• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


A NEW YEAR'S REVOLUTION

"Mary treasured all these things and reflected on them in her heart." —Luke 2:19

What thoughts did Mary reflect upon? Were they sentimental? If you were having a baby in a real barn, sentimental thoughts would not be uppermost in your mind. Were Mary's thoughts contemplative, mystical, or profound? Possibly, but we have no reason to believe this. Were Mary's thoughts full of anger? Mary had reason to be angry since she was forced to have her baby in a stable, but we know that Mary did not sin. Therefore, if her thoughts were of anger, they were of righteous anger (see Eph 4:26).

Of course, no one can tell what was on Mary's mind. The only extended statement in the Bible on which to base any conclusions about Mary's thoughts is her "Magnificat." In Luke 1:46-55, Mary praised the Lord and then proclaimed a revolution. She prophesied: "[The Lord] has shown might with His arm; He has confused the proud in their inmost thoughts. He has deposed the mighty from their thrones and raised the lowly to high places. The hungry He has given every good thing, while the rich He has sent empty away" (Lk 1:51-53). Mary called for a revolution not through physical violence but through repentance. This revolution was made possible by her Son Jesus, Who is a Sign of contradiction for the rise and fall of many (Lk 2:34).

For years, many of us have been making and breaking New Year's resolutions. Change an "s" to a "v", and make a New Year's revolution in Jesus. This will make "Happy New Year" not just a wish, but a reality.

Prayer: Father, use Christians to turn this upside-down world right-side up (see Acts 17:6).

Promise: "The Lord bless you and keep you! The Lord let His face shine upon you, and be gracious to you! The Lord look upon you kindly and give you peace!" —Nm 6:24-26

 

Praise: Mary is still calling us to revolution through her messages at Lourdes, Fatima, and other apparitions.

 

Thánh Gioan Maria Vianney và Tòa Giải Tội

Đức Thánh Cha Biển Đức 16 kêu gọi các linh mục hãy siêng năng ban bí tích hòa giải cho các tín hữu noi gương thánh Gioan Maria Vianney.Ngài đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 11-3-2010, dành cho các linh mục tham dự khóa học về Bí tích Giải Tội do Tòa Ân Giải tối cao tổ chức.

Trong bài huấn dụ, ĐTC nhắc đến Năm Linh Mục kỷ niệm 150 năm qua đời của thánh Gioan Maria Vianney và đặc biệt đề cao tấm gương của thánh nhân “đã thi hành sứ vụ hòa giải một cách anh hùng với nhiều thành quả”. Ngài nhận xét rằng để thi hành sứ vụ ấy, thánh Vianney đã kín múc sức mạnh từ chiều kích thống hối bản thân, ý thức giới hạn của mình và nhu cầu cần tìm đến Lòng Từ Bi của Chúa để xin ơn tha thứ, để hoán cải tâm hồn và được nâng đỡ trên con đường nên thánh” (SD 11-3-2010).

“Mỗi tòa giải tội là một nơi đặc biệt hồng phúc, từ nơi đó, các sự chia rẽ đã được xóa sạch, sinh ra một con người mới, không tì ố, một con người được giao hòa, một thế giới được giao hòa” (Thánh Gioan Phaolô II, Reconciliatio et Paenitentia - Hòa giải và Sám hối, số 31).

Đức Thánh cha Phanxicô nhắn nhủ các cha giải tội, hãy gắn bó với Chúa Kitô qua kinh nguyện, biết phân định và ý thức rằng tòa giải tội chính là nơi loan báo Tin Mừng. Ngài đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 17-3-2017 dành cho 700 người gồm các linh mục trẻ và chủng sinh sắp thụ phong linh mục tham dự khóa học về bí tích giải tội do Tòa Ân Giải tối cao. Hiện diện tại buổi tiếp kiến có ĐHY Chánh Tòa và các chức sắc của Tòa Ân Giải tối cao những như các cha giải tội tại 4 Đại vương cung thánh đường ở Roma.

Trong bài huấn dụ, ĐTC khai triển 3 điều kiện để trở thành cha  “giải tội tốt”:

- Trước tiên phải là người bạn đích thực của Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành. Điều này trước tiên có nghĩa là phải vun trồng đời sống cầu nguyện, luôn cầu xin Chúa ơn bác ái mục tử, ơn có khả năng hiểu những vết thương của người khác để chữa lành, ơn khiêm tốn, và luôn xin ơn Thánh Linh là Thánh Thần Phân Định và cảm thương.

- Tiếp đến, cha giải tội tốt là người của Thánh Linh, người biết phân định. Cha giải tội không dạy đạo lý riêng của mình, nhưng luôn luôn thực thi thánh ý Chúa, trong niềm hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội. Sự phân định là điều cần thiết vì người đến tòa giải tội có thể đến từ những hoàn cảnh rất khác nhau. Cũng có thể họ là người có những xáo trộn về tâm linh và bản chất của tình trạng này cần phải được phân định kỹ lưỡng, để ý tới tất cả những hoàn cảnh cuộc sống, hoàn cảnh Giáo Hội, tự nhiên và siêu nhiên.

 - Sau cùng, ĐTC nói, cha giải tội tốt là người ý thức rằng tòa giải tội cũng là nơi thực sự để loan báo Tin Mừng. Thực vậy, không có sự loan báo Tin Mừng nào chân chính hơn là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa từ bi thương xót. (SD 17-3-2017).

***

Có thể nói rằng: phép lạ vĩ đại của cha Thánh Gioan Maria Vianney là tòa giải tội, nơi tội nhân được ơn hoán cải. Mỗi ngày, ngài ngồi giải tội từ 11 giờ đến 12 giờ vào mùa Đông, và thậm chí là 16 đến 18 giờ vào mùa Hè. Khi hành hương đến xứ Ars, trước tiên tôi tìm đến tòa giải tội nơi thánh nhân ngồi mấy mươi năm, quỳ gối cầu nguyện và xin ngài chúc lành cho sứ vụ hòa giải trong đời linh mục của mình.

Công việc mục vụ ngồi tòa, giải tội là sứ vụ đức ái mục tử đẹp nhất trong cuộc đời của cha thánh, là hoạt động sáng chói nhất trong nhiệm vụ của một mục tử.

Thời trẻ, Gioan có một tâm nguyện: “Nếu một ngày nào đó tôi được làm Linh mục, tôi sẽ đưa nhiều linh hồn về cho Chúa”. Khi làm Linh mục, ngài đã thực hiện tâm nguyện ấy. Tòa giải tội là nơi ngài đưa các linh hồn về cho Chúa nhiều nhất. Tòa giải tội đã thu hút biết bao hối nhân tìm đến với xứ Ars. Tòa giải tội là phép lạ lớn nhất trong cuộc đời của thánh nhân. Đức Giáo Hoàng Piô XII viết về cha thánh Gioan Maria Vianney một câu thật ngắn gọn: “Một chuyên viên thành thạo nhất về các tội nhân”.

1.   Thời gian ở tòa giải tội

Một phần lớn cuộc đời Linh mục của cha Vianney trôi qua trong tòa giải tội. Trong 30 năm dài, một làn sóng người hành hương không ngừng đổ về ngôi nhà thờ cũ kỷ của họ Ars. Mùa đông rét buốt, số người đến đây không ít hơn các mùa ấm áp.

Tứ tháng 11 đến tháng 3, cha sở phải ngồi tòa trung bình không dưới 12-13 giờ mỗi ngày. Người ta đứng thành hàng dài, từ trong nhà thờ ra bên ngoài, nối đuôi nhau không ngớt chờ đợi tới phiên mình.

Trong năm 1845, có ngày số người hành hương đến Ars lên tới ba hay bốn trăm. Tại nhà ga lớn nhất của Lyon, người ta mở một văn phòng hoạt động 24/24 để bán vé tàu cho khách đi Ars, vé có giá trị tám ngày, đó là thời gian trung bình người ta phải đợi cho đến phiên mình vào tòa xưng tội với vị Linh mục thánh thiện nổi tiếng.

Vào mười năm cuối đời, Thánh Vianney phải giải tội từ mười sáu đến mười tám tiếng một ngày! Còn khách hành hương nói chung phải đợi ba mươi, năm mươi, bảy mươi giờ trước khi được lãnh nhận bí tích hòa giải. Cũng có khi người ta mua lại chỗ đứng của người nghèo. Ai muốn đi ra ngoài phải thỏa thuận với người bên cạnh hoặc với người bảo vệ nhà thờ. Đêm thì sao? Khi cửa nhà thờ đóng lại, người ta đánh số chổ của mình (x. Linh mục, người loan báo Tin Mừng, Lm Nguyễn Hồng Giáo, OFM).

2.   Ai đến với tòa giải tội?

Họ gồm đủ mọi thành phần và lứa tuổi: có giáo dân, tu sĩ, linh mục và đôi khi cả giám mục nữa; họ là quý tộc và bình dân, kẻ vô chủ nghĩa và người học thức, người thành thị và người thôn quê,… Có khi nguyên một gia đình ngồi trên xe ngựa đến từ những tỉnh xa xôi. Từ những vùng lân cận, người ta tuôn về đây bằng đôi chân hay bằng xe, theo đường bộ hay đường thủy. Năm cuối cùng của cuộc đời cha Vianney (1858-1859), số khách hành hương lên tới tám mươi ngàn, chỉ tính riêng số người dùng các phương tiện chuyên chở công cộng; còn tính chung có lẽ là khoảng một trăm ngàn đến một trăm hai mươi ngàn.

Đám đông này rất trật tự và nghiêm trang. Họ đến là để nhìn một vị thánh, để xưng tội, để cầu nguyện hay để hoàn thành một lời khấn với thánh nữ Philomêna. Có những người vào làng Ars như vào một đền thánh; vừa nhìn thấy tháp chuông nhà thờ, họ liền cất nón mũ xuống và làm dấu thánh giá. Một nhân chứng kể lại quang cảnh họ nhìn thấy vào tháng ba năm 1859: đông đảo những người ngoài họ Ars đứng trong nghĩa trang cũ và đến tận trong những con đường nhỏ kế cận chờ đến phiên vào tòa giải tội.

Buổi sáng vào khoảng chín giờ, Cha Vianney dành một số thời gian cho các tu sĩ và linh mục. Ngài giải tội cho họ ở một tòa đặt sau bàn thờ chính. Có lần Đức Giám mục địa phận nhà cũng ngồi chờ phiên mình. Cha giải tội cũng dành một số ngoại lệ cho giáo dân con chiên cha, người bệnh, người tàn tật và những hối nhân không thể chờ đợi. Đối với trường hợp cuối cùng này, ngài thường dùng ơn “nhìn thấy trong tâm hồn” để nhận ra từ trong dòng người chờ đợi, rồi ưu tiên cho họ.(sđd, trang 62-63).

3.   Cha Vianney khuyên bảo các hối nhân như thế nào?

Nói chung, ngài mạnh mẽ thẳng thắn, nhân từ nhưng không yếu đuối. Ngài biết cần phải “đánh” điểm nào cho trúng đích. Đọc một số lời khuyên còn ghi lại, tôi thấy ngài thường ngắn gọn, đầy tâm tình chứ không máy móc lạnh lùng.

Để lay tỉnh những “đại tội nhân”, khá nhiều khi ngài tung ra một câu đanh thép: “này con, con bị luận phạt đời đời”. Phát ra từ môi miệng một vị thánh mà người ta tin là ngài đọc được tương lai, câu đó giống như một lời phán quyết khủng khiếp. Nhưng thật ra ngài chỉ muốn nói: “nếu con không xa lánh dịp tội ấy, nếu con cứ duy trì cái thói quen tội lỗi ấy, nếu con không nghe theo lời khuyên dạy thì con sẽ bị luận phạt”.

Đối với những người đạo đức, ngài không cần nhiều lời. Nhưng ngay cả với trường hợp này, vẫn là những mũi tên nóng bỏng đâm thấu tận con tim: “xin Đức Cha yêu thương các Linh mục của ngài!”. Đó là lời duy nhất ngài nói với Đức cha De Langalerie, Giám mục địa phận Belly đang quỳ gối trước mặt ngài. Một cộng sự viên gần gũi của ngài xưng thú: “con đã lười biếng làm điều này nhưng tận đáy lòng, con vẫn thiện chí”, cha giải tội đáp lại duy nhất một câu “Ồ! thiện chí, thiện chí … hỏa ngục cũng lót toàn thiện chí”. Linh mục Monnin kể: “tôi đã xưng tội với ngài hai lần. Lần nào cũng thế, sau mỗi tội tôi xưng ra dù là tội nhẹ nhất, ngài đều nói: ‘đáng tiếc quá’. Từ một người khác, đó có thể là một cách nói thông thường, nhưng từ môi miệng của Cha Sở họ Ars, Linh mục Monnin coi như là tiếng kêu của lòng tin, lòng thương xót và sự ghê tởm đối với tội lỗi; ngài thêm: “Nhất là giọng nói đầy âu yếm đã đánh động tôi” (sđd, trang 64).

4.   Cha Vianney yêu thương tội nhân

Cha Vianney ghê tởm tội lỗi bao nhiêu thì yêu mến người tội lỗi bấy nhiêu. Ngài có một lòng cảm thương vô bờ đối với hối nhân. Tình yêu ấy được biểu lộ qua những nhân đức sau đây.

a.     Cầu nguyện cho tội nhân

Xen lẫn với kinh nguyện hằng ngày, ngài thường khóc lóc mà thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa không muốn kẻ có tội phải chết… Những người có tội thật đáng thương. Ước gì con có thể thú tội thay cho họ”. Một người thân tín nói với ngài: “Cha cầu nguyện cho họ ít đi một tí được không? Thấy cha vất vả đau khổ quá!. Ngài trả lời: “Biết sao được. Cha đã hứa cầu nguyện cho họ, cha không thể bỏ…”. Lần khác ngài tâm sự: “Tôi chỉ thực sự là tôi khi tôi cầu nguyện cho những người tội lỗi”.

b.     Đền tội thay cho họ

Ngài ăn chay hãm mình để đền bù tội lỗi và mong cho tội nhân hối cải.Trong những năm cuối đời, ngài thường ra việc đền tội nhẹ cho hối nhân. Ngài nói: “Tôi ra việc đền tội nhẹ cho họ, phần đền tội còn lại, tôi sẽ làm thay”. Và ngài làm thay bằng chính sự khổ chế của mình. Tất nhiên, không phải lúc nào cũng vậy. Đối với những lỗi nặng mà cứ tái phạm mãi, ngài bắt hối nhân phải làm những việc đền tội nặng, để họ chứng tỏ sự chân thành và quyết tâm sửa đổi, hầu đem lại lợi ích cho chính họ. Cha Vianney nhiều khi còn khóc trong tòa giải tội nữa. Ngài khóc vì người ta xúc phạm tới Chúa, ngài cũng khóc vì thương các linh hồn… Chính sự thánh thiện của ngài mang lại cho lời khuyên răn và nước mắt của ngài có sức mạnh và hiệu lực.Có người hỏi: “sao cha khóc thế?” ngài đáp ngắn gọn: “tôi khóc vì các ông các bà không khóc cho đủ”.

c.      Yêu thương tội nhân

Đối với những tội nhân cứng lòng, ngài tìm hết cách giúp họ thống hối như gặp gỡ, khuyên nhủ, khi nặng khi nhẹ, và ngay cả bằng nước mắt. Nước mắt và Thánh giá, nhờ ngài, có thể làm cho một trái tim chai đá trở thành trái tim thịt mềm. Có người lúc trước đã trả lời thẳng thừng: “Tôi không muốn xưng tội”, hoặc: “Tôi không đến đây để làm cái chuyện đạo đức của mấy bà”. Mặc kệ. Cuối cùng tất cả đều quỳ xuống dưới chân ngài và xưng thú. Chúa đã ban cho ngài một trực giác lạ lùng để nhận ra giữa đám đông hoặc giữa những người đi qua, ai là kẻ cần được đưa về với Chúa nhất để giúp họ, trước sự ngạc nhiên của chính họ. Do đó mà khi có người buột miệng hỏi: “Mỗi năm cha bắt được bao nhiêu cá lớn?”, ngài trả lời ngay, không lưỡng lự: “Hơn 700”. Không nhớ con số sao được đối với những con cá như thế!

d.     Luôn nhẫn nại

Một dù vất vả ngồi tòa và có những chuyện dễ làm người ta bực mình, nhưng ngài thì không. Ngược lại, ngài tỏ ra đặc biệt nhẫn nại. Đây là một trong những đức tính nổi bật nhất nơi ngài. Một linh mục đã nhận xét : Tôi đã từng quan sát kỹ xem ngài có tỏ ra bất nhẫn bực tức lúc nào không, mà không thấy. Đem chuyện này hỏi ngài thì được ngài trả lời: “Phải nhẫn nại mới có thể cho cái người ta cần chứ ! Bất nhẫn thì được cái gì ?” Ngài cũng nói với một cha bạn: “Hãy học tập sự nhẫn nại của Chúa”.

e.     Hiền hòa, kính trọng hối nhân

Vào thời kỳ cao điểm, bình quân mỗi ngày có từ 300 đến 400 người xếp hàng xưng tội. Công việc vất vả và liên tục trong 30 năm này đã làm cho ngài kiệt lực, đến nỗi có lần ngài tự thú: “Khi tôi rời tòa giải tội, tôi phải lấy tay sờ vào đùi xem nó có còn ở đấy không. Đôi khi ra khỏi nhà thờ, tôi phải vịn vào tường mà đi cho khỏi ngã. Đầu tôi nặng trĩu. Thực sự tôi đã không biết mình chống lại như thế nào”.

Suốt ngày bị công việc mục vụ dồn ép như thế, ngồi nghe hối nhân hàng giờ như thế mà ngài vẫn không mất kiên nhẫn, không la lối nạt nộ ai bao giờ, thật là lạ lùng.

Ngài luôn hiền hòa, tế nhị, kính trọng đối với hối nhân, bất kể là ai. Có Linh mục sa ngã nặng đến xưng tội vẫn được ngài yêu mến, kính trọng. Lời khuyên dành cho Đức Giám Mục Giáo Phận đến xưng tội với ngài là : xin Đức cha hãy yêu thương các Linh mục của Đức cha.

Dù có đông người xếp hàng bên tòa giải tội, ngài vẫn dành cho mỗi người một thời gian cần thiết, bởi người nào cũng có vấn đề riêng của mình. Ngài không khuyên dài, nhiều khi chỉ một lời thôi, nhưng là lời làm cho hối nhân phải động tâm suy nghĩ, một lời tác động mạnh trên họ có khi cả đời. Chính sự thánh thiện và yêu thương đem lại sức mạnh và hiệu năng cho lời đó. (x. Thánh Gioan Maria Vianney, bổn mạng các Linh mục, Lm Micae Trần Đình Quảng; simonhoadalat.com).

5.   Theo gương cha thánh, Linh mục cử hành Bí Tích Hòa Giải

 Giải tội là một tác vụ khó khăn nhất, đòi hỏi nhất, nhưng đó là một tác vụ cao đẹp nhất, an ủi nhất của Linh mục trong đời mục vụ. (x.Chân dung Linh mục trang 39, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).

Là tác vụ khó khăn nhất bởi lẽ, ngồi tòa giải tội giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Với một tư thế không đổi là lắng nghe, phân định, khuyên nhủ, ban phép giải tội. Nghe đi nghe lại đủ thứ tội luỵ trần gian. Linh mục Nguyễn Tầm Thường đã dùng hình ảnh “cái bô rác” để nói về lỗ tai các Linh mục, chứa đựng mọi rác rưới tội lỗi hồng trần, nhưng Linh mục không để mình bị lây nhiễm rác rưới.Trí óc luôn làm việc căng thẳng. Một tư thế ngồi, tay cầm tràng hạt, tay chống trán, đầu tựa vào tòa nghe chăm chú. Có khi cơ thể mệt mỏi ê ẩm mà không được nghĩ ngơi.

Là tác vụ đòi hỏi nhất bởi lẽ, trước khi ngồi tòa, Linh mục đã phải chuẩn bị bằng cách trang bị kiến thức tương hợp; trong khi giải tội, linh mục phải vận dụng khôn ngoan để phân định, cương nghị để khuyên can, nhân từ để xá giải; sau khi đã ra khỏi tòa hòa giải, Linh mục phải trung tín với ấn tòa giải tội. Nếu điều Linh mục phải nhớ trong ngày là sách nguyện, thì điều Linh mục phải quên chính là tội người ta xưng.

 Là một tác vụ cao đẹp nhất và an ủi nhất bởi lẽ, qua trung gian Linh mục, hối nhân gặp được trái tim đầy thương xót của Thiên Chúa. Và đó là hạnh phúc. Người ta bảo trên đời có ba bóng dáng hạnh phúc tinh ròng: mẹ đem con đi rửa tội về, người lành tạ thế và hối nhân từ tòa giải tội bước ra.

Nếu như hạnh phúc của người truyền giáo là có một người được rửa tội thì hạnh phúc của Linh mục giải tội là có một tội nhân được giao hòa với Chúa, được tìm lại ơn thứ tha và nguồn bình an, niềm vui tâm hồn. Hối nhân càng nhiều tội lỗi, càng lâu năm xa cách nguội lạnh mà được ơn trở lại thì Linh mục càng dâng đầy hạnh phúc. Có những hối nhân đã khóc nức nở khi sám hối về tội lỗi của mình và nhận ra lòng thương xót của Chúa. Họ quỳ đó, khóc chân thành với những dòng lệ ăn năn. Nước mắt hạnh phúc của người con trở về với Cha nhân từ. Những nổi đau thể xác, tâm hồn được bộc bạch. Có những người mẹ, người vợ thổ lộ tâm sự của gia đình, tâm tư không thể nói cùng ai chỉ trừ Cha giải tội. Thanh niên nam nữ với những thao thức tuổi trẻ xin linh hướng. Thiếu nhi đón nhận lời thăm hỏi khuyên bảo.

Có nhiều tâm hồn trong sáng, thánh thiện đến tòa giải tội đã làm gia tăng lòng đạo đức của linh mục.

Thi hành tác vụ cao đẹp ấy, Linh mục là người diễn dịch lòng yêu thương nhân từ của Thiên Chúa (Thư Thứ Năm Tuần Thánh 2002, số 3).

Để có thể thi hành tác vụ của lòng thương một cách hữu hiệu, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khuyên Linh mục phải sống khả tín và khả ái.

-            Khả tín: “Thật vậy, dù ơn Chúa ban có thể hoàn tất công trình cứu rỗi qua những thừa tác viên bất xứng, nhưng thường tình Thiên Chúa muốn tỏ ra những việc lạ lùng của Ngài qua những vị sẵn sàng đi theo sự thúc giục và hướng dẫn của Thánh Thần hơn, bằng kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và bằng một đời sống thánh thiện” (PO, 12)

-            Khả ái: “Người ta thường muốn được nhận biết và chăm sóc, vì chính trong tư thế gần gũi này mà họ có thể cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa một cách mạnh mẽ hơn” (Thư TNTT số 9). Linh mục phải làm hết cách để lòng thương xót của Thiên Chúa được sáng lên giữa những cử hành“Nghiêm nhặt quá làm cho dân chúng bị dằn vặt tháo lui. Dễ dãi qúa gây hiểu lầm và ngộ nhận. Đấng giải tội rập theo gương Chúa Chiên lành mà tha tội phải diễn đạt đúng mực thước lòng đã sẵn có và sự tha thứ hầu mang lại an bình và chữa lành” (Thư TNTT số 8).

Nhân ngày lễ kính thánh Gioan Maria Vianney (ngày 4 tháng 8), đọc lại nét tiêu biểu cuộc đời thánh nhân nơi tòa giải tội. Như người ta đã nói: phép lạ lớn nhất của cha Vianney thánh thiện là tòa giải tội của ngài bị bao vây suốt ngày đêm. Cũng có thể nói cách khác: phép lạ tiêu biểu của ngài là sự hoán cải của những người tội lỗi. Các Linh mục noi gương cha thánh thực thi sứ vụ khó khăn và cao đẹp này.Mỗi lần ban ơn xá giải là Linh mục thấy mình được cộng hưởng trên đường nên thánh.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Suy niệm Lễ Thánh Gia: Tình Yêu Gia Đình

Lm. Hữu An

Gia đình là tổ ấm yêu thương cho từng thành viên. Trước ngưỡng cửa của đời sống hôn nhân gia đình, ai cũng muốn cho mình có được một cuộc tình êm xuôi, một gia đình hạnh phúc, trên thuận dưới hoà, con cái hiếu thảo, vợ chồng yêu thương nhau. Hôn nhân gia đình là một quyết định và là bước ngoặt lớn trong cuộc sống con người, nên người ta đặt vào đó cả niềm hy vọng và sự mong đợi lớn lao.

Đời sống hôn nhân gia đình có một ơn gọi và sứ mạng cao quý trong Giáo hội và xã hội.

Chúa Giêsu đã sinh ra và lớn lên trong khung cảnh của một gia đình. Qua cuộc sống của Thánh Gia, “chúng ta hiểu cách sống trong gia đình. Nadarét nhắc chúng ta về ý nghĩa của gia đình, về sự hiệp thông tình yêu, vẻ đẹp đơn sơ và giản dị, tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của gia đình; Nadarét làm cho chúng ta thấy gia đình là một trường học ngọt ngào và không thể thay thế, dạy cho ta biết thế nào là chức năng tự nhiên của gia đình đối với trật tự xã hội” (ĐTC Phaolô VI, Diễn từ tại Nadarét). Muốn có những con người tốt và những Kitô hữu thánh, gia đình phải tốt và thánh thiện; muốn đổi mới đất nước, xã hội và Hội Thánh, phải bắt đầu từ gia đình. “Gia đình là con đường của Hội Thánh” (Thánh Gioan Phaolô II, Thư gửi các gia đình, số 2).

Lễ Thánh Gia, Giáo hội mời gọi mỗi gia đình Công giáo hướng về gia đình Nadarét. Không phải lúc nào cũng màu hồng mà Tin Mừng cho thấy Thánh Gia đã trải qua những lận đận lao đao vất vả giữa bao hiểm nguy khó khăn thử thách trăm bề. Thánh Giuse khéo léo chống chèo vượt qua tất cả và cùng với Mẹ Maria – Chúa Giêsu xây dựng mái ấm hạnh phúc.

Thánh Gia là trường dạy cầu nguyện, dạy giáo lý, dạy lao động, dạy yêu thương đến hiến mình cho người khác, chuẩn bị cho Chúa Giêsu gánh vác sứ vụ Chúa Cha trao phó sau này.Chúa Giêsu đã vâng phục kỷ luật trường này, chấp nhận những vị thầy đầu tiên là cha mẹ và Người đã lớn lên chững chạc, trưởng thành, quân bình thể xác trí tuệ, tâm linh. Chúa đã sống học tập rèn luyện 30 năm để rao giảng 3 năm. Một năm Chúa Giêsu giảng đạo thì 10 năm Người ở với gia đình. Chúa ưu tiên và đề cao tầm quan trọng của gia đình biết bao.

1. Mái ấm gia đình

Có nhà hoạ sĩ kia cứ mãi mơ ước trong đời mình sẽ vẽ được một bức tranh đẹp nhất thế giới. Nhưng anh ta không biết phải vẽ thứ gì để bức tranh sẽ có được hình ảnh, màu sắc, và nội dung sâu đậm đáng trở thành bức tranh tuyệt vời nhất trần gian.

Chàng đã tìm hỏi với một linh mục về điều gì đẹp và ý nghĩa nhất. Vị linh mục trả lời ngay: "Niềm tin. Niềm tin là số một, niềm tin sẽ nâng cao giá trị con người. Niềm tin sẽ chữa lành và biến đổi mọi sự nên tuyệt vời."

Chàng hoạ sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự với một cô gái đang bước lên xe hoa về nhà chồng. Cô gái trả lời: "Trên thế gian này không có gì đẹp bằng tình yêu. Tình yêu là hơi thở, là sức sống, là hạnh phúc, là tất cả. Tình yêu biến cay đắng thành ngọt ngào, đưa tiếng cười vào nơi than khóc, đổi nghèo hèn tầm thường thành phú quí cao sang. Tình yêu thật tuyệt vời."

Cuối cùng người hoạ sĩ gặp một anh thương binh vừa trở về từ tiền phương. Anh lính đã trả lời: "Hoà bình là điều đẹp nhất trần gian. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có đổ nát, bất hạnh, khổ đau. Ở đâu có hoà bình, ở đó có cái đẹp."

Ba câu nói của ba con người - vị linh mục, cô gái sắp lấy chồng và anh thương binh trẻ - đã làm cho người hoạ sĩ phân vân: không biết phải làm thế nào để trên bức tranh của mình có thể diễn tả cùng một lúc niềm tin, tình yêu, và hoà bình.

Đang suy nghĩ anh về đến nhà lúc nào không hay. Mấy đứa con anh ùa ra đón bố. Anh nhận thấy niềm tin trong ánh mắt của các con. Anh cũng cảm được tình yêu trong chiếc hôn chân thành của người vợ. Niềm tin của con cái và tình yêu của người vợ làm cho tâm hồn anh ta ấm áp và an bình lạ thường. Thế rồi một ý tưởng chợt loé lên trong đầu. Anh vội ngồi xuống khởi công vẽ tranh, và sau khi hoàn thành tác phẩm đẹp nhất thế gian, anh đã đặt tên cho nó: "Mái Ấm Gia Đình".

Mái ấm gia đình chính là hình ảnh xinh đẹp và sống động nhất mà người ta có thể vẽ được về Nước Trời hay Thiên đàng ngay trên thế gian này. Mái ấm gia đình cũng sẽ là lời chứng tá hùng hồn nhất cho sự hiện diện của Đức Giêsu giữa dương gian.

2. Hạnh phúc gia đình

Theo Đức cha Bùi Tuần, có ba yếu tố làm nên hạnh phúc gia đình: Quy tụ gia đình; Lễ giáo gia đình; và Tình nghĩa gia đình.

- Quy tụ gia đình 

Gia đình là nơi con người được “ở với nhau”. Các môn đệ đầu tiên không tìm đến với Chúa Giêsu như một vị thầy dạy học, nhưng như “Đấng ở với” (Ga 1,38). Chúa đã mời gọi các ông, trước tiên không phải là học một bài học, mà là xem chỗ Người ở và ở lại với Người (Ga 1,39). Cũng vậy các thành viên trong gia đình hiện diện cho nhau với toàn vẹn cái tôi của mình, được chấp nhận và chấp nhận người khác với toàn vẹn cái tôi ấy. Dưới ánh sáng đức tin Kitô giáo, gia đình là nơi chốn bình an cho tâm hồn mình; “Đấng Tạo Hoá đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người nên gia đình trở thành ‘tế bào đầu tiên và sống động của xã hội’ (x.Tông huấn gia đình số 42).

Quy tụ là họp mặt, là gặp nhau, là nói chuyện với nhau, là gần gũi nhau, là chia sẻ với nhau. Quy tụ gia đình làm nên một bầu khí ấm áp thiêng liêng. Có thể nói, mọi quy tụ gia đình, dù thường ngày, dù bất thường, đều mang bầu khí đạo đức, có ánh sáng của đức tin và có hương thơm của đức ái.Quy tụ gia đình như thế sẽ có Chúa hiện diện. Nhờ có Chúa hiện diện, gia đình sẽ biết phân định điều gì là tốt cần làm, điều gì là xấu cần tránh, nhất là trong tình hình hiện nay tốt xấu lẫn lộn một cách quá phức tạp. 

- Lễ giáo gia đình  

Lễ giáo là nghi lễ và giáo dục gia đình. Gia đình là một cộng đoàn, một đời sống chung của những con người. Họ có những dây liên đới với nhau. Nên cần phải có những hình thức thể hiện những dây liên đới đó. Do vậy, mà phải được giáo dục, để có được lối sống liên đới tốt đẹp, trong trật tự. Liên đới thấp nhất thuộc nhân bản của cộng đoàn là biết diễn tả sự gần gũi nhau và có trách nhiệm đối với nhau. Biết siêng năng và lương thiện làm hết sức mình, để góp phần vào việc xây dựng hạnh phúc chung gia đình, đó là nét đẹp căn bản của lễ giáo gia đình.Biết chào kính, chào thăm, chào hỏi, với nhiều bình thức, là một nghi lễ đơn sơ chứng tỏ con người có giáo dục gia đình. Biết cảm ơn, biết xin lỗi cũng là những điều lễ phép thô sơ của con người có giáo dục trong cộng đoàn. Biết kính trên nhường dưới cũng là một biểu hiện lễ phép của nền giáo dục liên đới. Biết sống chân thành và trung thành trong các liên đới gia đình cũng là một giá trị của con người có giáo dục gia đình. 

“Các bạn trẻ hãy suy nghĩ kỹ càng và chọn người bạn đờidựa trên tiêu chuẩn tình yêu và các đức tính tốt. Tiền bạc, sắc dục và địa vị xã hội không làm nên hạnh phúc gia đình ; trái lại, nếu không biết sống theo các nguyên tắc đạo đức, rất nhiều khi chính những điều ấy lại trở thành nguy cơ phá hoại hạnh phúc. Cha mẹ hãy hướng dẫn cho con cái biết chọn lựa cho đúng đắn, và con cái cần lắng nghe kinh nghiệm khôn ngoan của cha mẹ. Tuy nhiên cha mẹ không có quyền ngăn cản hay ép buộc con cái theo ý mình. Tự do kết hôn là quyền cơ bản của con cái, và con cái phải chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình”. (x.Thư Mục Vụ Giáng Sinh 2016, Đức Cha Giuse Nguyễn Năng)  

- Tình nghĩa gia đình

Tình nghĩa gia đình cần được vun trồng, cần được chăm sóc, cần được xây dựng với những tình tiết nhỏ. Người tình nghĩa đích thực là người biết xót thương như người Samari đó. Chúng ta chỉ có được một cách đích thực bằng tấm lòng bén nhạy và giàu tình xót thương với những tình tiết nhỏ, do trực giác đạo đức hơn là do lý luận.

3. Tình yêu gia đình

“Hôn nhân gia đình vốn là hình ảnh tiêu biểu của tình yêu. Những áp lực của đời sống xã hội đang làm rúng động tận nền tảng của đời sống gia đình, làm biến dạng ý nghĩa chân thực của tình yêu. Không kể những đổ vỡ trong đời sống gia đình, trên thế giới ngày nay còn xuất hiện và đang lây lan những mẫu gia đình kỳ lạ, gia đình đồng tính, gia đình tạm thời, gia đình ba hoặc bốn vợ/chồng…Kitô giáo không chấp nhận những mẫu gia đình kỳ lạ ấy, không phải chỉ chúng khác lạ, nhưng vì chúng phá vỡ ý nghĩa đích thực của tình yêu”. (x. Gia đình kitô hữu trước những thách đố thời đại, Nội san chia sẻ số 76).

Ngày nay, trong xã hội tiêu thụ, vì bận rộn với công việc kiếm tiền, một số cha mẹ không gần gũi, không dành thời giờ cho con cái. Vì thế, chúng cảm thấy bị bỏ rơi, thiếu tình thương. Theo mức độ, con cái sẽ lâm bệnh chán nãn, buồn phiền, không thích học nữa, lỳ lợm, xấc láo, ích kỷ, vô cảm, đua đòi thiếu suy nghĩ.Một số phụ huynh chỉ mong con mình học giỏi, thành đạt, kiếm được nhiều tiền. Họ ít quan tâm đến đời sống đạo đức của con, không lo giáo dục đức tin cho con. Có cha mẹ quan niệm, lo cho con được Xưng Tội, Rước Lễ, Thêm Sức là đủ rồi; vì thế có những em sau khi Thêm Sức là bỏ nhà thờ. Sự đa dạng của vi tính và internet quá hấp dẫn lôi kéo con cái chúng ta ra khỏi thực tế và lao vào thế giới ảo, lối sống ảo. Lối sống hiện đại cũng dễ đánh mất bầu khí mái ấm. Mỗi người có một phòng riêng, một thế giới riêng nên mọi người ít quan tâm đến nhau, ít giúp đỡ nhau.

Các bậc phụ huynh xin hãy nhớ, sức mạnh của sự quy tụ các thành viên trong tình nghĩa và với lễ giáo gia phong sẽ làm thànhmái ấmgia đình cao quý. Chính đức tin và tình yêu từ mái ấm sẽ làm trổ sinh hoa trái cho đời sống gia đình.Quả vậy, chính trong gia đình mà mỗi người lớn lên không những về thể lý, mà cả về tâm lý và đạo đức. Gia đình là ngôi trường đầu tiên dạy những giá trị nhân bản. Chính từ trong gia đình mà mỗi người học được những thói quen và lối sống tốt để từ đó định hình tính tình của mình. Gia đình là nơi mỗi người tập sống mối liên hệ với người khác, tập lắng nghe và tôn trọng tha nhân, tập hy sinh quên mình để sống vì người khác, quảng đại và tha thứ. Nếu lớn lên từ trong môi trường như thế, khi bước vào đời sống xã hội, người trẻ sẽ sống vị tha, hòa hợp và bao dung nhân hậu, thay cho lối sống ích kỷ, hưởng thụ và tìm cách thống trị người khác. Từ trong gia đình, mỗi người tập sống theo lương tâm ngay thẳng, theo sự thật, công bằng, liêm khiết, tinh thần trách nhiệm, biết làm chủ bản thân và khôn ngoan chọn lựa để sống theo nguyên tắc đạo đức, chứ không gian dối lừa đảo, không nhắm mắt chạy theo đồng tiền và khoái lạc. Cũng từ trong gia đình, con cái được lớn lên trong đức tin qua sự dạy dỗ và đời sống chứng nhân của cha mẹ. Mọi người trong gia đình cùng cầu nguyện chung, cùng tìm thánh ý Chúa và nâng đỡ nhau trong những giờ phút quan trọng, đó chính là bài học đức tin sống động và hữu hiệu” (x.Thư Mục Vụ Giáng Sinh 2016, Đức Cha Giuse Nguyễn Năng). 

Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Niềm vui của tình yêu trong đời sống của các gia đình cũng là niềm vui của Hội Thánh” (Tông huấn Niềm vui tình yêu, số 1).

Theo gương Thánh Gia, mỗi gia đình hãy nỗ lực thực thi lời mời gọi của HĐGMVN : “Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Công Giáo”.Hạnh phúc gia đình khởi đi từ tình yêu, niềm tin và hoà bình. Gia đình sẽ là “vườn ươm” các nhân đức, là “nơi đào tạo” nhân bản và tâm linh cho con cái, để trở thành một Hội Thánh tại gia.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Lược sử lễ kính Đức Mẹ Phù hộ các Giáo hữu 24/05

Lòng tôn kính Đức Maria dưới tước hiệu “Đức Mẹ Phù hộ các giáo hữu” đã có từ lâu trong Giáo hội. Tuy nhiên, Giáo hội chính thức thiết lập lễ kính Đức Mẹ Phù hộ trong phụng vụ vào ngày 24 tháng Năm, bắt đầu từ năm 1816, hơn 200 năm trước đây.

Vào những năm đầu của thế kỷ 19, Hoàng đế Napoleon Bonaparte đã bắt giam Đức Thánh Cha Piô VI và quản thúc Ngài trong tù. Ngài chết ở đó. Sau đó, Đức Thánh Cha Piô VII lên kế vị và cũng bị Napoleon tống giam. Từ năm 1809 đến năm 1812, tức trong suốt gần 5 năm trời, Đức Thánh Cha bị giam lỏng ở thành phố Savona, nước Ý. Ngài liên tục khấn xin Đức Mẹ ‘Đấng Phù hộ các giáo hữu’ che chở và giải cứu Ngài. Tại thành phố này, Ngài đến đặt một triều thiên trên tượng ‘Đức Mẹ của lòng Thương xót’ và xin Mẹ giúp Ngài được giải thoát.

Đến năm 1812, Ngài bị đưa sang Paris, nước Pháp và tiếp tục bị giam giữ tại Fontainbleau. Trong trại giam, Đức Thánh Cha bị hoàng đế Napoleon đối xử rất tồi tệ và vị tướng quân cao ngạo này đã dùng nhiều hình thức để lăng nhục Ngài. Ngài không thất vọng, nhưng vẫn tiếp tục tin tưởng vào sự phù trợ của Đức Maria.

Chúa quan phòng đã an bài thật nhiệm mầu. Đến năm 1814, quân đội của Napoleon liên tục bị thất trận và quyền lực của ông bắt đầu suy yếu. Dưới áp lực của dân chúng, Napoleon bắt buộc phải phóng thích Đức Thánh Cha để Ngài trở về Rôma.

Trên con đường trở về điện Vatican, Ngài dừng chân tại Ancona và đến trước tượng “Nữ vương các thánh”, dâng lên Mẹ một cây phủ việt bằng vàng để tôn vinh quyền lực của Đức Maria, đồng thời diễn bày lòng tri ân Mẹ vì đã giải cứu Ngài. Vì thế, chúng ta thấy trên tượng Đức Mẹ Phù hộ có mũ triều thiên và một phủ việt cầm trên tay.

Dân chúng rất vui mừng đón chào Đức Thánh Cha trở về Rôma. Đi đến đâu, Ngài luôn được cả đám đông khổng lồ vây kín, diễn bày tâm tình hoan vui cũng như lòng biết ơn đối với Đức Mẹ. Ngày 24 tháng Năm năm đó, Ngài chính thức tiến vào Vatican trong sự nô nức cuồng nhiệt của đông đảo dân chúng.

Để tri ân Người đã giải cứu mình, Đức Thánh Cha Piô VII chính thức thiết lập phụng vụ mừng kính Đức Mẹ Phù hộ các giáo hữu vào ngày 24 tháng 05 hằng năm, đồng thời cũng ghi nhớ ngày Ngài được Đức Mẹ giải thoát và trở về Rôma.

Đây cũng là thời điểm Don Bosco được sinh ra và lớn lên. Ngài luôn cổ xúy lòng yêu mến Đức Mẹ dưới tước hiệu trên. Ngài cũng hằng ghi nhớ sâu đậm giấc mơ 9 tuổi với hình ảnh một bà giáo là chính Mẹ Maria, người đã luôn đồng hành và dẫn dắt Ngài trong suốt cuộc đời. Cha Thánh cũng kể lại một giấc mơ nổi tiếng về con thuyền Giáo hội lênh đênh giữa biển khơi đầy sóng gió. Con thuyền đó đã được gìn giữ an toàn khi được neo chặt vào 2 cột trụ. Cột thứ nhất có Thánh Thể ở trên với hàng chữ ‘Salus Credentium’ (Ơn cứu độ của những người tin) và trên cột bên kia có Đức Maria với hàng chữ ‘Auxilium Christianorum’ (Sự phù trợ của các Kitô hữu). Với những trải nghiệm sâu xa trong cuộc sống, Don Bosco đã nói với các con cái mình : “Cứ tin tưởng vào Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria phù hộ, chúng con sẽ thấy phép lạ là gì”. Don Bosco cũng thành lập một dòng tu nam có tên là Tu hội Thánh Phanxicô Salê (SDB) và một dòng tu nữ có tên là Dòng Con Đức Mẹ Phù hộ (FMA). Tháng 12 năm 1862, Cha Thánh quyết định xây dựng một Vương cung Thánh đường dâng kính Mẹ Phù hộ ở Tôrinô. Sáu năm sau, ngôi Thánh đường vĩ đại này đã hoàn tất. Ngày 21 tháng 05 năm 1868, Đức Tổng Giám mục giáo phận Tôrinô đã đến thánh hiến Thánh đường này. Don Bosco đã nói với các con cái mình: “Đức Trinh nữ rất thánh, đấng mà chúng ta tôn vinh dưới tước hiệu Mẹ Phù hộ đã ra tay can thiệp để bảo vệ đức tin các tín hữu trong những thời điểm khó khăn nhất như tại vịnh Lepanto, tại Vienna, tại Savone hay tại Rôma. Xin Mẹ luôn là Mẹ của Giáo hội, là Mẹ của Tu hội chúng ta, là Đấng bảo trợ tất cả các công cuộc mà chúng ta thực hiện để phục vụ giới trẻ”.

Ngày nay, lòng sùng kính Đức Mẹ với tước hiệu ‘Phù hộ các giáo hữu’ đã lan tỏa khắp nơi trong Giáo hội Công giáo. Ngay ở Việt Nam, tại La vang hay tại Trà kiệu, Đức Mẹ cũng đã ra tay can thiệp để che chở giáo dân, và khi hiện ra tại những nơi này, Đức Mẹ cũng mang hình dáng của “Đấng Phù trợ các tín hữu”. Xin Mẹ bảo toàn đức tin nơi mỗi người chúng ta.

 

Văn Hào SDB lược tóm

Lễ Thánh Gia

Văn Hào, SDB

Gia đình là trường học đầu tiên dạy ta lớn khôn thành người

Có một triết gia nọ đã nhận định: “Cuộc sống con người chúng ta được đan dệt bằng biết bao huyền nhiệm. Có những cái đơn sơ nhất lại trở thành những điều khó hiểu nhất. Có những sự việc xem ra rất tầm thường lại hàm ngậm những thực tại quá cao cả và phi thường”. Nhận xét đó rất đúng với Thánh gia thất mà hôm nay Giáo hội mừng kính.

Cộng đoàn bé nhỏ này có ba thành viên: Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse. Cuộc sống gia đình ấy rất đơn sơ và bình dị tại miền quê Zazareth, nhưng đó lại là một Thiên đàng thu nhỏ ở trần gian để chúng ta cung chiêm và học hỏi.

Ba khuôn mặt nhỏ diễn bày ba bài học lớn

Trước hết chúng ta nhìn vào Đức Giêsu, thành viên nhỏ nhất nhưng cũng là nhân vật lớn nhất mà cả gia đình Nazareth quy chiếu vào. Nếu không am hiểu Kinh thánh, chúng ta dễ kết án Chúa Giêsu như một cậu bé thích nổi loạn và toan tính thoát ly. Một đứa trẻ mới 12 tuổi đầu đã trả lời bố mẹ có vẻ hơi ‘xấc’: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49). Đứa bé đó sau này lớn lên lại tuyên bố một điều xem ra có vẻ còn ngang ngược hơn nữa: “Ai là mẹ tôi và anh em tôi. Đó là những ai thi hành ý của Cha tôi”. Rồi Đức Giêsu chỉ vào các môn đệ và công khai nói trước mặt mọi người: “Đây là mẹ và anh em tôi”. Đứa trẻ này mang dáng dấp của một quý tử dường như muốn nổi loạn và đang làm cuộc cách mạng để ly thoát khỏi sự cương tỏa từ nơi gia đình. Nhưng sự thật thì hoàn toàn không phải như vậy. Chúng ta phải có cái nhìn toàn diện để có thể khám phá ra đứa trẻ ấy là ai và tại sao lại có lối hành xử xem ra khác thường như thế. Chúng ta cũng phải truy tầm lý do tại sao đứa trẻ khó hiểu ấy lại sống giữa một gia đình nhân loại như chúng ta và sống ẩn dật như thế để làm gì. Đây là một mầu nhiệm khó hiểu. Rất khó hiểu ở chỗ, một Thiên Chúa cao cả đã mang lấy kiếp người hèn hạ. Một Đấng Toàn năng cả vũ trụ chứa không nổi lại đến ẩn náu trong một gia đình bé xíu nơi xóm nghèo miền quê Nazareth. Cái tầm thường nhất lại tiềm ẩn những điều phi thường nhất. Điều xem ra quá bé nhỏ lại mang chở những chân trời vĩ đại mà cả vũ trụ không kham chứa nổi.

Thứ đến, chúng ta hãy nhìn vào Đức Maria, một thôn nữ quê mùa chất phác và cũng là một bà mẹ quê đơn sơ dung dị. Tin mừng Luca thuật lại quãng đời thơ ấu của Chúa Giêsu, khởi đầu với biến cố dâng Chúa vào đền thờ và kết thúc với sự kiện hai ông bà lạc mất con cũng tại đền thờ Giêrusalem. Cả hai biến cố này đều mang đậm nét bi thương nơi tâm hồn Đức Maria. Lời cụ già Simêon như một mũi gươm đâm thấu tâm hồn Mẹ. Có người mẹ nào lại không xót xa khi lạc mất người con trai yêu dấu? Đức Maria lúc đó không hiểu, hay chính xác hơn là chưa hiểu. Nhưng Thánh Luca đã tóm kết mọi biến cố xảy đến với Đức Maria bằng một thái độ nội tâm căn bản nơi Ngài: “Mẹ Người hằng ghi nhớ những điều ấy trong lòng”(Lc 2,51a). Bản tính nhân loại nơi Mẹ đã mở toang cho ân sủng chiếm ngự. Tự nhiên kết hợp với siêu nhiên. Cái tầm thường nhất của cuộc sống bình lặng dân dã đã tiềm ẩn sự phi thường cao cả để khai mở một chân trời vĩ đại và rất nhiệm mầu. Đức Maria là ‘Thầy dạy đức tin’ qua thái độ chiêm niệm này.

Cuối cùng, chúng ta nhìn vào gương mẫu của Thánh Giuse, người gia trưởng hoàn hảo. Đây là con người mà Thánh sử Matthêu đã tóm kết với tước hiệu ‘Người Công chính’. Thánh Giuse ít nói, nhưng chính xác hơn trong cả bốn sách Tin mừng, chúng ta không thấy Thánh Giuse hé miệng thốt ra một câu nào. Thánh Giuse ít nói không phải vì Ngài là một con người bị trầm cảm, hoặc ít giao tế xã hội. Cũng chẳng phải Ngài là một con người lì lợm, có bị đánh đến chết cũng không hé răng. Hoàn toàn không phải thế. Thánh Giuse thinh lặng để diễn bày một tư thế nội tâm sâu xa, và đó là thái độ chúng ta cần phải học hỏi và sao chép. Thánh Giuse đã thinh lặng để có thể nghe được tiếng Chúa. Trong tĩnh lặng của đêm khuya, Giuse đã nghe tiếng sứ thần nói bên tai: “ Đừng ngại đón Maria về nhà”. Cũng trong đêm khuya thanh vắng, Giuse đã nghe Chúa truyền lệnh: “Hãy dậy mau, đem con trẻ Giêsu và Mẹ ngài trốn sang Ai Cập”. Samuel năm xưa cũng đã nghe được tiếng Chúa gọi giữa đêm khuya thanh vắng khi cậu bé ngủ trong đền thờ với thầy cả Hêli. Thiên Chúa vẫn luôn nói với chúng ta qua từng mỗi biến cố, nhưng chỉ khi nào chúng ta biết trở về trong tĩnh lặng của cõi lòng giữa đêm tối, chúng ta mới có thể nghe được tiếng nói của Ngài. Thánh Giuse đã làm được điều đó. Thái độ thinh lặng nội tâm nơi Ngài trở nên chuẩn mẫu để chúng ta noi theo. Trong xã hội Do Thái khi xưa, người bố trong gia đình là nhân vật lớn nhất. Vai trò của ông bố vẫn được xem như là người đại diện cho Thiên Chúa. Người cha chủ tọa các buổi cầu nguyện trong gia đình. Ông chúc lành cho con cái trước khi đi ngủ. Những đứa trẻ Do thái luôn tuân phục cha mẹ, xem ông bố như là họa ảnh của Thiên Chúa trong gia đình mình. Thánh Giuse là gia trưởng, là nhân vật lớn nhất tại Thánh gia, đồng thời Ngài cũng trở nên người nhỏ nhất, luôn thinh lặng xắn tay áo lên, cột áo choàng lại để ra tay phục vụ. Vì vậy phụng vụ Giáo hội vẫn sánh ví Thánh Giuse như một người ‘tôi tớ trung thành’. Đó là hình mẫu người tôi tớ khiêm hạ luôn sẵn sàng trong phục vụ để chúng ta dõi bước.

Đây là ba khuôn mặt lớn trong một gia đình nhỏ, nhưng lại diễn bày ba bài học quan trọng để chúng ta suy nghiệm và học hỏi.

Nhìn vào đời sống gia đình hiện nay

Nhà thơ Trần Thu Miên đã nghiền ngẫm và tóm kết nếp sống gia đình của ông với bốn câu thơ:

‘Đêm nằm nghe vợ thở dài,

Chuyện nhà tan tác chuyện ngoài tả tơi.

Sáng mai ngoác miệng nhìn đời,

Lo cơm lo áo rã rời xác thân’.

Bức tranh thực mô tả cảnh sống các gia đình, chắc chắn mỗi người chúng ta đều đã trải nghiệm và thấu rõ. Cuộc sống gia đình hôm nay được đan dệt với bao hạnh phúc lẫn cay đắng, có khi ngập tràn niềm vui, có khi lại giống như một thứ hỏa ngục khủng khiếp với những bầm dập và tê tái. Văn hào Léon Tolstoi đã viết: “ Các gia đình hạnh phúc thì giống nhau, nhưng các gia đình bất hạnh lại rất khác nhau. Khác nhau về nền tảng, khác nhau về lối sống, cũng như khác nhau về cách ứng xử.” Điểm giống nhau của hạnh phúc là mọi thành viên trong gia đình luôn lấy tình yêu làm quy chuẩn. Còn điểm khác nhau thì rất đa dạng và phức tạp.

Chúng ta được mời gọi nhìn vào gương mẫu nơi Thánh gia thất. Thánh Luca đã tóm kết mẫu gương đó bằng một câu đơn giản: “Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ trở về Nazareth và hằng vâng phục các Ngài. Riêng Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2, 51). Đây là chuẩn mẫu cho các gia đình của chúng ta. Một người con có vẻ như ‘muốn nổi loạn’ lại trở về quê nhà, sống ngoan thuần giữa một gia đình mộc mạc và hằng vâng phục cha mẹ. Một người cha và một người mẹ vùng quê tuy thất học và nghèo nàn nhưng đã luôn chu toàn bổn phận với một con tim đong đầy yêu thương, để cho đứa con được lớn lên ‘ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta’ (Lc 2, 52). Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 trong một thông điệp ngày quốc tế thiếu nhi đã viết: “Những gì đã xảy ra cho các trẻ em Do Thái năm xưa bị Hêrôđê giết chết, cũng đang xảy ra cho các trẻ em ngày hôm nay. Các người làm cha làm mẹ hãy bắt chước Thánh Giuse và Đức Maria. Hãy cứu con cái của chúng ta khỏi cái chết đang cận kề, chết vì chiến tranh, chết vì hận thù, nhất là chết dần chết mòn vì nghèo đói và dốt nát.”

Kết luận

Trong một nghĩa trang chôn các thai nhi bên Nhật, người ta treo rất nhiều tấm bảng trên các ngôi mộ trẻ thơ với hàng chữ ‘Con hãy tha thứ cho mẹ’. Những đứa trẻ đã bị giết một cách tàn nhẫn ngay từ trong bụng mẹ, không phải do bạo lực hay chiến tranh. Chính những người cha người mẹ ích kỷ và ác độc đã nhẫn tâm giết chết con của mình. Việt Nam là một trong số những quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới. Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta đã nói: “Một người mẹ nhẫn tâm giết chết đứa con thì không một tội ác nào mà họ lại không dám làm”. Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ cho những tội ác của con người, trong đó có cả chính chúng ta, những người cha người mẹ đã lỡ giết chết con cái mình qua nhiều dạng thức khác nhau. Chúng ta hãy nhìn lên gương mẫu của Thánh gia thất để học hỏi về đời sống gia đình, bởi vì gia đình của chúng ta phải trở nên ‘cái nôi nuôi dưỡng tình yêu’, và gia đình cũng phải là ‘trường học đầu tiên dạy ta lớn khôn thành người’ (tư tưởng của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2). Trường học này được phác vẽ nơi Thánh gia thất mà Giáo hội mừng kính hôm nay.

Văn Hào, SDB 

THẦY Ở ĐÂU, CON Ở ĐÓ

Trọng kính Đức Cha, Cha Giám Tỉnh, quý Cha Quản Hạt, quý Cha đồng tế, quý Tu sĩ nam nữ, anh em hội viên Salêdiêng, các thành viên gia đình Salêdiêng, anh chị em Cộng tác viên, anh chị em Cựu học viên Don Bosco Gò vấp và Thủ Đức, quý Thân nhân, Ân nhân, Bạn hữu và Bà con Giáo dân mà Cha Cố Isidore đã từng phục vụ.

Đứng trước linh cửu của Cha Cố Isidoro Lê Hướng, trong giây phút rất thiêng liêng này, với Thánh lễ cuối cùng trên dương thế mà thân xác Cha Cố Isidora nằm đây, để cùng hiện diện với chúng ta,  hẳn không ai trong chúng ta lại không có chút tâm tư suy nghĩ, một niềm thương nhớ, một chút luyến tiếc, một chút ngậm ngùi. Các tâm tình đó hẳn là quý giá, chắc cũng là do Chúa có đặt vào lòng chúng ta trong mối tương quan giữa tình người với nhau, tình cha con, tình Thầy trò với nhau.

Nhưng Lời Chúa phụng vụ Lễ an táng hôm nay soi sáng và mời gọi chúng ta hãy vượt lên trên tình nhân loại đó, để đi vào tâm tình của những người con cái Chúa, cũng như của chính Cha Cố, những con người đã tiếp nhận Lời mạc khải của Chúa và mong muốn uốn nắn cuộc đời mình theo Lời Chúa: Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thầy; Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Rồi Thầy lại đến và đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó. (Ga 1,1-14)

1. Lòng các con đừng xao xuyến

Thực vậy, Tin Mừng phụng vụ an táng hôm nay đã được trích từ Tin Mừng Thánh Gioan, đoạn khởi đầu của chương 14, được đặt tên là Sự Ra Đi, Sự ra đi của Chúa Ki tô [Harington, tr.391]. Các môn đệ đã cùng chung sống chia vui sẻ buồn với Đức Giêsu, đã được ngài loan báo cho biết ngài sẽ bị nộp vào tay người đời, bị giết chết. Giờ đã đến! Họ đã đầu tư cả cuộc đời của mình để đi theo Chúa Giêsu, tương lai rực rỡ của Vương Quốc Thiên Chúa mà mình hy vọng đâu chưa thấy, nhưng kết cục trước mắt là gặp sự thù ghét của đồng bào mình, và vận mệnh của Đức Giêsu sẽ đi tới là cái chết bi thương. Lòng các môn đệ sao lại tránh khỏi những âu lo, những xao xuyến, những bồi hồi lo lắng, mà tiếc thay, lo cho Thầy Chí Thánh thì ít, mà cho chính bản thân mình thì nhiều.

Chính trong sự hỗn độn của tâm cảm con người như thế, mù mờ trước một tương lai đày đe dọa như thế mà Lời Thầy Chí Thánh đi vào tâm khảm của các môn đệ yêu dấu. Các môn đệ đã cảm nhận giá trị của từng lời từng chữ đó, chứng thực sự thật của những lời ấy. Và chúng sẽ mãi mãi ở lại cho biết bao nhiêu thế hệ môn đệ của Chúa Giêsu sau này: Lòng các con đừng xao xuyến! Lời đó thật an ủi biết bao, khích lệ đến chừng nào! Thì ra Thầy Chí Thánh biết hết, rõ hết, hiểu hết. Ngài biết hết cõi lòng của từng môn đệ, kể cả người môn đệ phản bội đã rời đi báo tin cho nhà cầm quyền đến bắt Chúa Giêsu. Ngài mời gọi họ: Lòng các con đừng xao xuyến!

Phải chăng Lời đó hẳn cũng nói cho Cha Cố Isidoro và cho tất cả chúng ta đây. Đứng trước cuộc đời và cái chết của Cha Cố, Lời Chúa chỉ mời gọi Cha Cố và chính chúng ta: đừng xao xuyến. Đừng tính toán theo nhân loại, đừng thẩm định các biến cố cuộc đời của mình theo cái nhìn của nhân loại nữa, nhưng hãy nhìn trong tình thương yêu của Thiên Chúa. Người muốn chúng ta vững tin, an bình, và vui sống.

Tại sao thế? Thưa, vì mỗi con người đều có chỗ trong nhà của Thiên Chúa.

2. Thầy ra đi để dọn chỗ cho anh em, nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở

Cái chết của Thầy Chí Thánh, -sau này sẽ được chứng thực-, không phải là sự chấm dứt, chấm dứt dở dang cuộc đời trần thế còn quá trẻ, còn quá nhiều dự định. Cái chết này chính là một sự ra đi theo một sứ mệnh. Thầy ra đi để dọn chỗ cho anh em, để đưa anh em về nhà của Cha Thầy, đưa hết, đưa hết mọi môn đệ, đưa hết mọi người tin vào Ngài. Đúng vậy, gia đình của Thiên Chúa rộng lớn lắm, trái tim yêu thương của Chúa vĩ đại bao la vô cùng, Người không muốn người môn đệ nào của Chúa Con bị hư mất đi. Ngài biết chứ, các môn đệ rồi đây người sẽ nộp Ngài, người sẽ chối bỏ Ngài vì lo sợ, người sẽ né tránh tuyên xưng sự gắn bó của mình với Thầy Chí Thánh qua hình thức này hay hình thức khác, lúc này hay lúc khác. Nhưng Ngài không để ý những tổn thương đó mà các môn đệ thời đó cũng như thời sau này, và cả của chúng ta nữa đã gây cho Ngài. Ngài chỉ biết rằng, nơi mái nhà yêu thương của Thiên Chúa, đầy ắp niềm vui, hạnh phúc, được mở ra cho hết mọi người, miễn là họ còn tin vào Ngài: Các con hãy tin vào Thiên Chúa, hãy tin vào Thầy. Nhà của Cha Thầy có chỗ cho các con!

Kể từ cuộc ra đi vĩ đại có một không hai này, biết bao cuộc ra đi khác trên trần thế đã mang một ý nghĩa mới, ý nghĩa cứu độ, ý nghĩa của sứ mệnh đưa con người chia sẻ đời sống gia đình thần linh. Cuộc đời của Cha Cố và của chúng ta nữa, được tìm thấy sự ý nghĩa tròn đầy ấy khi lúc nào cũng ra đi, hướng về Nhà Cha. Và không phải chỉ có bản thân mình ra đi, mà còn có cả những người anh em môn đệ Chúa Kitô nữa cùng đồng hành với ta nữa.

3. Thầy ở đâu, các con cũng ở đó

Thì ra cuộc ly biệt không phải là một sự từ biệt mãi mãi để xa mặt cách lòng, nhưng lại là một lời mời gọi cho một hy vọng và cũng là một thách đố. Cha Cố giờ đây, -chúng ta tin như thế-, được ở cùng Thầy Chí Thánh yêu thương mà mình cả đời gắn bó, dù với bao giới hạn của phàm nhân. Sự ra đi của Chúa Giêsu, và sự ra đi của Cha Cố Isidoro lại cũng là một lời mời gọi chúng ta, hãy gắn bó với Chúa Giêsu. Hãy ở lại trong Thầy Giêsu. Các con hãy ở lại trong tình thương của Thầy.

Hành trình dương thế của cha Cố Isidoro đã đầy ắp những biến cố vui buồn, biểu lộ dự định của Thiên Chúa nơi Cha Cố. Được sinh ra trong một gia đình Công Giáo đạo đức, hai anh em cùng được hiến dâng Thiên Chúa để phục vụ Hội Thánh trong chủng viện, rồi những tháng ngày đào luyện ban đầu của Hội dòng Salêdiêng mà cha Cố đã yêu thương chọn lựa, vì sứ mệnh phục vụ những người trẻ. Cha đã là người con dân Nước Việt đầu tiên ôm ấp đoàn sủng Salêdiêng và dấn bước theo Don Bosco, khởi đầu cho biết bao nhiêu thế hệ người trẻ Việt Nam gia nhập Tu Hội Salêdiêng Don Bosco. Qua những nẻo đường đời, ngài vẫn luôn hăng say phục vụ những người trẻ cho tới khi cống hiến những sức lực cuối cùng cuộc đời trong cộng thể hậu tập viện Don Rua Đà Lạt. Như một số tác giả tu đức đã miêu tả, người Kitô hữu cao tuổi đạo đức không hề sống lây lất kéo dài cho đến khi sức lực kiệt tàn. Các ngài là nguồn chúc phúc cho thế hệ trẻ.

Được sống hai năm đầu đời đệ tử Salêdiêng với cha Cố và 4 năm cuối đời của Cha Cố, con đã chứng kiến và hấp thụ những bài học đầu đời của người Salêdiêng: tinh thần gia đình, dấn thân cho người trẻ. Và cuối đời, lại là bài học quan trọng nhất mà có nhiều người không chịu học sớm: chức vụ rồi sẽ qua đi, công việc dấn thân lo toan rồi cùng sẽ đi vào trong quá khứ, những mối thân quen rồi sẽ nhường chỗ cho một tương quan quan trọng hơn cả, trăm công nghìn việc lo toan đều phải nhường chỗ cho công việc lớn lao hơn, vĩ đại hơn: Thầy đâu, các con cũng ở đó. Ngày ngày nhìn thấy gương sáng của một hội viên Salêdiêng, một linh mục cao tuổi, mắt kém, tai ù, tay chân run rẩy, nhưng đẹp làm sao bàn tay ấy đang cầm cỗ tràng hạt, đang giở từng trang sách nguyện Phụng vụ, đẹp làm sao nụ cười phát xuất từ trái tim ấy lúc nào cũng sẵn sàng đón nhận các tội nhân đến lãnh nhận bí tích giao hòa, từ già tới trẻ, từ những em thiếu nhi, đến các bạn tu sinh, sinh viên, rồi đến các hội viên, các cha trong Giáo hạt Đà Lạt và cả Đức Cha, cũng thường xuyên tìm đến Cha Cố để lãnh ơn giao hòa từ tay thừa tác viên của Chúa. Đẹp làm sao nụ cười thân thương của người cha già sống giữa bày con cái đông đúc, luôn là đối tượng được các Thầy chăm chú trêu ghẹo để cuộc đời luôn đầy ắp niềm vui của Tin mừng. Chúa đã ân thưởng cho ngài ơn chết lành vì ngài đã sẵn sàng về Nhà cha để ở với Thầy.

Lòng các con đừng xao xuyến. Giờ đây Chúa cho Cha Cố an nghỉ sau khi đã hoàn thành cuộc đời dương thế. Xin Chúa cho chúng con cũng được như Cha Cố, luôn đánh giá và thẩm định cuộc đời, hành động của mình theo Lời Chúa dạy, đừng để những tính toán quá phàm nhân chi phối cuộc đời và những quyết định của chúng con.

Thầy ra đi dọn chỗ cho các con. Cha Cố đang được Thánh Bổn mạng Isidoro, Cha Thánh Gioan Bosco, Mẹ Mazarello, Thánh Đaminh Saviô, Cha Cố Thiên, và mọi người thân yêu đón nhận cha vào nơi ở trong Nhà Chúa Cha. Xin Chúc cho chúng con, luôn biết sẵn sàng ra đi, và cùng với Chúa Giêsu, ra đi với các anh em mình để tiến về Nhà Cha.

Thầy ở đâu, các con ở đó. Cả cuộc đời, Cha Cố Isidoro đã luôn muốn gắn bó với Chúa Kitô dẫu luôn trong thân phận con người. Xin Chúa cho chúng con biết chọn Chúa và ở với Chúa, để rồi niềm vui của người môn đệ gặp được Thầy, niềm vui của tín hữu gặp được Chúa Giêsu cứu thế, luôn tràn ngập trong cõi lòng của mỗi người chúng con.

Lm. Giuse Nguyễn Thịnh Phước, SDB

Đặc Ân Vô Nhiễm Nguyên Tội

Lm. Hữu An

Hôm nay toàn thể Giáo Hội tôn vinh Mẹ Maria được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ.

Đặc Ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội” là bằng chứng về sức mạnh của Ân Sủng trên tội lỗi và sự chết. Phụng vụ đang ở giữa chặng đường Mùa Vọng. Thời gian chuẩn bị đón mừng mầu nhiệm Con Thiên Chúa đến trần gian. Giữa “màu tím đợi chờ và hy vọng” chợt bừng lên “màu trắng tinh tuyền” của ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Ý nghĩa phụng vụ gắn liền với thời điểm quan trọng của lịch sử cứu rỗi. Cánh cửa thiêng liêng mở ra cho Dân Chúa bước tới cử hành mầu nhiệm Nhập Thể.

Trong hai thế kỷ sau cùng của thiên niên kỷ thứ hai, liên tiếp có hai chân lý về Đức Maria đã được Giáo Hội định tín. Đó là: tín điều “Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội” (8.12.1854) và tín điều “Đức Maria Hồn Xác Lên Trời” (1.11.1950). Qua hai tín điều này, Giáo Hội tuyên tín và khái quát về toàn bộ chương trình cứu độ của Thiên Chúa ở hai tận cùng của lịch sử. Một khởi đầu sáng tạo với vẽ đẹp “Vô Nhiễm Nguyên Tội”, và cuối cùng, với công trình Nhập Thể - Cứu Chuộc của Chúa Con, toàn thể nhân loại lại được nâng lên trong ánh quang phục sinh như “Đức Maria hồn xác lên trời”.

Lòng sùng kính Đức Maria là cả một cảm nghiệm sâu xa của niềm tin Dân Chúa qua dọc dài lịch sử với nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền.

Sách Sáng thế kể rằng: con người được tạo dựng trong yêu thương và được ân ban cuộc sống hạnh phúc ngay từ thuở ban đầu. Tuy nhiên, địa đàng hạnh phúc ấy không may đã khép lại với nguyên tổ. Đánh mất địa đàng, con người cũng mất luôn hạnh phúc được chia sẻ sự sống thân mật và vĩnh hằng với Thiên Chúa. Cái chết đã trở thành một bản án chí tử. Thiên Chúa tình yêu đã hé mở chân trời hy vọng : “Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó. Người miêu duệ đó sẽ đạp nát đầu mi”. Đó chính là “Tin Mừng đầu tiên”, Tin Mừng nguyên thủy. Niềm hy vọng trải dài xuyên suốt lịch sử con người từ buổi hồng hoang cho đến ngày Lời hứa được thực hiện.

Từ cuộc “đỗ vỡ ban đầu” của Nguyên tổ, Thiên Chúa đã quyết định thực hiện một chương trình cứu rỗi diệu kỳ. Đức Maria đã được chọn từ muôn thưở: “Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ”. Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “Khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con của Người, sinh bởi người nữ, sinh dưới quyền lề luật, để cứu chuộc những kẻ dưới quyền lề luật, ngõ hầu ta được chịu lấy quyền nghĩa tử” (Gl 4,4). Chính người Con đó, Đức Giêsu Kitô, sẽ thực hiện lời hứa “đạp dập đầu con rắn” mà Thiên Chúa đã công bố thuở xưa. Người nữ đó chính là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Đức Trinh Nữ ấy đã được Đức Piô IX long trọng công bố trong tín điều Vô Nhiễm : “Ta tuyên bố rằng Đức Trinh Nữ rất thánh đã được gìn giữ khỏi mọi tì ố tội tổ tông… ngay từ buổi đầu tượng thai”.

Như thế, rõ ràng mầu nhiệm “Vô Nhiễm Nguyên Tội” là một lộ trình đức tin của Dân Chúa. Đặc Ân này, huyền nhiệm này nắm giữ một vai trò, một ý nghĩa, một điều kiện có tính quyết định trong con đường dẫn tới hạnh phúc vĩnh hằng của nhân loại. Nói cách khác, Đặc ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội” của Đức Trinh Nữ Maria chính là “Tin mừng về cuộc chiến thắng của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa”.

Tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội bắt nguồn từ trong Thánh Kinh và lớn lên trong đức tin đơn thành và bình dân của tín hữu thời Giáo Hội Sơ Khai. Ngay từ thế kỷ thứ II, các Thánh Giáo Phụ Justinô và Irénée de Lyon đã ngợi khen sự thánh thiện của Đức Maria. Giáo Hội Đông Phương đã mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm từ thế kỷ thứ VII. Vào năm 1432, công đồng Bâle đã coi mầu nhiệm này như một tâm điểm của lòng tin. Vào thế kỷ XIX, sau khi Đức Mẹ hiện ra với Thánh Catherine Labouré tại nguyện đường nhà Dòng Nữ Tử Bác Ai năm 1830, sau đó Đức Thánh Cha Piô IX đã long trọng ban bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội vào ngày 8.12.1854. Bốn năm sau đó, vào ngày 25.3.1858, Đức Mẹ hiện ra tại hang đá Massabielle Lộ Đức, với thánh nữ Bernadette Soubirous. Đức Mẹ đã xác nhận tín điều trên đây khi tự xưng mình là “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Đặc ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội” tô thắm vẽ đẹp tuyệt mỹ của Đức Mẹ. Mẹ đầy ơn Chúa. Sứ Thần cung kính thưa với Mẹ rằng: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!" (Lc 1,28). "Ðấng đầy ơn phước" là tên gọi đẹp nhất của Mẹ Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ là Ðấng được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn, được tiền định để đón nhận hồng ân quý giá nhất, là Chúa Giêsu, "tình thương nhập thể của Thiên Chúa" (x.Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu, số 12).

Tước hiệu “Bà đầy ơn phước” xác nhận lòng Đức Mẹ không có chổ dành cho tội lỗi vì luôn được đầy tràn ơn phước của Thiên Chúa.

Thiên Chúa ở cùng Bà”: Ở đâu có Thiên Chúa, ở đó bóng tối của tội lỗi không thể có mặt. Mẹ luôn sống trong ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa.

Bà có phúc hơn mọi người phụ nữ” vì Mẹ là người duy nhất không vướng mắc tội tổ tông. Mẹ đẹp thánh thiện. Mẹ đẹp cao quý. Mẹ tuyệt mỹ vì niềm tin đơn sơ và cuộc sống khiêm nhường. Nét đẹp ấy thoang thoảng như như một hương thơm hảo hạng toả ra lôi cuốn. Nét đẹp ấy mặn mà như thứ muối thiêng liêng. Nét đẹp ấy lung linh như ánh sáng dịu mát. Nét đẹp ấy huyền diệu như âm nhạc dịu êm mời gọi con người nâng tâm hồn lên tới Chúa.

Đặc ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội” là một biểu hiện cụ thể và tròn đầy kết quả viên mãn của ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại cho phần tử ưu tú nhất của nhân loại. Đức Maria gắn bó mật thiết với mầu nhiệm “Con Chúa xuống thế làm người” như sách Giáo Lý đã viết : “Để làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria “đã được Chúa ban cho nhiều ơn xứng với nhiệm vụ cao cả ấy”. Những đặc ân của Đức Maria có được là kết quả đi trước nhờ cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, như sách Giáo Lý xác tín : “Mẹ có được sự thánh thiện tuyệt vời, có một không hai “ngay từ lúc tượng thai” hoàn toàn là do Đức Kitô : Mẹ được cứu chuộc cách kỳ diệu nhờ công nghiệp Con của Mẹ” (GLCG # 56). Ngoài ra, Đặc ân Vô Nhiễm cũng còn tiên báo hình ảnh đích thực của Hội Thánh vào ngày cánh chung, ngày mà Dân Chúa sẽ được tác thành như “một trinh nữ vẹn toàn”. Tất cả những nội dung đó đã được tóm kết trong Kinh Tiền Tụng ngày lễ hôm nay :“Chúa đã gìn giữ Đức Trinh Nữ Maria rất thánh khỏi mọi vết nhơ nguyên tội, để chọn Người đầy ơn phúc xứng đáng làm Mẹ Con Chúa, và chỉ cho chúng ta thấy nơi Người là khởi điểm Hội Thánh xinh đẹp, không vết nhăn, là bạn Con Chúa”.

Mẹ Maria chính là thụ tạo đầu tiên hưởng được lời hứa cứu độ mà Thiên Chúa công bố ngay buổi đầu với Nguyên tổ.

Với Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Maria trở thành một chứng nhân cụ thể cho tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại. Chính vì thế, trong ngày lễ hôm nay, Giáo Hội đã mượn lời Thánh Vịnh 97 để cùng hát lên trong hân hoan cảm tạ : “Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới.Vì Người đã thực hiện những việc lạ lùng…Chúa đã công bố ơn cứu độ, đã tỏ sự công chính Người trước mặt chư dân…mọi dân trên khắp cùng bờ cõi trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta…”

Với Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Maria được quyền năng và tình yêu Thiên Chúa đổ tràn.Mẹ được khỏi tội tổ tông và được đầy ơn ơn sủng ngay từ trong lòng Mẹ. Quyền năng và tình yêu Chúa bao phủ suốt cả đời Mẹ trên từng ý nghĩ, từng tình cảm, từng mỗi hành động, từng mỗi bước đi... khiến cho tâm hồn Mẹ luôn hướng về Chúa mà tạ ơn và ngợi khen liên lỉ. Đặc ân cao trọng này chính là sự thánh thiện tinh tuyền của Mẹ, vốn đã được “Thánh Thần ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên bà” (Lc 1,35).

Giáo Hội cùng hiệp ý chung lời với Mẹ ngợi khen tạ ơn Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Những lời ngợi ca đó nói lên tất cả tâm hồn của Mẹ. Đó là toát lược cả cuộc đời Mẹ, cả chương trình sống của Mẹ, là con đường tu đức của Mẹ: mãi mãi là người nữ tỳ khiêm tốn, luôn phó thác hoàn toàn trong tay Chúa toàn năng và nhân hậu, hằng dâng lời ngợi khen tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Mẹ Vô Nhiễm là một dấu chỉ niềm hy vọng cho tất cả nhân loại, những người đã chiến thắng Satan nhờ máu của Con Chiên (x. Kh 12 , 11).

Năm 1492, hơn 500 năm trước đây Colombô đã khám phá ra Châu Mỹ. Ông đã dùng con tàu mang tên: Maria Vô Nhiễm. Colombô đặt tên cho hòn đảo đầu tiên ông đặt bước chân là San Salvador để tôn kính Đấng Cứu Thế. Hòn đảo thứ nhì mang tên Conception, Mẹ Vô Nhiễm để tôn kính Mẹ Chúa Kitô.

Vào năm 1673, hơn 300 năm trước, cha Monquette, một linh mục thám hiểm gan dạ, người đầu tiên tới sông Mississipi, một thác nước khổng lồ chạy dài 3.000 km xuyên qua 10 tiểu bang Hoa Kỳ. Ngài đặt tên cho con sông miền Tây này là “Maria Vô Nhiễm”.

Balboa và Cortez, hai nhà thám hiểm nổi tiếng cũng có lòng tôn sùng Maria Vô Nhiễm.

Giáo dân Việt Nam rất sùng kính Đức Maria Vô Nhiễm. Năm 1960 khi thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam, các Giám mục đã dâng đất nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Cử hành lễ Mẹ Vô Nhiễm giữa Mùa Vọng, cộng đoàn chúng ta được nhắc nhở thêm nữa về thái độ sửa dọn tâm hồn xứng đáng để đón mừng mầu nhiệm Giáng Sinh, nhất là để từng ngày cộng tác với Ân Sủng hầu biến cuộc sống trở thành một mãnh đất tốt để Lời Chúa kết trái đơm hoa, như mãnh đất tâm hồn trong trắng của Đức Maria, tinh hoa của bao ngàn năm mong đợi. Đức Mẹ đã chuẩn bị một lễ Giáng sinh đẹp nhất, công phu nhất, dài nhất bằng chín tháng cưu mang trong tình yêu.

Xin Mẹ cũng giúp chúng con chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh với tâm tình yêu mến như Mẹ. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %