• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


Lễ Mẹ Vô Nhiễm: NÀY TÔI LÀ NỮ TÌ CHÚA

Văn Hào, SDB

Ngày 08 tháng 12 năm 1854 Đức Thánh Cha Piô IX đã long trọng công bố tín điều Đức Maria vô nhiễm nguyên tội qua thông điệp “ Ineffabilis Deus”. Bốn năm sau, khi hiện ra với thánh nữ Bernadetta tại hang đá Lộ đức, chính Đức Mẹ đã tái khẳng định: “ Ta là Đấng Vô nhiễm nguyên  tội”. Vào ngày này năm ngoái, Giáo hội cũng khai mở năm thánh tôn vinh Lòng Thương Xót Chúa. Không phải tình cờ mà Giáo hội cử hành phụng vụ tôn kính Mẹ Vô nhiễm thai trong mùa vọng. Và cũng không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà Đức Thánh Cha Phanxicô chọn ngày lễ hôm nay để mở cửa năm thánh tôn vinh Lòng Thương Xót Chúa. Mẹ Maria Vô nhiễm chính là Evà mới đã chiến thắng con rắn xưa, mở ra cho chúng ta kỷ nguyên cứu độ, để cùng với Giáo hội chúng ta sống tâm tình mùa vọng mong chờ Đấng Cứu thế, Đấng sẽ đến trong ngày cánh chung để hoàn tất ơn cứu độ theo hoạch định của Chúa Cha. Đồng thời Mẹ cũng được gìn giữ khỏi vết nhơ nguyên tội để cưu mang Đức Giêsu, Đấng đã đến trần gian nhằm diễn bày lòng thương xót Chúa cho nhân loại tội lỗi. Mẹ Đấng Cứu thế cũng chính là Mẹ của Lòng Thương Xót (Mater Misericordiae).

Sống trong Thần khí

Thiết nghĩ, chúng ta không cần trưng ra những lý chứng thần học dẫn đến việc Giáo hội công bố tín điều Mẹ Vô nhiễm thai mà chúng ta mừng kính hôm nay. Giáo hội chọn các bài đọc trong phụng vụ của ngày lễ để mời gọi chúng ta chiêm ngắm dung mạo Đức Maria như một nữ tỳ khiêm hạ, sống dưới tác động Thần khí và luôn để Thiên Chúa hướng dẫn đời mình. Mẹ là khuôn mẫu tuyệt hảo giúp chúng ta đi sâu vào tâm thức mùa vọng chờ mong Chúa đến. Bài Tin mừng hôm nay thuật lại biến cố truyền tin, một sự kiện quan trọng mở ra cho nhân loại một trang sử mới, đó là kỷ nguyên ơn cứu độ. Đức Maria chỉ là một cô thôn nữ quê mùa chất phác, không học thức, không quyền quý cao sang. Vì vậy Mẹ hoàn toàn ngỡ ngàng trước lời cầu ngỏ của thần sứ Gabriel: “ Việc ấy xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34). Có vẻ như Đức Maria bối rối và thoáng chút sợ hãi. Nhưng thần sứ nói với Mẹ: “ Hỡi Maria đừng sợ, vì cô đẹp lòng Thiên Chúa” (Lc 1,30). Trong Tin mừng khá nhiều lần Chúa Giêsu cũng nói với các học trò để trấn an các ông: “Đừng sợ, vì Ta đã thắng thế gian” (Ga 16,33); “Đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn anh em” (Mt 10, 28); “Hãy trỗi dậy, đừng sợ” (Mt 17, 8)… Đây không phải là những liệu pháp mang tính tâm lý, nhưng đó là lời Chúa Giêsu mời gọi các học trò đi sâu vào cảm thức đức tin, tín thác vào Thiên Chúa và quyền năng của Ngài. “Thầy đây, có phải ma đâu, đừng sợ” (Mt 14, 27). Chỉ những tâm hồn thực sự sống trong ân sủng và tin tưởng nơi Chúa mới có được bình an và thoát khỏi sợ hãi. Ngược lại, nếu chúng ta bị cuốn hút bởi những bóng ma của tiền bạc, của lạc thú hay danh vọng phù vân, chúng ta sẽ luôn ngập chìm trong khiếp sợ. Trong thư gửi tín hữu Rôma, Thánh Phaolô đã viết: “Hướng đi của Thần khí là sự sống và bình an”(Rm 8,6). Đức Maria đã được Thánh thần phủ ngập và Mẹ hoàn toàn để Thiên Chúa hướng dẫn đời mình. “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên cô và quyền năng Đấng Tối cao sẽ phủ bóng trên cô” (Lc 1,35). Vì thế, khi mở lòng ra đón nhận Thần khí và ngoan thuần để Thánh Thần hướng dẫn, Mẹ đã hoàn toàn quy thuận thánh ý Thiên Chúa và luôn sống trong bình an: “ Xin hãy thực hiện nơi tôi những gì Chúa muốn” (Lc 1,38).

Đây chính là khuôn mẫu đức tin tuyệt hảo để chúng ta sống tinh thần mùa vọng mà Giáo hội mời gọi. Sách Tông đồ công vụ cũng thuật lại bầu khí cầu nguyện của Đức Maria cùng các tông đồ sau khi Chúa về trời. Kết quả, Thánh Thần đã xuống trên các Ngài, để từ đó, các tông đồ ra đi mọi nơi quảng bá Tin mừng Phục sinh, và Giáo hội bắt đầu triển nở từ đây.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2, khi bắt đầu triều đại Giáo hoàng của Ngài, cũng gửi đi bức thông điệp đầu tay với tựa đề “Đừng sợ”. Ngài cũng muốn lập lại tâm tình tín thác của Đức Maria, luôn để Thánh Thần hướng dẫn, và Ngài không bao giờ sợ hãi giữa bao sóng gió dồn dập xảy đến. Ngài cũng mời gọi chúng ta khi đang sống trong mùa vọng lớn, chúng ta cũng hãy sống khiêm tốn như Đức Maria để chờ mong Chúa đến với tâm hồn ngập tràn niềm vui và an bình (xem Tông huấn Tertio Milennio Adveniente).

Đức Maria, Evà mới

Trong thư Rôma, thánh Phaolô đã nhắc đến tội nguyên tổ: “ Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập thế gian, và tội lỗi gây nên sự chết” (Rm 5, 12). Tội đầu tiên do Ađam gây ra, với sự đồng thuận của Evà. Nhưng khi Đức Giêsu đến trần gian, Ngài đã đóng vai trò của Ađam mới để khai mào kỷ nguyên ơn cứu độ với sự đồng thuận của Evà mới là chính Đức Maria. Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách khởi nguyên thuật lại cho chúng ta câu chuyện về tội nguyên tổ mà Giáo hội trong đêm Thứ Bảy tuần thánh vẫn gọi là “tội hồng phúc” (bài Exultet). Tại sao ? Những trang đầu tiên của bộ Kinh thánh đã công bố cho chúng ta một tin mừng : ‘Dòng dõi người nữ sẽ đạp dập đầu con rắn’. Những trang cuối cùng trong bộ Sách thánh cũng nhắc lại cho chúng ta Tin mừng này: ‘Người nữ khải huyền sẽ chiến thắng con rồng lửa và ném nó xuống biển sâu’. Hình ảnh sự chiến thắng của ‘Người Phụ Nữ’ là biểu tượng nói về cuộc vinh thắng cuối cùng của Con chiên Khải hoàn. Trong đó, vai trò của Đức Maria rất cần thiết và quan trọng, giống như vai trò của Đấng Đồng Công Cứu chuộc. Mẹ đã tự nguyện quy thuận thánh ý Chúa với lời thưa xin vâng để kế hoạch cứu thế được thực hiện, và cuộc chiến thắng con rồng lửa khởi đầu từ đây. Vì thế, trình thuật truyền tin Giáo hội đọc lại trong phụng vụ hôm nay mang chở ý nghĩa sâu xa của tin mừng này. Hình ảnh người nữ trong sách Khải Huyền ám thị Giáo hội là hiền thê của Đức Giêsu, nhưng cũng không sai khi chúng ta áp dụng vào vai trò của Đức Maria. Ơn cứu độ mà Đức Giêsu khai mở chính là cách diễn bày lòng thương xót của Thiên Chúa đối với nhân loại. Đoạn thánh thi thánh Phaolô viết trong thư gửi giáo đoàn Ephêsô mà Giáo hội đọc lên hôm nay diễn tả mầu nhiệm cao cả này : “ Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Ngài ta trở nên tinh tuyền thánh thiện nhờ tình thương của Ngài”. Vì thế đặc ân Vô nhiễm nguyên tội gắn liền với chức phận làm Mẹ Đấng Cứu chuộc, và Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã không ngần ngại gọi Mẹ là ‘Mater Misericordiae’, Mẹ của Lòng Thương xót. Có lẽ đây cũng chính là lý do mà Đức Thánh Cha Phanxicô chọn ngày lễ Mẹ Vô nhiễm để mở cửa năm thánh tôn vinh Lòng Thương Xót Chúa.

Kết luận

Vào năm 1989, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 tiếp ông Gorbachop và bà Raissa, phu nhân của ông ta, tại điện Vatican. Lúc bấy giờ Gorbachop là Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên xô, lãnh tụ của một cường quốc vào thời điểm ấy. Sau buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha trao tặng ông Tổng bí thư một cuốn Kinh thánh với hàng chữ bên ngoài “ Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Chúng ta biết dụng ý của Đức Thánh Cha muốn ám thị điều gì. Quay sang bà Raissa, vị Thánh Giáo hoàng tặng bà một cỗ tràng hạt với hàng chữ đi kèm “ Nữ Vương ban sự bình an”. Đức Thánh Cha muốn nói cho cả thế giới biết rằng, hòa bình thật sự nhân loại có thể kiến tạo được không phải do tiền bạc, do vũ khí hay sức mạnh quân sự. Nhưng  chúng ta phải học hỏi nơi Đức Maria và sống khiêm tốn như Ngài để có được hòa bình trên thế giới cũng như sự bình an nơi tâm hồn mỗi người. Thánh Phaolô rất có lý khi diễn tả :“Hướng đi của Thần Khí  là sự sống và bình an” (Rm 8,6). Mẹ đã hoàn toàn để Thần Khí hướng dẫn, vượt qua mọi sợ hãi, luôn sống ‘đẹp lòng Thiên Chúa’ và ngập tràn bình an trong tâm hồn. Đó là khuôn mẫu nội tâm cho tất cả mọi người chúng ta noi theo.

 

Lạy Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội là Mẹ Đấng Cứu thế, cũng là Mẹ của Lòng Thương xót, xin cầu cho chúng con.

Văn Hào, SDB

 

Lễ các Thánh nam nữ

Văn Hào, SDB

Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện

Nếu có dịp viếng thăm đền thờ Thánh Phê-rô ở Vatican, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng một cảnh quan rất ngoạn mục với nhiều tượng ảnh các thánh do các nghệ nhân nổi tiếng điêu khắc. Đặc biệt ở các ô cửa kính phía trên cao, có rất nhiều hình các thánh được lắp ghép bằng những mảnh kính mầu trông rất ấn tượng. Khi mặt trời lên cao và được ánh sáng chiếu qua, chân dung các thánh được hiện lộ và tỏa sáng. Có một đứa bé khi được cha xứ hỏi trong giờ giáo lý: “Các thánh là ai ?”, em đã đơn sơ trả lời: “Thưa Cha, các thánh là những vị được ánh sáng mặt trời chiếu qua”. Câu trả lời của đứa bé gợi nhắc chúng ta về ý nghĩa của ngày lễ hôm nay khi Giáo hội mừng kính các thánh nam nữ. Đúng như em bé nói, các thánh chính là những con người được ánh sáng Đức Ki-tô soi dọi và chiếu sáng. Ngài chính là mặt trời công chính, chiếu dọi ánh quang vào tâm hồn mọi người. Các vị thánh là những con người vốn mỏng dòn yếu đuối, nhưng đã đạt đến sự hoàn thiện, vì các Ngài đã để ánh sáng Đức Ki-tô thẩm thấu và ngấm sâu vào trong cuộc đời mình.

Có bao nhiêu vị thánh trên trời?

Không khó để trả lời câu hỏi này. Trong cái nhìn thần học của Thánh Gio-an, con số đó nhiều vô kể. Sách Khải Huyền đã ghi lại thị kiến: “Tôi thấy một đoàn người đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ (Kh 7,9). Con số 144 ngàn (Kh 7,4), bội số của 12 chi tộc Israel nhân lên 12 và nhân lên gấp ngàn lần nữa, chỉ mang tính biểu tượng, ám thị một con số khổng lồ. Bởi lẽ ơn cứu độ của Đức Giê-su bao trùm toàn thể vũ trụ, và phủ bóng trên tất cả mọi người không loại trừ ai. Không chỉ những ai được Giáo hội tuyên phong mới là thánh, nhưng tất cả những người được ân sủng Đức Kitô biến đổi nên công chính, đều là những vị thánh. Trong thư gởi các giáo đoàn, như thư Rô-ma, 2 lá thư Cô-rin-tô, thư Ê-phê-sô, thư Cô-lô-sê.., Thánh Phao-lô vẫn thường gọi các tín hữu là những vị thánh. Hằng tuần chúng ta tuyên tín khi đọc kinh tin kính: ‘Tôi tin Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền’. Giáo hội tự bản chất là thánh thiện, vì thế những ai sống hiệp thông trong Hội thánh đều được thông phần vào sự thánh thiện của Giáo hội phát nguồn từ chính Ki-tô, đấng Thánh của Thiên Chúa. Bởi vì, Giáo hội chính là thân thể mầu nhiệm của Ngài.

Ơn gọi nên thánh

Chúa Giê-su mời gọi chúng ta: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Việc nên thánh không phải là một ơn gọi biệt loại chỉ dành riêng cho một số người, nhưng đó là ơn gọi phổ quát mà Chúa Giê-su ngỏ trao cho tất cả chúng ta. Giáo hội đã tuyên thánh (canonize) rất nhiều vị thuộc đủ thành phần, từ các Giáo Hoàng, các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ và cả Giáo dân. Ngày 18 tháng Mười năm 2015, giữa lúc Thượng hội đồng Giám mục thế giới đang nhóm họp bàn về gia đình, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô với quyền bất khả ngộ đã long trọng công bố ông bà Martin Guérin, song thân của Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux được ghi tên vào sổ bộ các thánh. Cả hai vị cũng là giáo dân giống như nhiều người trong chúng ta, với biết bao lo toan trong cuộc sống đời thường giữa một gia đình khá đông con cái. Bí quyết nên thánh của các Ngài rất giản đơn, đó là hoàn thiện ơn gọi tình yêu trong những bổn phận hằng ngày với niềm đam mê cháy bỏng dành cho Thiên Chúa. Cho dù trong cuộc sống, các Ngài có những khiếm khuyết, nhưng tình yêu Thiên Chúa đã lấp đầy những lỗ hổng của thiếu sót, và biến trở cuộc đời các Ngài nên hoàn thiện.

Trong các dịp lễ Giáng sinh, Thánh Gioan Bosco có thói quen cho các em học sinh mỗi người một món quà, tùy sở thích mỗi người. Đa-minh Sa-vi-ô đã viết trên một mảnh giấy nhỏ ước muốn đơn sơ của mình và trao cho Don Bosco: ‘Con xin Cha hãy giúp con nên thánh’. Ước muốn này đã được thực hiện và Don Bosco không những là một vị thánh, Ngài còn là một nhà giáo dục, là thầy dạy đường nên thánh cho các con cái Ngài. Không ai trong chúng ta lên thiên đàng một mình cũng như không ai xuống hỏa ngục một mình. Chúng ta nên thánh cũng bằng cách giúp người khác vươn đạt đến sự thánh thiện.

Đức Giê-su, mẫu gương trọn hảo về sự thánh thiện

Trong bài đọc 2 của phụng vụ hôm nay, Thánh Gioan tông đồ mời gọi chúng ta quy chiếu về Đức Giê-su, Đấng Thánh của Thiên Chúa. “Khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người” (1Ga 3,2). “Ai đặt hy vọng vào Đức Ki-tô, thì làm cho mình nên thanh sạch” (1Ga 3,3). Đức Kitô Đấng thanh sạch, là Con Chiên tinh tuyền, chính là chuẩn mẫu về sự thánh thiện để chúng ta noi theo. Ngài đã sống tận căn mầu nhiệm yêu thương để quảng diễn sự thánh thiện nơi Ngài. Vì thế Đức Giê-su mời gọi các môn sinh phải sao chép lại tình yêu mà Ngài đã diễn bày. “Anh em hãy yêu thương nhau như thầy yêu thương anh em” (Ga 15,12). Thập giá và cái chết của Đức Giê-su là nguyên mẫu về sự thánh thiện mà chúng ta luôn phải học hỏi, phải đào sâu, phải khám phá không ngừng nhằm tìm ra con đường thánh thiện để dấn bước. Vì thế trong bài Tin mừng hôm nay, Giáo hội đọc lại cho chúng ta bản Hiến chương Nước Trời: đó là tám mối phúc Đức Giê-su đã công bố trong bài giảng trên núi. Đây chính là nẻo đường dẫn chúng ta đi dần vào mầu nhiệm Thập giá. Sống tinh thần khó nghèo, sống hiền lành khiêm tốn, sống nhẫn nhục trong lao nhọc, sống quảng đại với tấm lòng xót thương, sống như là những sứ giả hòa bình… Tất cả đều là những sắc nét của mầu nhiệm Thập giá, con đường dẫn đưa chúng ta đến sự trọn lành.

Tuy nhiên, chúng ta thường hay nghĩ rằng tôi chỉ là một con người tầm thường với biết bao tội lỗi và yếu đuối, làm sao tôi có thể nên thánh được. Chúng ta đừng quên rằng, vị thánh đầu tiên được Chúa Giê-su ‘tấn phong’ và mở cửa Thiên Đàng đón đưa vào, không ai khác chính là một tên trộm khét tiếng. Một nhà tu đức đã dí dỏm nói rằng: Đây là một tay trộm cắp chuyên nghiệp vì cánh cửa nào anh ta cũng có thể mở ra được. Anh ta dùng một chiếc chìa khóa vạn năng để mở các loại cửa, kể cả cửa Thiên Đàng. Chiếc chìa khóa vạn năng đó chính là tín thác vào lòng thương xót của Chúa. Mức độ trộm cắp chuyên nghiệp của anh ta đạt đến đỉnh điểm, vì trước khi chết anh ta còn ăn trộm được cả nước Thiên Đàng. Trong bộ sách Confessio, Thánh Augustino cũng viết một câu chuyện tưởng tượng. Ngài gặp tên trộm và hỏi anh ta: “Thưa anh, anh không phải là người Công giáo, anh chưa từng bước chân vào nhà thờ, anh cũng chưa hề học giáo lý và cũng chưa biết Đức Giêsu là ai, vậy tại sao anh lại đựơc Đức Giê-su mở cửa Thiên Đàng cho vào?”. Người trộm trả lời: “Ông nói đúng, tôi chỉ là một tên cướp với cuộc sống đặc kín tội ác. Tôi chưa từng học giáo lý, chưa được rửa tội, cũng chưa biết Đức Giêsu là ai. Nhưng trên thập giá, tôi đã nhìn vào Ngài. Cặp mắt Đức Giêsu đã hắt dọi vào tâm hồn tôi một luồng sáng kỳ diệu, đó là ánh sáng của lòng thương xót. Tâm hồn tôi đã bị khuất phục hoàn toàn trước ánh mắt đầy trìu mến và thân thương ấy. Cuối cùng, tôi đã tin. Tôi đã vào Thiên Đàng không phải do công cán của tôi, nhưng tất cả là hồng ân của lòng thương xót Chúa.

Kết luận

Ngày 05 tháng Chín năm 1997, ông Kofi Anan lúc bấy giờ là Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã viết một bản cáo phó gửi đi khắp thế giới với nội dung: “Một người giàu quyền lực nhất vừa mới vĩnh viễn rời bỏ chúng ta”. Nhưng người giầu quyền lực đó là ai? Thưa, đó chỉ là một phụ nữ già nua ốm yếu, 87 tuổi, trong tay không có lấy một tấc sắt làm vũ khí để bảo vệ mình. Người giàu quyền lực đó gia sản không có một xu dính túi, đã từng phải ngửa tay xin từng cái giường cũ của những người nhà giàu đem phân chia cho người nghèo. Người giàu quyền lực đó đã can đảm vượt qua mọi rào cản của các luồng ý thức hệ để đến tận Liên Xô, Cuba, Trung Quốc hầu giang rộng vòng tay ôm đón những con người khốn khổ nhất bị vất ra bên lề xã hội. Người giầu quyền lực đó chính là Mẹ Têrêsa Calcutta.

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã tuyên phong chân phước cho Mẹ, chỉ 6 năm sau khi Mẹ qua đời, và vào ngày mùng 4 tháng Chín năm 2016, Mẹ đã được tôn phong Hiển Thánh. Đó là một vị thánh của đời thường, sống rất dung dị, một con người rất con người nhưng cũng là một vị thánh rất là thánh. Mẹ đã nghe được tiếng Chúa Giêsu thét gào trên Thập giá: “Ta khát”. Lời gào thét đó vẫn đang vang vọng nơi khuôn mặt những con người khốn khổ của xã hội ngày hôm nay. Mẹ đã nên thánh bằng việc cảm nghiệm sâu xa tình yêu Chúa và đã trải rộng tình yêu đó đến những người cùng khổ một cách cụ thể. Đó là một dung mạo rất gần gũi và thân quen trong muôn vàn vị thánh, để chúng ta suy nghiệm và chiêm ngắm trong ngày lễ mừng kính các thánh hôm nay.

Văn Hào, SDB

Thứ Sáu Tuần IV Mùa Chay

Hữu Phúc, SDB

Ga 7,1-2.10.25-30

Khi ấy, Chúa Giêsu đi lại trong xứ Galilêa; Người không muốn đi lại trong xứ Giuđêa, vì người Do-thái đang tìm giết Người. Lúc đó gần đến lễ Trại của người Do-thái. Nhưng khi anh em của Người lên dự lễ rồi, thì Người cũng đi, nhưng không đi cách công khai, mà lại đi cách kín đáo. Có một số người ở Giêrusalem nói: "Ðây không phải là người họ đang tìm giết sao? Kìa ông ta đang nói công khai mà không ai nói gì cả. Phải chăng các nhà chức trách đã nhận ra ông ta là Ðấng Kitô? Tuy nhiên, ông này thì chúng ta biết rõ đã xuất thân từ đâu. Còn khi Ðấng Kitô tới, thì chẳng có ai biết Người bởi đâu". Vậy lúc bấy giờ Chúa Giêsu đang giảng dạy trong đền thờ, Người lớn tiếng nói rằng: "Phải, các ngươi biết Ta, và biết Ta xuất thân từ đâu; Ta không tự Ta mà đến, nhưng thực ra, có Ðấng đã sai Ta mà các ngươi không biết Ngài. Riêng Ta, Ta biết Ngài, vì Ta bởi Ngài, và chính Ngài đã sai Ta". Bởi thế họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng không ai đụng tới Người, vì chưa tới giờ Người.

Người Do Thái chỉ biết Đức Giêsu xuất thân từ Nazarét và là con của bà Maria và ông Giuse. Nên họ không tin nhận Ngài là Đấng Kitô, con Thiên Chúa. Để mở mắt cho họ và để cho họ nhận biết Ngài là Đấng Kitô, con Thiên Chúa thì chính Ngài đã phải tự mặc khải chính mình: "Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng Chân Thật" và "phần Tôi, Tôi biết Người, bởi vì tôi từ Người mà đến và chính Người đã sai Tôi".

Ngày nay chúng ta có giống như những người Do Thái kia hay không? Chúng ta cũng chỉ nhìn và đánh giá những hành động bên ngoài của những anh chị em mà Chúa gửi đến cho chúng ta hay chúng ta nhìn hành động của họ theo cái nhìn của chính Đức Giêsu. Mùa chay, mùa hoán cải mời gọi cái nhìn của chúng ta. Trước tiên, tin nhận chính Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nghĩa là đón nhận Ngài, đi vào cái nhìn của Ngài, là đánh giá mọi sự bằng chính cái nhìn của Ngài. Rồi sau đó là quay trở lại với anh chị em để cái nhìn của chúng ta không chỉ theo tiêu chuẩn thông thường của người đời, nhưng mặc lấy ánh mắt tôn trọng, cảm thông, bao dung và tha thứ của Chúa.

Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhận biết Ngài và tin nhận Ngài là chính Đấng Kitô con Thiên Chúa hằng sống và Ngài chính là cùng đích của đời con.

Lạy Chúa, xin mở rộng tâm hồn và đôi mắt con, để con biết tôn trọng, cảm thông và bao dung nơi tất cả anh chị em con.

 

Jos. Hữu Phúc SDB

TÊ-RÊ-SA - MẪU GƯƠNG THÁNH THIỆN CỦA CÁC BẠN TRẺ

Văn Hào, SDB

Mỗi vị thánh được Giáo Hội tôn vinh luôn luôn là một gương sáng cho chúng ta về đời sống trọn lành. Việc các ngài đạt tới sự thành toàn trong ơn gọi Kitô hữu nói lên rằng, nếu con người biết khiêm tốn cộng tác với ân sủng, họ sẽ được chia sẻ vinh quang với Thiên Chúa và còn hơn thế nữa, họ được trở nên Thiên Chúa (tư tưởng của thánh Tô-ma A-qui-nô). Cuộc đời và sự thánh thiện của thánh nữ Tê-rê-sa là một minh dẫn cụ thể. Một cuộc sống rất dung dị với dáng vẻ tầm thường bên ngoài đã được ơn thánh biến đổi trở nên phi thường. Sự vĩ đại và phi thường nơi Tê-rê-sa được lý giải bằng nguyên lý căn bản: Ngài là ‘con người của tình yêu’. Đây chính là chuẩn mẫu tóm kết cuộc đời của Tê-rê-sa để Ngài trở thành khuôn mẫu nội tâm cho các bạn trẻ của mọi thời đại. Linh đạo mà Tê-rê-sa đã vạch dẫn hơn 100 năm trước đây, hiện vẫn còn mang tính thời sự và phù hợp cho tất cả các bạn trẻ chúng ta ngày hôm nay,

Khiêm tốn trong tín thác

Tuổi trẻ hay có những ước mơ và hoài bão. Nơi Tê-rê-sa cũng vậy, ước mơ điên cuồng của Ngài là được dâng hiến tình yêu để thuộc trọn về Chúa Giê-su trong dòng kín. Ngày rước lễ lần đầu tiên, bé Tê-rê-sa đã thưa với Chúa: “Chúa ơi, con yêu Chúa lắm, con muốn thuộc về Chúa suốt đời”. Đó quả là một tham vọng lớn lao, nhưng lại là một hoài bão thánh thiện và chính đáng. Đứng trước những quà tặng và bữa tiệc thịnh soạn ngày lần đầu tiên rước Chúa Giê-su Thánh Thể, Tê-rê-sa đã không mấy quan tâm và chị đã thốt lên với Chúa: “Lạy Chúa, lòng con chỉ biết vui sướng và yêu thích một mình Chúa mà thôi”. Từ đó, Tê-rê-sa đã bắt đầu đi sâu vào cảm thức về tình yêu hiến dâng cho Thiên Chúa và khai mở bầu khí thiên đàng bên trong tâm hồn mình. Chị muốn được kết bạn trăm năm với Chúa Giê-su Thánh Thể và ước ao rước lễ mỗi ngày. Sự khiêm tốn và tâm tình tín thác tuyệt đối là cánh cửa đầu tiên khai dẫn Tê-rê-sa tiến sâu vào đời sống trọn lành.

Càng lớn lên, Tê-rê-sa càng tăng triển mối tình thâm giao với Chúa Giê-su bằng một tâm hồn khiêm cung nhỏ bé. Ngài tha thiết xin được vào dòng kín cho dù tuổi đời mới 15, tuổi mà giáo luật lúc đó chưa cho phép. Người đầu tiên phản đối ý định của Tê-rê-sa là ông cậu ruột của Ngài. Rồi sau đó, chính Cha Bề trên linh hướng của dòng kín cũng từ chối ước muốn của chị. Đức Cha Hugonin thì tỏ ý cảm thông nhưng Ngài không dám cho phép. Cuối cùng Tê-rê-sa phải lặn lội đi hành hương sang tận Rô-ma để có thể trình bày ước vọng lên Đức Thánh Cha. Với sự khiêm cung tín thác trọn vẹn vào Chúa quan phòng, Tê-rê-sa đã vượt qua mọi trở ngại và đã được toại nguyện. Ngài đã tâm đắc lời dạy trong sách gương phúc: “Tình yêu không lùi bước trước bất cứ điều gì, tình yêu tin tưởng thì cái gì cũng có thể, cũng được phép”. Trong đời sống tại tu viện, con đường nên thánh bằng lối sống đơn sơ khiêm tốn càng nổi bật nơi Tê-rê-sa. Có lần chị đã tự ví mình như một đĩa rau trộn không tên. Nhưng đĩa rau trộn này là tổng hợp những hy sinh nhỏ bé hằng ngày cộng với một tình yêu cháy bỏng. Tê-rê-sa đã nhìn vào những biến cố cho dù nhỏ bé nhất của đời sống với lăng kính tình yêu. Đằng sau lăng kính này là cặp mắt đơn sơ của trẻ thơ luôn hướng nhìn về Chúa với một tâm tình khiêm tốn và tín thác.

Trong thơ thứ nhất của thánh Phê-rô, vị tông đồ đã dạy chúng ta: “Anh em hãy mặc lấy đức khiêm nhu vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo nhưng ban ơn cho những ai khiêm nhường”. Đức khiêm tốn là dấu chỉ của những tâm hồn thuộc về Thiên Chúa. Đức Maria, người nữ tì của Thiên Chúa đã thưa hai tiếng xin vâng bằng thái độ khiêm tốn thẳm sâu để mở rộng tâm hồn đón nhận Ngôi Hai Thiên Chúa đển ẩn cư trong cung lòng mình. Cũng vậy, nơi Tê-rê-sa, tâm hồn của Ngài được đặt nền trên sự khiêm tốn tột bật vì tâm hồn đó đã thuộc trọn về Thiên Chúa.

Vui tươi trong khổ đau

Thánh Phan-xi-cô Sa-lê đã nói: “Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn”. Cuộc đời của Tê-rê-sa là một cuộc đời chan chứa niềm vui. Niềm vui và sự bình an tràn ngập tâm hồn Ngài cả những khi gặp đau khổ và sóng gió. Thánh giá đầu tiên đến trong cuộc đời chị thánh là cái chết của người mẹ yêu dấu. Lúc đó Tê-rê-sa còn quá nhỏ để hiểu thế nào là cảnh mồ côi mẹ. Trong cuốn Nhật ký Một Tâm Hồn, Ngài đã viết như sau: “Khi ấy con còn quá nhỏ, phải nghển cổ lên mãi mới nhìn thấy hết quan tài của mẹ. Quan tài của mẹ to lắm mà cũng bi thương lắm”. Có lần Tê-rê-sa đến ngồi trong vòng tay của mẹ và thỏ thẻ: “Mẹ ơi, con muốn mẹ mau chết để được về với Chúa”. Đó là một tâm tình đơn thành của trẻ thơ. Nhưng khi người mẹ ấy đã về trời thực sự, cả một sự hụt hẫng ập đến trong tâm hồn bé bỏng đơn sơ của thánh nữ. Mười lăm năm sau, Tê-rê-sa lại đối diện trước một cảnh chia ly khác: cái chết của mẹ Génevière, Bề trên dòng kín Lisieux. Lúc này, Têrêsa đã lớn và đã thấm thía được thế nào là mầu nhiệm thập giá. Ngài đã ghi lại trong nhật ký như sau: “Gian nan khổ cực của cuộc đời đã tôi luyện kỹ lưỡng linh hồn Tê-rê-sa rồi. Đời chẳng còn cái gì khó khăn có thể làm Tê-rê-sa nản lòng và mất vui được nữa”.

Niềm vui đơn sơ của Tê-rê-sa là một niềm vui thánh thiện, và sâu kín từ trong nội tâm. Đó là niềm vui và an bình của một tâm hồn hướng thượng luôn nhìn ra dấu ấn tình yêu của Thiên Chúa trong mọi biến cố đời thường. Thưở thơ ấu, Ngài vẫn hay ngước mắt nhìn lên bầu trời lung linh những vì sao và vui sướng nói với cha mình: “Cha ơi, cha xem tên con đã được viết ở trên trời rồi kìa.”

Trong đời sống tu viện, Tê-rê-sa đã nếm cảm biết bao niềm vui vì được chịu đựng những đau khổ âm thầm để làm sáng lên tình yêu dành cho bạn tình Giê-su. Một chị bạn vào thăm Tê-rê-sa lúc chị thánh đang nằm trên giường bệnh, ngạc nhiên thấy nét mặt Tê-rê-sa vẫn rạng rỡ vui tươi liền hỏi: “Sao chị vui thế?”. Tê-rê-sa bình tĩnh trả lời: “Em luôn vui vẻ dù thân xác em đau đớn lắm. Em vẫn luôn yêu quý sự khổ đau và đón nhận đau khổ mà Chúa gửi tới cách niềm nở và trân trọng”. Thánh nữ nói tiếp: “Khi phải đau đớn trong tâm hồn hay nơi thân xác, em cố gắng không bao giờ tỏ ra buồn bã, nhưng luôn mỉm cười và âm thầm chịu đựng. Lúc đầu rất khó khăn, nhưng đến nay, việc mỉm cười trước đau khổ em đã tập quen lắm rồi”.

Một buổi sáng kia, mẹ Agnès de Jésus hỏi chị: “Sao sáng nay con vui thế?” Tê-rê-sa trả lời: “Con rất vui vì hôm nay con được lãnh nhận hai sự khó nho nhỏ để yêu Chúa Giê-su. Không có gì làm con vui tươi cho bằng những sự khó cỏn con như vậy”. Ngài nói thêm: “Thưa mẹ, những khổ đau ấy chẳng dữ dằn gì đâu. Một trinh nữ muốn hy sinh cho tình ái mà còn ghê sợ chút quà bạn thánh gửi cho thì làm sao coi được. Con chịu được tới mức nào, bạn Giê-su gửi cho con đến mức ấy, chẳng bao giờ con phải lo lắng cả”. Quả vậy, bí quyết nên thánh của Tê-rê-sa là luôn gắn bó với Chúa Giê-su là Chúa của niềm vui, trong những đau khổ hy sinh âm thầm mỗi ngày. Cuộc đời của Ngài là một cuộc đời rực rỡ niềm vui như những bông hồng tỏa lan mùi hương êm dịu, nhưng ẩn sâu bên dưới là những gai nhọn của Thập giá. Với lăng kính tình yêu, Tê-rê-sa đã khám phá và đón  nhận đau khổ như là món quà hồng ân. Ngài nhìn thấy ánh vinh quang lấp lánh đằng sau bóng dáng của Thập giá. Cuộc đời tràn ngập tình yêu của Ngài minh chứng chân lý mà thánh Phao-lô đã diễn tả: “Tình yêu mạnh hơn sự chết”. Cái chết của thánh nữ là một kết thúc trong hoan lạc của tâm hồn đã dành trọn tình yêu cho Chúa. Chúng ta có thể dùng hình tượng của một đàn chim vỗ cánh bay vút lên trời cao để nói về cái chết hạnh phúc của thánh nhân như Thánh vịnh 123 đã diễn tả: “Hồn tôi tựa cánh chim, thoát lưới người đánh bẫy, lưới giăng đã đứt rồi, thế là ta thoát nạn.”

Thánh Phan-xi-cô Sa-lê đã nói: “Chỉ có ma quỷ mới có lý do để buồn phiền”. Kinh nghiệm thiêng liêng của thánh Gioan Maria Vianney cũng vậy. Ngài nói: “Linh hồn những ai phục vụ Chúa đều tràn ngập vui mừng. Họ luôn sống cách thảnh thơi và tâm hồn họ lúc nào cũng sẵn sàng hát ca”. Đây cũng là đặc nét nơi tâm hồn của Tê-rê-sa, một dấu chỉ năng động về sự hiện diện của Thánh Thần. Thánh Phao-lô dạy: “Hoa quả của Thần khí là vui sướng và bình an” (Gal 5,22). Thiên Chúa yêu mến những ai biết cho đi cách vui vẻ. Tê-rê-sa đã cho đi, đã hiến dâng trọn vẹn và cuộc đời của Ngài đã được gắn chặt vào Thập giá với Chúa Giê-su. Sự vui vẻ và lòng quảng đại hiến dâng tình yêu trong những hy sinh âm thầm nơi cuộc đời của thánh nữ Tê-rê-sa là một mô thức nên thánh, kiểu mẫu cho tất cả các bạn trẻ chúng ta ngày hôm nay.

Tình cho không biếu không

Tê-rê-sa là một vị thánh vĩ đại. Tính cách vĩ đại của Ngài không phải bởi sự thánh thiện siêu thường, nhưng khởi nguồn từ một cuộc sống rất bình thường và dung dị như chúng ta. Nói cách khác, Ngài là một con người rất con người, đồng thời cũng là một vị thánh rất là thánh. Sự thánh thiện của Tê-rê-sa ở chỗ Ngài biết mở rộng tâm hồn để cho tự nhiên kết hợp với ân sủng, biến những năng lực tự nhiên của đời thường để mở thông cho mầu nhiệm Thiên Chúa.

Là một con người, một người trẻ như chúng ta, Ngài cũng có một trái tim biết rung cảm và yêu thương. Ngài cũng khát khao mãnh liệt để yêu và muốn được yêu. Ngay từ nhỏ, Tê-rê-sa cũng được hưởng nếm những tình cảm thân thương trong một gia đình nhân loại giữa những vòng tay thương mến của mẹ cha, của các anh chị, để từ kinh nghiệm nhân loại đó Ngài mở thông cho một gia đình thiêng liêng rộng lớn hơn với một tình yêu nồng cháy. Ngài ước muốn làm linh mục, muốn đi truyền giáo, muốn rao giảng về Đức Mẹ, muốn làm tiến sĩ của Hội Thánh..... tất cả chỉ vì  tình yêu rộng mở đứng trước một chân trời vĩ đại. Ngài định nghĩa vắn tắt: “Ơn gọi của tôi là tình yêu. Tình yêu là tất cả. Tình yêu bao gồm mọi thời gian và không gian. Tắt một lời, tình yêu là bất diệt. Quả thât, ơn gọi của tôi chính là tình yêu”.

Với chất kết dính tình yêu, Tê-rê-sa đã hòa trộn những yếu tố tự nhiên của đời thường với những yếu tố siêu thường của thế giới thần linh. Cuộc đời của Ngài là một tổng hòa tuyệt diệu giữa bản năng thâm sâu của con người với sự tác động nhiệm mầu của tình yêu Thiên Chúa. Bí quyết của sự tổng hòa này, Ngài đã học được nơi linh đạo của thánh Gioan Thánh giá và đã ứng dụng trong cuộc sống mình. Vị tiến sĩ của tình yêu đã thuật lại: “Đối với tôi không có phương thế nào trở nên hoàn thiện ngoài tình yêu. Nhiều khi tôi cố tìm ra một danh xưng nào khác để diễn tả, nhưng ở trần gian, không có từ ngữ nào diễn tả nổi những xung động sâu xa nhất ấy nơi tâm hồn tôi, nên tôi vẫn dùng hai chữ : tình yêu”.

Trong suốt cuộc đời ngắn ngủi còn lại trong tu viện, Tê-rê-sa đã hiến dâng tình yêu trọn vẹn cho Thiên Chúa như một vũ khí mạnh mẽ chống lại tội lỗi. Một nhà triết tự học khi nghiên cứu văn thức khấn dòng do chính Tê-rê-sa viết đã nhận xét: “Đây là nét chữ nói lên sự rụt rè của một đứa bé thơ, đồng thời cũng bộc lộ sự cương quyết của một dũng sỹ”. Tê-rê-sa đã vượt thắng sự sợ hãi trẻ thơ để chiến đấu như một người lính can trường nhờ vào một thứ vũ khí duy nhất và đầy hiệu quả, đó là tình yêu. Thánh nữ đã tâm đắc lời dạy trong sách gương phúc: “Tình yêu có thể làm được mọi sự, kể cả những việc xem ra không thể làm được”. Quả vậy, ơn gọi của chị là tình yêu, đúng như chị đã nói: “Tình yêu đã đổ đầy vào tâm hồn của tôi rổi.”

Linh mục Hồng Phúc đã lý giải việc nên thánh của Tê-rê-sa quy kết vào bốn yếu tố căn bản: một là nhận thức được sự yếu đuối nhỏ bé của mình như một em bé thơ, hai là để Chúa hướng dẫn hoàn toàn với tâm tình phó thác của một người con nhỏ, ba là yêu mến Chúa như một trẻ thơ chỉ biết yêu, bốn là làm tất cả, chịu đựng tất cả, cho dù những việc cỏn con, với một tình yêu lớn lao. Đức Thánh Cha Pi-ô X kết luận: “Đó là con đường đơn sơ nhỏ bé của thánh nữ, nhưng là con đường của tình yêu vĩ đại, và là con đường nên thánh của mọi thời đại”.

Thánh Phan-xi-cô Sa-lê đã viết: “Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ, tình yêu là sự hoàn thiện của con người, đức ái là sự hoàn thiện của tình yêu”. Đức ái chính là tột đỉnh của tình yêu được Tê-rê-sa hiến dâng cho Thiên Chúa, và đó cũng là tổng thể lớn lao bao trùm toàn bộ cuộc đời của thánh nhân. Tình yêu đó cũng chính là ân ban của Thánh Thần, đấng làm việc trong những tâm hồn bé mọn. “Tình yêu Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần Người đã ban cho ta” (Rm 5,5).

Kết luận

Tê-rê-sa, vị tiến sỹ của tình yêu, đã sống với một trái tim đầy rung cảm yêu thương của  một người trẻ như bạn, như tôi, như tất cả chúng ta. Ngài khát khao muốn yêu và được yêu mãi mãi. Nhưng tình yêu ấy có một hướng đích rõ rệt, quy tập nơi Chúa Giê-su, nguồn mạch của tình yêu bất tận. Cuộc sống của Ngài rất dung dị nhưng trong huyền nhiệm tình yêu, ân thánh đã biến trở cái bé nhỏ thành vĩ đại. Ngài sống khiêm tốn đơn sơ, nhưng tình yêu đã nâng dậy những người thấp kém để mặc cho họ vinh quang cao sang của Thiên Chúa. “Đức ái tin mọi sự, hy vọng mọi sư, chịu đựng mọi sự” (1Cor 13.4.6). Chân lý ấy đã được sao chép tường tận qua cuộc sống của Tê-rê-sa. Thánh Augustino đã viết: “Ama et fac quod vis” (bạn hãy yêu mến đi, rồi bạn muốn làm gì thì làm). Tê-rê-sa đã yêu mến và Ngài đã làm được một việc vĩ đại, đó là trở nên thánh. Tình yêu tự nó là một dòng chảy bất tận và có sức năng động mãnh liệt. Dòng nước được vây kín và tụ lại trong ao tù chật chội, sẽ trở nên vẩn đục hôi thối và không có sự sống. Cũng vậy, tình yêu phải mở thông và cho đi mãi mãi. Tê-rê-sa xứng đáng là một tiến sỹ của tình yêu, và tình yêu của Ngài đang phát sinh sự sống nơi tâm hồn bạn, nơi tâm hồn tôi, nơi tâm hồn những bạn trẻ đang khao khát nên thánh theo con đường tình yêu của Ngài.

 

Văn Hào, SDB

Thứ 5 Tuần IV Mùa Chay

Văn Lịch, SDB

Ga 5, 31-47

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân Do-thái rằng: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực. Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực. Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian. Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta. Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống. Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Môsê, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng. Vì nếu các ngươi tin Môsê, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta, bởi vì chính Môsê đã viết về Ta. Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Môsê đã viết, thì làm sao các ngươi tin lời Ta được?"

"Lời nói chẳng mất tiền mua

lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".

Đây là một câu tục ngữ mà mỗi người dân Việt Nam rất quen thuộc. Mỗi người cần chú ý về lời ăn tiếng nói của mình để đừng làm mất lòng người khác. Câu tục ngữ này dạy cho chúng ta cách đối nhân xử thế sao cho khéo.

Tuy nhiên, trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy "lời nói" giờ đây không phải chỉ dừng lại ở chỗ "cho vừa lòng nhau" nữa nhưng mang ý nghĩa cứu độ: "Tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ." "Tôi nói" để "các ông được cứu độ" chứ không phải vì một lý do nào khác. Chúa Giêsu đã mang lại ý nghĩa mới cho những lời nói của con người.

Lạy Chúa, những lời nói trong cuộc sống của con nhiều khi đã không mang lại lợi ích cho những người con gặp gỡ: tâng bốc người khác để lôi kéo họ về phía con, để con được ưu đãi; nói xấu, lăng mạ người khác để đề cao mình.

Xin Chúa cho con biết dùng lời nói của mình không phải chỉ để vừa lòng người khác nhưng còn để giúp người khác thăng tiến con người của họ. Xin cho con biết nói những lời cần thiết cách chân thành, đúng đắn không phải chỉ để con được lợi ích hay chỉ để "làm vừa lòng người khác" nhưng còn giúp họ được cứu độ.

 

Văn Lịch SDB

Thứ Bảy Tuần IV Mùa Chay

Hồ Điệp, SDB

Ga 7, 40 - 53: "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy"

Khi ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: "Ông này thật là tiên tri". Kẻ khác nói: "Ông này thật là Ðấng Kitô". Người khác nữa lại nói: "Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của  Ðavit?" Vì  thế, dân chúng bất đồng ý kiến với nhau về Người. Trong số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt Người. Vậy khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông này hỏi họ rằng: "Tại sao các ngươi không điệu nó tới?" Các người thừa hành thưa rằng: "Chẳng hề có ai nói như người ấy". Các người biệt phái trả lời rằng: "Chớ thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và các người biệt phái, có ai tin nó đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết gì lề luật". Nicôđêmô là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người trong nhóm họ, nói với họ rằng: "Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai mà không nghe họ, hoặc không biết rõ họ làm gì không?" Nhưng họ trả lời rằng: "Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa". Sau đó ai về nhà nấy.

Trong cuộc sống, chúng ta gặp gỡ, tiếp xúc với rất nhiều người nhưng chỉ những ai thật nổi bật về một điều gì đó mới làm cho chúng ta có ấn tượng để mà nhớ đến họ.

Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan tường thuật lại việc Chúa Giêsu giảng dạy trong đền thờ Giêrusalem. Vị trí mà Chúa Giêsu đang đứng chỉ dành cho những vị tư tế, họ là những người được quyền giảng thích Lời Chúa cho dân chúng để họ hiểu và thực hành trong đời sống. Nhưng hôm nay, nhân vật Giêsu lại xuất hiện và giảng dạy cho dân chúng. Mọi người đều sửng sốt vì những lời Ngài giảng như một Đấng có uy quyền chứ không như các thầy dạy của họ. Lời Ngài nói là lời chân thật và được thể hiện cụ thể nơi cuộc sống của Ngài cho nên lời đó có sức lôi cuốn mọi người. Điều này làm cho các kinh sư và người Pharisêu khó chịu và họ tìm cách hạ thủ Đức Giêsu xuống.

Trong số những người nghe, có những người tin Ngài là Đấng Kitô nhưng cũng có những kẻ không tin. Họ thấy chướng tai vì lời đó đã đánh vào chính đời sống của họ. Cho nên, họ không đủ can đảm chấp nhận sự thật để sửa đổi mà tìm cách phản kháng lại. Họ không chấp nhận một thầy dạy mà lại xuất thân từ một nơi nhỏ bé nghèo hèn, chẳng có gì đáng chú ý hay cần phải lắng nghe. Họ gạt Đức Giêsu, gạt bỏ sự thật cho nên sự chia rẽ xảy ra giữa họ. Nhưng lời đó lại thấm vào lòng của những người lính được cử đi bắt Ngài. Lòng họ đã cảm thấy rạo rực một chân lý. Họ đón nhận lời đó với tất cả tình yêu và lòng khao khát kiếm tìm chân lý. Tâm hồn họ như những mảnh đất tốt được gieo hạt giống lời Chúa. Bây giờ, họ đã được no thỏa.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu thích những ai có tâm hồn đơn sơ, nhỏ bé. Xin dạy chúng con luôn biết mở rộng cõi lòng để đón nhận Lời Chúa, dù lời đó có làm chúng con cảm thấy xấu hổ về những lỗi lầm mình đã phạm nhưng chính lời đó lại mang lại cho chúng con bình an của Chúa. Chúng con cũng xin Mẹ Maria giúp chúng con biết lắng nghe, suy niệm và đem Lời Chúa ra thực hành mỗi ngày với một tình yêu đơn sơ và khiêm nhường như Mẹ. Amen.

 

Jos. Hồ Điệp SDB

Thứ Tư tuần IV Mùa Chay

Đình Phước, SDB

Is 49, 8-15: Tình yêu của người mẹ

Ga 5, 17-30: Chúa Giêsu trao ban mạng sống cho những ai tin vào Người.

Bài đọc I trích sách tiên tri Isaia cho chúng ta thấy những kẻ lưu đầy thương tiếc về những ngày huy hoàng ở Sion đã thốt lên: "Đức Chúa đã bỏ tôi, Chúa Thượng tôi đã quên tôi rồi". Nhưng qua miệng ngôn sứ, Thiên Chúa nhắc lại lòng trung thành và tình yêu của Ngài dành cho nhân loại. "Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình,hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ".

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu trả lời cho những ai phê phán Ngài đã chữa lành cho người bệnh tật trong ngày Sabát, và Ngài gọi Thiên Chúa là Cha. "Điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý". Như vậy, Chúa Giêsu mặc một ý nghĩa mới cho ngày Sabát: ngày Sabát được làm nên cho con người.

Chúa Giêsu tỏ lộ tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người và hướng con người đến cuộc sống vĩnh cữu. Tình yêu này làm nảy sinh, biến đổi và tái sinh sự sống. "Ai lắng nghe Thầy và tin vào Đấng đã sai Thầy, người ấy sẽ có sự sống đời đời làm gia nghiệp".

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa, bởi vì chúng con không cô đơn,

Chúa luôn ở bên cạnh chúng con,

Chúa yêu con bằng một tình yêu trao ban trọn hảo.

Xin giúp chúng con sống xứng đáng với tình yêu Chúa.

 

Fx. Đình Phước SDB

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %