đơn chán nản. Nơi những con người đó, chúng ta thấy được khuôn mặt của Chúa Kitô và gặp được Ngài. Trong ngày phán xét chung thẩm mà Tin Mừng Thánh Matthêu đã trình thuật, Chúa Giêsu đã nói “Tôi nói cho các ngươi, những gì các ngươi làm cho một trong những người bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Chúa Giêsu đồng hóa chính mình với những ai đói, khát, những ai là khách lạ, những người phiêu bạt, ở tù, ốm đau, không nhà cửa – tất cả những người này, nói theo thuật ngữ của Đức Thánh Cha Phanxicô: “là những người bị gạt ra bên lề xã hội.”

Con đường từ Jerikô đến Giêrusalem biểu trưng cho một thế giới đầy ắp những cận nhân, một thế giới đầy những con người cần giúp đỡ, những con người mà một khi chúng ta biết khám phá ra, họ mang lấy dung mạo của chính Đức Kitô. Đó là tính nhân bản hiện sinh khi chúng ta được mời gọi để gặp gỡ Đức Giêsu và để được Ngài biến đổi. Khi chúng ta chủ động và cụ thể cố gắng để “đi và làm giống như vậy” chúng ta cũng sẽ không ngờ gặp được một cận nhân, và cũng là một người bạn tốt có tên là Giêsu. Ngài vừa sống trong ta, và nơi cả những con người đón nhận chia sẻ tình yêu và bác ái của chúng ta. Tất cả những cuộc gặp gỡ này với Chúa Giêsu: nơi Lời của Ngài, nơi các Bí Tích và nơi các việc bác ái, sẽ giúp biến cải chúng ta và mang lại giá trị trường tồn.

(Bài suy niệm của Đức Ông J. Vaghi- tiến sĩ Y khoa, Cha sở nhà thờ Little Flower ở Bethesda, và là tuyên úy tu đoàn Thánh Gioan Carroll ở Washington D.C. Bài này được viết trong tác phẩm “gặp gỡ Chúa trong Lời của Ngài, trong các Bí tích và trong những việc thực hành bác ái)

 

Văn Hào, SDB chuyển ngữ

Chúa Nhật 8 TN năm A: Sao lại phải lo lắng?

Văn Chính, SDB

Trong bài giảng với chủ đề “Lo Lắng”, Ralph Phelps kể câu chuyện về một chiếc đồng hồ:

Có một chiếc đồng hồ mới được đặt trên một kệ sách thật đẹp, cứ mỗi giây nó gõ 2 tiếng: tích, tắc. Cứ thế, nó hoạt động thật tốt: đều đặn và chính xác. Thế rồi một ngày kia, nó bắt đầu tính toán: cứ mỗi giây, nó phải gõ 2 tiếng. Vậy một phút, nó gõ 120 tiếng và một giờ là 7.200 tiếng. Nó tiếp tục tính: một ngày là 172.800 tiếng, một tuần là 1.209.600 tiếng, và cứ thế trong 52 tuần lễ của một năm, nó phải gõ đến 62.899.200 tiếng. Thật là kinh khủng quá sức. Nó đâm ra lo lắng và lo sợ đến nỗi bị “sốc” và ngừng hoạt động.

Người ta mang nó đến cho một nhà tâm lý trị liệu. Nhà tâm lý hỏi: “Này đồng hồ, ngươi bị sao vậy?” Chiếc đồng hồ mở miệng than vãn:”Ông xem, tôi phải làm việc quá nhiều. Cứ mỗi giây phải gõ 2 tiếng, mỗi phút 120 tiếng, và mỗi giờ phải gõ đến 7.200 tiếng, và...” Nhà tâm lý ngắt lời: “Thôi, thôi... ta hỏi ngươi: tại một thời điểm, ngươi phải gõ mấy tiếng?”. Chiếc đồng hồ trả lời gọn lỏn: “Chỉ một tiếng thôi”. Nhà tâm lý nói với nó: “Ta đề nghị ngươi điều thôi: Hãy về nhà, và chỉ gõ 1 tiếng trong một thời điểm thôi, được chứ? Đừng nghĩ mình phải gõ tiếng thứ hai trong thời điểm sắp tới. Chỉ gõ một tiếng tại một thời điểm thôi. Ngươi làm được chứ?”. Chiếc đồng hồ trả lời một cách khẳng quyết: “Tất nhiên là được, nếu chỉ gõ 1 tiếng tại một thời điểm”. Câu chuyện kết thúc: thế là chiếc đồng hồ lại hoạt động bình thường, vì tại một thời điểm, nó chỉ gõ 1 tiếng thôi.

Cũng như thế, bài Tin mừng ngày hôm nay cũng dạy chúng ta 3 điều: (1) Sao người ta lại phải lo lắng, (2) lo lắng chỉ vô ích, (3) làm thế nào để khắc phục được sự lo lắng.

Tại sao người ta lại lo lắng: Chúng ta thường lo lắng khi trong tâm trí, chúng ta cố vơ vào cho mình quá nhiều điều hơn những gì chúng ta có thể thực hiện. Chiếc đồng hồ quá lo lắng về số lượng tiếng gõ mà nó phải thực hiện trong một năm, một số lượng quá lớn trong khi tại một thời điểm, nó chỉ gõ đúng 1 tiếng thôi. Cũng tương tự thế, Đức Giê-su dạy chúng ta đừng lo lắng về quá nhiều chuyện: nào là “phải ăn gì, uống gì, mặc gì” (Mt 6,31) Chúng ta đã vơ vào tâm trí mình quá nhiều chuyện khi chúng ta nghĩ về tương lai, về những ngày đời sẽ đến trong cuộc sống mong manh của kiếp người.

Lo lắng chỉ vô ích: Câu chuyện chiếc đồng hồ và câu chuyện Tin mừng ngày hôm nay cho chúng ta thấy: lo lắng chẳng giải quyết được chuyện gì. Đúng hơn, nó còn phản tác dụng nữa. Trong Tin mừng, Đức Giê-su hỏi các môn đệ: “Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?” (Mt 6,27). Tất nhiên câu trả lời là: Không có ai. Vậy thì phải kết luận rằng: lo lắng chỉ làm cho người ta bị “sốc”, “xuống tinh thần”, như kinh nghiệm của chiếc đồng hồ. Tất nhiên, lo lắng còn có thể rút ngắn cuộc sống của con người là đằng khác.

Làm thế nào khắc phục được Lo lắng? Đây hẳn là câu hỏi thật quan trọng đối với chúng ta. Câu trả lời vẫn là: phải khắc phục sự lo lắng bằng cách sống giây phút hiện tại, tập trung vào những gì chúng ta cần làm ngày hôm nay, dẫu biết rằng chúng ta vẫn có thể phác họa ra cách để vượt qua những khó khăn ngày mai khi chúng ta phải đối diện với chúng. Chiếc đồng hồ đã phục hồi lại khả năng làm việc khi nó biết tập trung vào những gì cần phải làm tại một thời điểm. Cũng thế, Đức Giê-su dạy chúng ta phải chú tâm vào hiện tại, chứ không phải tương lai: “Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34).

Phải chăng Đức Giê-su dạy chúng ta đảm nhận một lối sống không có kế hoạch, không có dự tính cho những ngày khó khăn trong tương lai? Không phải thế. Đúng hơn, Ngài dạy chúng ta về một chân lý căn bản của đức tin: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề làm vất vả cũng là uổng công. Thành kia mà Chúa không phòng giữ, uổng công người trấn thủ canh đêm” (Tv 127,1). Vì thế, mọi kế hoạch cho cuộc sống, mọi sự an toàn và phúc lợi trong tương lai đều phải khởi đi từ sự vâng phục Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa chăm sóc và lo lắng cho những loài sinh vật nhỏ bé như cỏ cây, hoa lá ngoài đồng, chim trời, cá biển... sao Người lại chẳng chăm lo cho những tạo vật được Người tạo dựng nên theo hình ảnh của Người?

Chính vì thế, Đức Giê-su dạy chúng ta phải chú tâm tới một điều: “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Đấng ban cho chúng ta sự sống hẳn cũng biết rằng sự sống đó cần được nuôi dưỡng và nâng đỡ ra sao. Thiên Chúa ban cho chúng ta một thân xác, thì hẳn Người cũng biết thânx ác đó cần tới cơm ăn và áo mặc. Điều quan trọng nhất và tốt nhất là chúng ta hãy giữ mối kết hiệp mật thiết với Đấng trao ban sự sống. Chỉ trong sự tín thác này, chúng ta mới chiến thắng được những lo âu, lo lắng đang đè nặng trong tâm trí và cuộc sống của chúng ta.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

 

 

 

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %