• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


TIN GIÁO HỘI

Tiếng Xin Vâng Của Thánh Giuse - Người Cha Hợp Pháp Của Chúa Giêsu

Thánh Giuse, mẫu gương của sự chờ đợi

Vào Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, phụng vụ mời gọi chúng ta sống một cách mãnh liệt sự chờ đợi của Đức Mẹ, mong đợi Đấng Cứu Thế và không để tâm trí trở nên mê ngủ vì những bận tâm thế sự.

Vào Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng, chúng ta được mời gọi sám hối liên lỉ. Để đón nhận Lời Chúa, chúng ta phải biết lắng nghe, để cho Lời thay đổi tâm trí và cõi lòng mình, nhờ đó chúng ta mới có thể hoán cải thực sự.

Vào Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng, kinh nghiệm đau thương trong tù và sự hoài nghi của Thánh Gioan Tẩy Giả dạy chúng ta rằng chúng ta phải có niềm tin vào Lời Chúa. Nếu không, Lời Chúa chỉ là lá thư vô hồn, chẳng chứa đựng Thần Khí hay Sự Sống. Lời Chúa chính là Sự Sống và nguồn vui đích thực của chúng ta.

Vào Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng, phụng vụ, sau khi mời gọi chúng ta sống tinh thần chờ đợi Đấng Cứu Thế của Thánh Gioan Tẩy Giả và Mẹ Maria, giờ đây mời gọi chúng ta sống tinh thần Mùa Vọng theo gương Thánh Giuse.

Do đó, Chúa Nhật này, Giáo Hội mời gọi chúng ta sống cảm nghiệm trước hết là sự âu lo của Thánh Giuse, khi ngài được báo tin trong giấc mộng rằng vị hôn thê của mình đang có thai; và sau đó là tin vui ngập tràn khi Con Thiên Chúa sinh hạ tại Bê-lem.

Cuộc hành trình của Thánh Giuse thật rõ ràng, từ việc lắng nghe Lời Chúa do sứ thần báo mộng, cho tới sự tín thác tuyệt đối vào Thánh ý Thiên Chúa, mời gọi ngài trở thành người giám hộ của Đấng Cứu Thế sắp sinh ra.

Dưới cái nhìn con người, Thánh Giuse thật tuyệt vời vì do sự hiểu biết và thực lòng yêu thương Đức Mẹ, ngài đã nhượng bộ trước việc mang thai của Đức Mẹ, không hề bàn ra, tán vào nguyên nhân của việc mang thai khó hiểu ấy và đưa ra một quyết định đầy lòng thương xót. Thánh Giuse đã bảo vệ phẩm giá của Đức Mẹ, không tố giác Maria, thay vào đó định từ bỏ cách kín  đáo.

Dưới cái nhìn siêu nhiên, Thánh Giuse tuyệt vời vì khi Thiên Chúa soi sáng và cho Giuse biết căn tính thực sự của Con Đức Maria, được chịu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã thay đổi và nhận Maria làm vợ mình. Thánh Giuse đã thay đổi cách suy nghĩ. Sự hoán cải trong cách suy nghĩ này dẫn đến sự thay đổi cuộc đời ngài. Để trở thành người giám hộ Đấng Cứu Thế, Thánh Giuse sống tinh thần chờ đợi một con người sắp được sinh ra, chứ không phải chờ đợi một ý tưởng. Đối với Thánh Giuse, Giáng Sinh có nghĩa là chờ mong sự viếng thăm của một người, mong đợi một cuộc gặp gỡ vốn thay đổi cuộc đời mình. Thánh Giuse đã chuẩn bị để bảo vệ Sự Sống và trao ban Sự Sống ấy cho thế giới.

Chúng ta hãy xin Ơn Chúa để mình có thể noi gương Người Cha Hợp Pháp của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, chúng ta không nên quên rằng từ “hợp pháp” muốn nói tới “luậtđó là luật Bác Ái”. Chúng ta hãy chiêm ngưỡng với sự thán phục và kiên trì bắt trước đức tin sống động của Thánh Giuse, sự tín thác hoàn toàn vào Thánh ý Thiên Chúa, trước mầu nhiệm của việc thụ thai và sinh hạ Chúa Giêsu, để trở thành người cha hợp pháp của Ngài. Từ “người cha hợp pháp” thì phù hợp hơn là “người cha giả định”. Như Thánh Augustinô từng nói: “Thánh Giuse không làm cha theo nghĩa xác thịt, nhưng làm cha theo nghĩa bác ái.”

Ba lần cấttiếng xin vâng

Giờ đây chúng ta cùng suy tư câu cuối trong bài Tin Mừng hôm nay: “Khi thức dậy, Giuse làm theo lời sứ thần truyền và nhận Maria về làm vợ”(Mát-thêu 1, 14). Chồng của Maria thưa tiếng xin vâng với Thiên Chúa không phải qua lời nói nhưng qua hành động. Trong thinh lặng, người thợ mộc làng Na-za-rét chấp nhận và chu toàn nhiệm vụ làm chủ gia đình, bảo vệ cho Chúa Giêsu giữa thế gian. Chúa Cha đã trao phó Con mình cho Thánh Giuse chăm sóc và bảo vệ. Thánh Giuse đã hoàn thành tốt sứ mệnh này vì ngài luôn thực hành Lời mà mình đã lắng nghe. Thánh Giuse là cha hợp pháp của Chúa Giêsu bởi vì ngài sống tình phụ tử một cách cụ thể khi chu toàn trách nhiệm là người giám hộ cho Đấng Cứu Thế (Thánh Gioan Phaolô II), sống một đời phục vụ, hi sinh cho mầu nhiệm nhập thể và sứ mệnh cứu chuộc của Chúa Giêsu; khi thực thi quyền bính theo pháp lý của mình, Thánh Giuse đã biến cuộc đời mình và công việc của mình thành một  món quà. Thánh Giuse đã biến tình yêu thương trong gia đình thành của lễ thiêng liêng là chính mình, là cõi lòng, là bất kỳ khả năng yêu thương nào được đặt vào trong việc phục vụ Đấng Cứu Thế, được sinh ra trong nhà mình (Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, năm 1966).

Nhờ tiếng “xin vâng” của Thánh Giuse, Người phụ nữ “hoàn toàn vâng phục” là Đức Maria có được một mái ấm để Ngôi Lời – vâng theo Thánh Ý Chúa Cha- trở thành Em-ma-nu-en, Đấng Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thánh Phaolô nói rằng nơi Đức Giêsu Ki-tô không có cả hai “tiếng xin vâng” và “tiếng chối từ”, mà chỉ có tiếng xin vâng mà thôi (Thư Cô-rin-tô 1, 18-19)

Chúng ta nhớ rằng trong vườn Ghết-sê-ma-ni Chúa Giêsu đã hoàn toàn phó thác cho Thánh Ý Chúa Cha khi Ngài nói: không theo ý con, một vâng theo Ý Cha (Lu-ca 22, 42) Thánh Vịnh 39 đã giúp chúng ta cầu nguyện: “Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: ‘Này con xin đến". Trong Thư gởi Tín Hữu Do Thái, chúng ta cũng gặp thấy: “Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói : Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. 6 Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. 7 Bấy giờ con mới thưa : Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.”

Tiếng xin vâng của các Trinh Nữ thánh hiến giữa đời: tiếng xin vâng của 3 Đấng

Tất cả chúng ta muốn trở nên giống như Đức Maria và Thánh Giuse, làm nên mái nhà cho Chúa Giêsu. Chúng ta được mời gọi trở thành chứng nhân của Lời Chúa, không chỉ qua đôi tai, nhưng còn qua con tim để mở lòng mình ra và sống Lời đó một cách liên lỷ.

Chúng ta có thể hỏi việc sùng kính Thánh Giuse có ý nghĩa gì đối với các Trinh Nữ thánh hiến để trở thành chứng nhân sinh nhiều hoa trái của Lời Chúa, Cha nghĩ rằng điều đó giúp họ sống tinh thần khiêm tốn tại nơi mà Chúa Cha đã dọn sẵn cho họ. Qua sự từ bỏ chính mình một cách trọn vẹn, Thánh Giuse bày tỏ tình yêu quảng đại đối với Mẹ Thiên Chúa, qua việc trao tặng quà cưới là chính lối sống thanh khiết của mình. Thậm chí, trước đó, Thánh Giuse đã quyết định rút lui, nhưng để không cản trở kế hoạch của Thiên Chúa đối với Maria, Thánh Giuse đã vâng nghe lệnh truyền của sứ thần, giữ lại Maria và tôn trọng Maria như người đã hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.

Hơn thế nữa, đồng trinh chính là bắt trước lối sống của Thánh Giuse qua việc bày tỏ tình yêu đối với Chúa Giêsu, đối với Đức Trinh Nữ Maria và tiên báo trước tình yêu đối với cuộc sống vĩnh cửu. Qua đây, những người sống đời thánh hiến cho Thiên Chúa học cách để diễn tả tình mẫu tử và phụ tử. Nhưng chúng ta không bao giờ được quên rằng để có thể sinh ra người khác, trước hết chúng ta phải được sinh ra; và để làm cha, mẹ, trước hết chúng ta phải là con cái. Việc chúng ta được sinh ra bởi tình yêu khiến chúng ta có khả năng thông truyền và trao ban sự sống cho người khác. Do đó, việc chúng ta sống như là thành viên thực sự của Giáo Hội – một Giáo Hội có Thánh Giuse là Đấng Bảo Trợ - là rất quan trọng.

Theo gương Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse, chúng ta hãy nói lời xin vâng với Thiên Chúa. Qua đó, chúng ta được hoán cải nhờ lòng thương xót củaNgài.

Đại Quang, SDB chuyển ngữ

 

Bài Giảng Lễ Sáng Của Đức Thánh Cha: Các Mục Tử Nên Chấp Nhận Bước Đầu Tiên, Phần Còn Lại Để Thiên Chúa Lo


Minh Tuấn, SDB

(Ngày 15 tháng 12 năm 2016) - Các mục tử nên nói sự thật, nhưng đồng thời cũng nên chào đón dân chúng như họ là. Đây là bước đầu tiên; phần còn lại chúng ta trao phó cho Chúa. Đây là sứ điệp Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã nói trong Lễ sáng tại Nhà nguyện Thánh Marta hôm nay. Thánh Gioan Tẩy giả là trung tâm điểm của bài giảng hôm nay.

Nhiều người đã đi vào sa mạc để tìm kiếm Thánh Gioan Tẩy giả, kể cả những người Pha-ri-sêu và các tiến sỹ luật. Mặc dù, sau đó, lại xa cách và từ chối không chấp nhận phép rửa của Gioan, và rồi lại dèm pha ngài. Trong Tim Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã hỏi đám đông điều họ đang đi tìm kiếm trong sa mạc: "một cây sậy phất phơ trước gió ư? Một người ăn mặc gấm vóc lụa là ư? Không phải họ đang tìm kiếm những người ăn mặc gấm vóc lụa là, vì những người này ở trong cung điện nhà vua" - và Đức Thánh Cha nói thêm, "hay đôi khi đi tìm các Giám mục."

Nhưng họ đã đang đi tìm một vị ngôn sứ, mà "còn hơn một vị ngôn sứ nữa". Chúa Giêsu đã nói "trong số những người đã lọt lòng mẹ, không ai cao trọng hơn Gioan".  Đức Thánh Cha nói, "Ông là ngôn sứ cuối cùng, bởi vì sau ông là Đấng Messia đến". Với lý đó cao trọng của Gioan Tẩy giả, Đức Thánh Cha giải thích rằng, "ông là người trung thành với điều Thiên Chúa muốn ông làm; ông là người cao trọng bởi vì ông trung thành. Sự cao trọng này thậm chí được nhìn thấy nơi việc rao giảng của ông.

Ông rao giảng một cách đầy thuyết phục, ông nói mạnh mẽ chống lại những người Pha-ri-sêu, những tiến sỹ luật, những thầy thượng tế, ông không nói với họ: "Hỡi những người anh em, hãy cư xử tốt lành!" Không. Đơn giản ông đã nói với họ rằng: "Các ông là nòi rắn độc!" Ông đã không sử dụng từ ngữ màu mè. Bởi vì những người này đến với ông để dò thám chứ không phải với một con tim chân thành: "Hỡi nòi rắn độc!" Phải, ông liều mạng sống mình, nhưng ông trung thành. Rồi đối với Hê-rô-đê, ông đã nói thẳng mặt ông rằng, "Đồ ngoại tình! Ngoại tình, ông không được phép sống cách này!" Ông nói thẳng mặt! Chắc chắn, ngày nay nếu một mục tử nói trong bài giảng Chúa Nhật rằng, "Trong số anh chị em có một số người là nói rắn độc, và có rất nhiều quân ngoại tình," thì chắc chắn vị giám mục này sẽ nhận được rất nhiều thư trách mắng: "Hãy đuổi vị mục tử này đi chỗ khác vì ông ta xỉ nhục chúng tôi." Ông ta đã xỉ nhục chúng tôi. Tại sao? Bởi vì ông ta đã trung thành với ơn gọi của mình và với sự thật.

Tuy nhiên, Đức Thánh Cha đã nhận định thêm rằng, với dân chúng, vị tiền hô hiểu họ: đối với những người thu thuế - những người được xem là những quân tội lỗi công khai, bởi vì họ bóc lột dân chúng - ông nói "Đừng đòi hỏi nhiều hơn sự công bằng."

Đức Thánh Cha đã nói tiếp, "Ông đã bắt đầu với những thứ nhỏ bé. Rồi chúng ta thấy. Rồi ông đã rửa tội cho họ." "Thực hiện bước này trước. Rồi chúng ta sẽ thấy." Ông đã hỏi các người lính, các người cảnh sát, nhưng không hù dọa hay tố cáo bất cứ ai, và hãy bằng lòng với mức độ phải trả. "Điều này có nghĩa là không đi chệch ra ngoài điều phải lẽ."

Gioan đã rửa tội tất cả những người tội lỗi này, "nhưng với một bước nhỏ tiến bộ, bởi vì ông đã biết rằng với bước tiến này Thiên Chúa sẽ thực hiện những điều còn lại." Và họ đã hoán cải. Đức Thánh Cha nói tiếp, "một mục tử hiểu biết biết tình trạng của dân chúng và giúp đỡ họ bước đi tiến về với Thiên Chúa."

Những nghi ngờ của Gioan

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói, Mặc dù Gioan là cao trọng, mạnh mẽ, vững chắc trong ơn gọi của mình, "ông vẫn có những giây phút đen tối trong cuộc đời, ông vẫn có những nghi ngờ." Sự thật, ông bắt đầu nghi ngờ khi ông ở trong tù, dù cho ông đã rửa tội cho Chúa Giêsu, "nhưng Ngài lại không là một Đấng Cứu Thế như ông tưởng tượng." Vì thế, ông đã sai hai môn đệ của mình đến để hỏi Chúa có phải Ngài là Đấng Messia không. Và Chúa Giêsu đã sửa chữa lại cái nhìn của ông với một sự đáp trả rõ ràng. Quả thật, Chúa nói với họ về tường thuật cho Gioan rằng, "người mù được thấy," "kẻ điếc được nghe," "người chết sống lại." Đức Thánh Cha nói, "người cao cả có thể đủ khả năng để nghi ngờ vì họ là người cao cả."

Người cao trọng có khả năng để nghi ngờ, và điều này đúng. Họ chắc chắn về ơn gọi của họ nhưng mỗi lần Thiên Chúa cho họ thấy một con đường mới trong cuộc hành trình, họ bắt đầu nghi ngờ. 'Nhưng đây không phải chính thống, đây là dị giáo, đây không phải là Đấng Cứu Thế tôi đã chờ mong.' Satan làm điều này, và một số bạn bè cũng trợ giúp, không phải vậy phải không? Đây là điều cao trọng của Gioan, một người cao trọng, người cuối cùng của nhóm người tin bắt đầu từ Abraham, người rao giảng sự sám hối, người đã không dùng từ ngữ nhẹ nhàng để kết án kẻ kiêu ngạo, người đến cuối đời được phép nghi ngờ. Đây là một chương trình tốt lành của đời Kitô hữu.

Rồi Đức Thánh Cha Phan-xi-cô tóm lại những điểm chính trong bài giảng của ngài rằng, nói sự thật và chấp nhận điều người khác có thể công hiến là bước đầu tiên: chúng ta hãy xin Gioan giúp chúng ta có được ơn can đảm tông đồ luôn luôn dám nói sự thật từ tình yêu mục tử, và chấp nhận dân chúng với một chút gì đó họ có thể trao ban là bước thứ nhất. Thiên Chúa sẽ thực hiện phần còn lại. Và cũng xin ơn nghi ngờ. Nhiều khi, có thể đến cuối đời, một người có thể hỏi, "Phải chăng mọi sự tôi đã tin là thật hay chúng là những điều tưởng tượng?" Một cám dỗ chống lại đức tin, chống lại Thiên Chúa. Nguyện xin Thánh Gioan cao trọng, người nhỏ nhất trong Nước Trời, và vì lý do này ông trở nên cao trọng giúp chúng ta trong hành trình đi theo những bước chân của Thiên Chúa.

Minh Tuấn, SDB chuyển ngữ

Đoàn rước Chủ tế có buộc phải có Thánh Giá và Nến không?

Đại Quang, SDB

(Theo Báo Người Quan Sát Rôma) – Dưới đây là phần giải đáp thắc mắc của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô, Trưởng Khoathần học và giáo sư phụng vụ thuộc Đại học Nữ Vương Các Thánh Tông Đồ, Rôma.

- Thưa Cha, chúng ta có được tiến hành đoàn rước chủ tế mà không có Thánh Giá và Nến không – chỉ có thừa tác viên, chủ tế và phó tế? Ở Giáo xứ của con, một lần kia do sơ suất của Ban Phụng vụ, Thánh Giá chưa được chuẩn bị, nhưng chủ tế vẫn ra hiệu để bắt đầu cuộc rước. Liệu điều này có được cho phép không ạ? S.B. từ Rio de Janeiro

Đối với hình thức đơn giản nhất của Lễ Trọng (không có phó tế), Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma nêu lên những điểm sau, liên quan tới cuộc rước chủ tế:

"120. Khi giáo dân đã tập hợp, vị tư tế và các thừa tác viên mặc phẩm phục tiến tới bàn thờ theo thứ tự sau đây:

“a. Người mang bình hương có đốt hương sẵn, nếu có xông hương;

“b. Các thừa tác viên cầm nến và thầy giúp lễ hay một thừa tác viên khác cầm Thánh Giá đi giữa họ;

“ c. Các thầy giúp lễ và các thừa tác viên khác;

“d. Thầy đọc sách, thầy này có thể mang sách Tin Mừng, chứ không phải sách Bài Ðọc, nâng cao lên một chút;

“e. Vị chủ tế.

“Nếu có xông hương, linh mục sẽ bỏ hương trước khi đi rước, chúc lành bằng dấu thánh giá, mà không nói hết.

“121. Ðang khi đoàn rước tiến lên bàn thờ, ca đoàn hát ca nhập lễ.

“122. Khi tới bàn thờ, vị tư tế và các thừa tác viên cúi mình sâu.                

“Nếu có mang Thánh Giá có hình Chúa chịu nạn trong khi đi rước, thì đặt Thánh Giá gần bàn thờ để thành Thánh Giá bàn thờ. Chỉ để một Thánh Giá thôi, nên nếu có rồi thì đem Thánh Giá đi rước cất đi. Ðèn có thể được đặt trên bàn thờ hay bên cạnh; sách Tin Mừng, thì đặt trên bàn thờ.(Bản dịch Việt ngữ của Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Chí Cần, Giáo phận Nha Trang).

Tuy nhiên, trong một vài số trước đó, Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma đã chỉ ra rằng:

"117. Phải có ít là một khăn trải màu trắng trên bàn thờ. Trong mọi cử hành, trên bàn thờ hoặc gần bàn thờ, phải đặt hai, hoặc bốn, hoặc sáu chân nến, có nến thắp; nếu Giám Mục giáo phận cử hành Thánh Lễ, thì đặt bảy chân nến. Ðàng khác, trên bàn thờ hay gần bàn thờ phải đặt Thánh Giá có hình Chúa chịu nạn. Có thể mang theo chân nến và Thánh Giá có hình Chúa chịu nạn khi rước chủ tế vào hành lễ. Trên bàn thờ, có thể đặt sẵn một sách Tin Mừng khác với sách Bài Ðọc, trừ khi sách Tin Mừng này được mang theo khi rước chủ tế vào hành lễ”

Dựa theo từ “có thể”  được sử dụng trong bản văn, việc dùng Thánh Giá và nến trong cuộc rước là không bắt buộc.

Do đó, nhiều nhà thờ không có, hoặc có rất ít dịp rước chủ thế vào các Lễ trong tuần. Thậm chí, ở một số nhà thờ, không có cuộc rước chủ thế vào Lễ Chúa Nhật hay Thánh Lễ chính.

Điều này không lý tưởng lắm. Tôi muốn đề nghị các nhà thờ có đoàn rước đầy đủ vào mỗi Chúa Nhật. Tuy nhiên, các giáo xứ có lý do chính đáng khi chưa thực hiện điều này.

Vì vậy, trong trường hợp bạn đọc nêu ra ở đây, vị linh mục đã làm đúng. Tuy nhiên, điều này sẽ không đúng nếu Thánh Giá của cuộc rước, cũng chính là Thánh Giá được đặt ở Bàn Thờ. Như vậy, chúng ta phải đảm bảo rằng trước cuộc rước, ở Bàn Thờ đã có một Thánh Giá khác.

Chúng ta cũng được phép bỏ nến trong cuộc rước. Trong cuộc rước, nến thường được sử dụng để đi kèm với Thánh Giá hay Sách Tin Mừng.

Nến sẽ chẳng mấy ý nghĩa trong cuộc rước nếu không đi kèm với Thánh Giá. Tuy nhiên, nến có thể được sử dụng sau đó khi rước Sách Tin Mừng.

Bên ngoài Thánh Lễ, nến được sử dụng khi đi rước Mình Thánh. Nến cũng được sử dụng một cách hợp luật trong nhiều cuộc rước hay trong các việc đạo đức khác.

Đại Quang, SDB chuyển ngữ

Kinh Truyền Tin Là Lời Kinh Tuyệt Vời Của Mùa Vọng

Minh Tuấn, SDB

(Ngày 16 tháng 12 năm 2016) - Trong Mùa Vọng này, hàng ngàn người đã quyết định đọc Kinh Truyền Tin với nhau như là một sự chuẩn bị đặc biệt để đón chờ Chúa đến trong Lễ Giáng Sinh. Trong nhiều cách thức, Kinh Truyền Tin là một kinh nguyện Mùa Vọng tuyệt vời. Những từ ngữ của lời kinh này tập trung tâm trí và cõi lòng chúng ta vào Mầu nhiệm Nhập thể, và đưa dẫn chúng ta cùng bước đi với Mẹ Maria từ lúc truyền tin tới Giáng Sinh. Còn cách nào để cử hành Mùa vọng tốt hơn là đọc Kinh Truyền Tin?

Phải, Kinh Truyền Tin là một lòng sùng kính mới của rất nhiều người Công Giáo ngày nay kể cả chính tôi. Nhiều năm trước đây, hầu như mọi người Công Giáo đều biết và đọc Kinh Truyền Tin. Chuông nhà thờ đổ lên vào buổi sáng, buổi trưa và lúc hoàng hôn, và những người ở chung quanh khu vực nhà thờ ngưng làm việc rồi bắt đầu đọc kinh: "Đức Chúa Trời sai Thánh Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà Maria... và Đức Bà chịu thai bởi phép Chúa Thánh Thần."

Lần đầu tiên tôi biết đến Kinh Truyền Tin là lần tôi đi hành hương tới Rôma cách đây mười năm, chỉ trước Mùa vọng khoảng một tuần. Sau một chuyến bay cả đêm dài tới Rôma, chúng tôi đã tham dự Thánh Lễ tại Đền Thờ Thánh Phêrô, rồi chúng tôi cùng với hàng ngàn hàng ngàn người đang tụ tập ở quảng trường lắng nghe Đức Thánh Cha và đọc Kinh Truyền Tin với ngài. Khi Đức Thánh Cha nói xong sứ điệp của ngài và bắt đầu đọc Kinh Truyền Tin, lúc đó tôi không biết làm gì. Thời gian đó tôi đã đang dậy thần học ở một trường Trung học Công Giáo, nhưng thật buồn phải thú nhận rằng cho tới lúc đó tôi đã chưa bao giờ đọc Kinh Truyền Tin.

Vậy là cho tới khi tôi đã là giáo lý viên của các học sinh trung học năm ba chính tôi mới đọc kinh tuyệt vời này. Vị linh mục của chúng tôi lúc đó đã tới, và vào đầu Mùa Vọng năm 2012 đã dậy các học sinh của tôi đọc kinh này. Ngài đã nói đây là kinh nguyện tuyệt vời của Mùa Vọng. Tôi đã quyết định thử đọc, và rồi sau đó bốn năm nó đã trở thành kinh nguyện nền tảng của đời sống đạo đức bình dân của tôi, và tôi đã cầu nguyện với gia đình tôi hàng ngày bằng lời kinh này. Tôi hy vọng rằng, kinh này sẽ trở thành một điều gì đó thiết yếu đối với tất cả mọi người Công giáo trong cuộc sống hàng ngày như nhiều thế kỷ trước đây.

Lịch sử của Kinh Truyền Tin

Lịch sử của Kinh Truyền Tin không dễ dàng để truy tìm. Chúng ta biết chắc chắn rằng gốc tích của kinh ngày thì khá đơn giản. Khá phổ biến nơi những người Công giáo bình dân trong thời Trung cổ là đọc ba Kinh Kính Mừng mỗi ngày. Việc đọc ba Kinh Kính Mừng mỗi ngày được nhiều vị thánh cổ võ trong suốt lịch sử, như là Thánh Bô-na-ven-tu-ra, Thánh Lu-is Montfort, Thánh An-phong-xô Li-gu-ry, và Thánh Josemaria Escriva.

Vào thế kỷ 14, đọc ba Kinh Kính Mừng đã trở thành cách thức phổ biến cho các giáo dân cử hành giờ kinh tối. Vì hầu hết dân chúng thời đó là mù chữ, nên họ không thể đọc được Kinh Thần Vụ, nên họ chỉ đọc ba Kinh Kính Mừng để kết thúc mỗi ngày. Vào một thời điểm nào đó trong hai thế kỷ kế tiếp, việc đọc Ba Kinh Kính Mừng đã được bổ sung vào với những Lời của Thiên Thần như chúng ta thấy ngày nay. Các tiếng chuông vang rền ở các tháp nhà thờ nhắc nhở mọi giáo dân tham dự vào việc đọc Kinh Truyền Tin để nhắc nhớ việc Nhập Thể và cử hành việc Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta.

Tại sao đọc Kinh Truyền Tin trong Mùa Vọng?

Năm nay, tôi đã bắt đầu sáng kiến kinhtruyentinmuavong.com như là một phần của giấc mơ truyền bá rộng rãi khắp nơi Kinh này một lần nữa. Sứ mệnh của tôi là mời gọi mọi người tham gia với tôi và với hàng trăm hàng trăm người khác, những người cam kết đọc Kinh này trong Mùa Vọng.

Dĩ nhiên, không chỉ trong Mùa Vọng, nhưng chúng ta đọc Kinh này cả năm (trừ ra trong Mùa Phục Sinh chúng ta thay thế bằng Kinh Lạy Nữ Vương). Phải, đọc kinh này trong mùa chúng ta chuẩn bị đón chờ Chúa đến vào Lễ Giáng Sinh mang lại cho đời sống chúng ta một ý nghĩa đặc biệt.

Có rất nhiều cách thức để chuẩn bị cho Lễ Giáng Sinh. Có rất nhiều sách dùng trong Mùa Vọng, và ngày nay cũng có nhiều video cho Mùa Vọng. Và dĩ nhiên, Cây Mùa Vọng cũng giúp cho chúng ta ý thức về từng Chúa Nhật tiến tới Lễ Giáng Sinh. Nhưng đối với tôi cũng như nhiều người, Kinh Truyền Tin là một điều gì đó cũng rất quan trọng trong Mùa Vọng.

Kinh Truyền Tin chỉ ra những giây phút thiết yếu trong Lịch sử Cứu độ như là các bài đọc hàng tuần cũng như hàng ngày vậy. Những lời của kinh này nhắc nhở chúng ta về sự Nhập thể cũng như lời "xin vâng" của Mẹ Maria thưa với Thiên thần Gabriel, để giải thoát điều Eva đã làm với Chúa trong Vườn Đại Đàng. Chúng ta nhớ đến việc Nhập thể và kết thúc kinh này với lời nhắc nhở về Sự chết và Phục sinh của Đức Kitô.

Trong Kinh Truyền tin, chúng ta nhìn lên Mẹ Maria như là một mẫu gương tuyệt vời của sự thánh thiện. chúng ta làm vang vọng những lời của Mẹ và bắt chước thái độ thánh thiện của Mẹ như là "nữ tỳ của Thiên Chúa" với một sự mở rộng cõi lòng để cho ý định của Thiên Chúa thực hiện trong đời sống của chúng ta bây giờ.

Những lời của Kinh Truyền Tin hướng chúng ta về sự Nhập thể. Nó giúp chúng ta nhận ra và suy niệm về tầm quan trọng của sự hiện diện của Đức Kitô trên thế giới và trong trái tim mọi người. Phải, nó còn có tác dụng hơn là chỉ nhắc nhở chúng ta về những sự thật quan trọng. Khi chúng ta đọc Kinh Truyền Tin, chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong lòng chúng ta ngay khi chúng ta đọc kinh và ngay nơi chúng ta đọc kinh này. Và chúng ta được mời gọi để thể hiện điều chúng ta suy niệm trong kinh nguyện trong hành trình Mùa Vọng của chúng ta. Chúng ta dừng lại mọi công việc ba lần một ngày để tuyên xưng Thiên Chúa đang ở đây với chúng ta, hiện diện giữa chúng ta tới ngày nay.

Khi hành trình Mùa Vọng vẫn đang tiếp tục, chúng ta hướng về Bêlem và sự giáng sinh của Đức Kitô, xin cho chúng ta biết chuẩn bị cõi lòng chúng ta trong một cách thức đặc biệt cùng đồng hành với Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa qua kinh nguyện này. Xin cho chúng ta, qua việc đọc Kinh Truyền Tin trong Mùa Vọng này thật sự nhận ra tầm quan trọng của việc Đức Kitô ngự đến trên thế giới và trong đời sống của mỗi người chúng ta.

Jared Dees là một tác giả của Đọc Kinh Truyền Tin (2017). Ông cũng là người sáng lập trang mạng Giáo viên Tôn giáo và sáng kiến kinhtruyentinmuavong.com

Minh Tuấn, SDB chuyển ngữ

Đức Thánh Cha Phan-Xi-Cô: Các Thượng Tế Hắt Hủi Một Giu-Đa Đã Sám Hối

Đại Quang, SDB

(Theo Zenit)Như ông Giu-đa đã cố gắng để ăn năn, nhưng không được các thượng tế đón nhận; ngày nay cũng vậy, trong Giáo Hội, có những linh mục quên rằng mình là những mục tử khi không biết đón nhận những người đau khổ.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã chia sẻ điều này trong Thánh Lễ sáng tại Nguyện Đường Thánh Mát-ta. Thánh Lễ cũng có sự tham dự của Ban Cố Vấn Hồng Y Đoàn.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô chia sẻ về Chúa Giêsu trong Bài Tin Mừng hôm nay, khi ngài đề cập tới các thượng tế và kỳ lão trong dân, cũng như xem xét tới vai trò của họ. “Họ có thẩm quyền về các vấn đề pháp lý, đạo đức và tôn giáo. Họ quyết định mọi thứ.” Chẳng hạn Anna và Caipha đã xét xử Chúa Giêsu. Ông Giuđa đã từng đi đến với họ để “mặc cả” và rồi Chúa Giêsu bị bán. Họ đã trở nên kiêu ngạo và ngạo mạn khi khai thác luật pháp:

Họ đã làm đi làm lại một bộ luật nhiều lần: đến nỗi nó lên đến 500 khoản. Mọi thứ đều bị luật pháp quy định! Bởi vì họ là những người thông thái, nên họ làm luật rất khôn ngoan. Họ tạo ra những điều luật na ná giống nhau. Nhưng đó là một thứ luật không có ký ức: Họ đã quên Điều Răn Thứ Nhất mà Thiên Chúa đã trao cho Tổ Phụ Abraham. “Hãy bước đi trước Tôn Nhan Ta và không có điều chi đáng trách.” Họ đã không bước đi, nhưng luôn dừng lại ở ý riêng của mình. Họ đã trở nên đáng trách!

Người dân bị những người trí thức trong đạo loại trừ

Các thượng tế đã quên Thập Giới của Mô-sê. “Họ đã làm ra những điều luật hết sức phức tạp và giả tạo, rồi họ bỏ đi giới luật của Thiên Chúa. Họ đã quên không nối kết giây phút hiện tại với Mặc Khải.”

Trong quá khứ, nạn nhân của các thượng tế là Chúa Giêsu; ngày nay, nạn nhân là những người dân nghèo khổ, tín thác vào Thiên Chúa, nhưng bị loại bỏ; họ là những người hiểu được tinh thần sám hối dẫu không chu toàn tất cả lề luật, nhưng phải gánh chịu sự bất công. Người dân bị kết án và lạm dụng bởi những người chỉ biết chạy theo hư danh và kiêu ngạo. Và người bị các thượng tế hắt hủi là Giu-đa.

Giu-đa là kẻ phản bội và ông đã phạm tội trọng! Thế nhưng Tin Mừng thuật lại rằng: Ông đã sám hối và quay lại trả tiền cho họ. Nhưng họ đã làm gì? Họ nói với Giu-đa: “Nhưng anh là thủ phạm…Anh tưởng chúng tôi có quyền tha thứ mọi tội lỗi sao? Hãy đi và giải quyết chuyện của anh đi! Nó là chuyện riêng của anh!” Thế rồi họ đã để cho Giu-đa đơn độc một mình: Giu-đã bị loại bỏ! Một Giu-đa phản bội, đáng thương và sám hối bị các thượng tế hắt hủi. Các thượng tế đã quên rằng họ là những mục tử. Họ là những người trí thức trong đạo, có thẩm quyền, họ dạy cho dân chúng một thứ luân lý do chính họ tạo ra bằng sự khôn ngoan của mình, chứ không dựa trên Mặc Khải.

Sự dữ mang tên “chủ nghĩa giáo sĩ trị” vẫn còn tồn tại trong Giáo Hội ngày nay

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói rằng ngày nay những điều tương tự như thế thỉnh thoảng vẫn xảy ra trong Giáo Hội :“những người thấp bé bị loại trừ.” “Điều này bắt nguồn từ tinh thần Giáo sĩ trị. Các giáo sĩ cảm thấy mình là bề trên, xa lánh dân chúng; họ không có thời gian để lắng nghe người nghèo, người đau khổ, người bệnh tật và các tù nhân.”

Sự dữ mang tên “chủ nghĩa giáo sĩ trị” có diện mạo rất xấu xí! Nó là một phiên bản mới của các thượng tế thời xưa. Và nạn nhân cũng vẫn là những người nghèo và thấp bé vốn đang chờ đợi Đấng Cứu Thế. Chúa Cha luôn muốn gần gũi với chúng ta và Người đã sai chính Con Một xuống thế với chúng ta. Chúng ta đang chờ đón Ngài trong vui mừng và hân hoan. Nhưng Chúa Giêsu đã không tham gia trò chơi của các thượng tế; trái lại, Chúa Giêsu đã đến với các bệnh nhân, người nghèo, những người bị loại trừ, những người thâu thuế, người tội lỗi và những cô gái điếm. Ngày nay, Chúa Giêsu cũng đang nói với tất cả chúng ta và cả những người đang bị chủ nghĩa giáo sĩ trị ve vãn rằng: “Những người tội lỗi và gái điếm sẽ vào Nước Trời trước các ông.”

Đại Quang, SDB chuyển ngữ

ĐỨC THÁNH CHA PHAN-XI-CÔ: DỊP LỄ GIÁNG SINH NÀY, CHÚNG CON HÃY MỞ LÒNG MÌNH RA

Đại Quang, SDB chuyển ngữ

(Theo Zenit) – 15.12.2016 - “Dịp Lễ Giáng Sinh này, chúng con hãy mở lòng mình ra.” Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã đưa ra lời khích lệ đó trong buổi Tiếp Kiến Chung tại  hội trường Phaolô VI khi ngài tiếp tục loạt bài giáo lý mới, trình bày về niềm hi vọng Ki-tô giáo.

Khi nhắc nhớ những người hiện diện rằng họ đang tiến gần tới Lễ Giáng Sinh, Đức Thánh Cha chỉ cho thấy ngôn sứ I-sai-a có thể giúp chúng ta mở lòng ra đón nhận niềm hi vọng của Tin Mừng về ơn cứu độ đang đến.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã chia sẻ bài đọc trong ngày để minh họa rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi Dân Người và Ân Sủng của Ngài vượt lên trên mọi tội lỗi.

“Cha muốn hỏi chúng con câu này: Giữa Thiên Chúa và tội lỗi, bên nào lớn hơn? Bên nào sẽ thắng?” Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nhấn mạnh rằng tình yêu của Thiên Chúa có sức mạnh chiến thắng những tội lỗi kinh khủng nhất.

“Niềm vui Giáng Sinh tuyệt vời nhất chính là sự bình an trong tâm hồn. Niềm vui ấy có được khi ta biết rằng ‘Thiên Chúa đã xóa hết tội lỗi của tôi. Thiên Chúa đã tha thứ cho tôi. Thiên Chúa thương xót tôi. Thiên Chúa cứu vớt tôi.”

“Đây chính là niềm vui Giáng Sinh.”

Những lý do để hi vọng

“Khi mọi sự dường như đang qua đi, chúng ta phải đối diện với những thực tại đầy tiêu cực, niềm tin của chúng ta trở nên mệt mỏi, chúng ta bị cám dỗ khi thốt lên rằng chẳng có gì mang lại ý nghĩa; chính khi đó Tin Mừng xuất hiện.”

Thiên Chúa đang đến để làm điều gì đó mới mẻ. Khi Thiên Chúa thiết lập vương quốc hòa bình, mang lại tự do và niềm an ủi, thì chúng ta phải nhận ra rằng sự dữ sẽ chẳng bao giờ chiến thắng được.

“Bởi vì sự tuyệt vọng không bao giờ khuất phục được chúng ta, nên Thiên Chúa thúc dục chúng ta hãy tỉnh thức và hãy trở thành sứ giả của niềm hi vọng.”

“Thật tệ khi chúng ta gặp thấy một Ki-tô hữu đã đánh mất niềm hi vọng. ‘Tôi không còn tin tưởng vào điều gì nữa. Mọi sự đã chấm hết.’ Khi nói như vậy, người Ki-tô hữu này đã không thể nhìn xa hơn về phía chân trời của niềm hi vọng và trước mặt người này chỉ là một bức tường.”

“Nhưng Thiên Chúa phá hủy những bức tường bằng sự tha thứ. Chính vì điều này, chúng ta xin ơn tha thứ mỗi ngày và xin Ngài ban niềm hi vọng cho con người, một niềm hi vọng khi chúng ta nhìn vào Hài Nhi nơi máng cỏ Bê-lem.”

Sự khẩn thiết

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói rằng sứ điệp Tin Mừng được tín thác cho chúng ta trở nên rất cấp thiết, vì thế giới không thể chờ đợi công lý, chân lý và hòa bình.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô kết luận: “Khi chiêm ngắm Hài Nhi ở Bê-lem, những kẻ bé mọn trong cuộc đời này biết rằng lời hứa của Thiên Chúa đã được thực hiện. Sứ điệp đã trở thành hiện thực.”

“Nơi một Hài Nhi mới sinh, mỏng giòn, được quấn trong tã và được đặt trong máng cỏ, chúng ta nhận ra quyền năng của Thiên Chúa, Đấng cứu vớt con người.”

 

Đại Quang, SDB chuyển ngữ

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô công bố Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế giới lần thứ 50

Đại Quang, SDB

(Theo Zenit) – Dưới đây là nguyên văn sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 50 của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, sẽ được cử hành vào ngày 01 tháng 01 năm 2017.

Vào thời điểm đầu năm mới này, tôi chân thành cầu chúc hòa bình cho các dân tộc, cho các nguyên thủ quốc gia, cho các vị lãnh đạo các tôn giáo, cũng như những vị lãnh đạo xã hội dân sự. Tôi cầu chúc hòa bình sẽ đến với tất cả mọi người: người lớn cũng như trẻ nhỏ. Tôi cầu xin rằng hình ảnh của Thiên Chúa trong mỗi con người thúc đẩy chúng ta đón nhận nhau như những món quà thiêng liêng và có phẩm giá riêng do Thiên Chúa ban tặng. Cách riêng, tại những nơi đang xảy ra xung đột, chúng ta hãy tôn trọng phẩm giá con người và chọn phương pháp bất bạo động như là lối sống của chúng ta.

Đây là sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 50. Trong sứ điệp đầu tiên, Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI đã ngỏ lời không chỉ với người Công Giáo, nhưng với tất cả các dân tộc trên thế giới. Ngài viết: “Hòa bình là hướng đi chân thật duy nhất để đạt được sự tiến bộ cho con người, chứ không phải sự căng thẳng gây ra bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan đầy tham vọng, cũng  không phải sự khuất phục bằng bạo lực, hay sự đàn áp nhằm phục vụ cho một trật tự xã hội giả tạo.” Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cảnh báo về “sự nguy hiểm khi người ta tin rằng những bất đồng trong quan hệ quốc tế không thể giải quyết được bằng những cuộc đàm phán dựa trên pháp luật, công lý và công bằng, nhưng chỉ giải quyết được bằng con đường giết chóc.” Khi trích Thông Điệp Pacem in Terris – Hòa Bình Trên Trái Đất- của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, Đức Phaolô VI đã ca ngợi “ý nghĩa và tình yêu hòa bình được đặt nền tảng trên sự thật, công lý, tự do và tình yêu.” Dù đã trải qua 50 năm, nhưng những lời này không hề mất đi tầm mức quan trọng và tính cấp thiết của nó.

Trong dịp này, tôi muốn suy tư về phương pháp bất bạo động như là mô hình chính trị để đạt được hòa bình. Tôi cầu xin Thiên Chúa trợ lực để chúng ta có thể trau dồi tinh thần bất bạo động trong cách suy nghĩ, cũng nhưng trong việc theo đuổi các giá trị. Ước mong rằng các cá nhân trong xã hội, cũng như trong cộng đồng quốc tế, luôn đối xử với nhau bằng tình bác ái và tinh thần bất bạo động. Khi nạn nhân của bạo lực vượt qua được cám dỗ để không trả thù, họ trở thành những người cổ vũ đắc lực nhất cho việc kiến tạo hòa bình dựa trên tinh thần bất bạo động. Ước mong rằng tại các địa phương, cũng như trên thế giới, tinh thần bất bạo động trở thành dấu ấn của chúng ta trong các quyết định, trong các mối quan hệ, trong hành động và trong toàn bộ đời sống chính trị.

Một thế giới tan vỡ

Trong thế kỷ vừa qua, chúng ta đã chứng kiến 2 cuộc thế chiến tàn khốc, cùng với những đe dọa về thảm họa hạt nhân và những xung đột khác. Thật đáng buồn, ngày nay, chúng ta chứng kiến những cuộc chiến rải rác khắp nơi trên thế giới. Chúng ta không biết liệu thế giới ngày nay có ít chiến tranh hơn trước đây không; chúng ta cũng không dám nói chắc liệu những phương tiện truyền thông hiện đại ngày nay có làm cho con người ý thức hơn về bạo lực không, hay họ coi bao lực trở nên quen thuộc.

Chúng ta biết rằng những cuộc chiến rải rác khắp nơi trên thế giới đã gây ra biết bao đau khổ: chiến tranh ở nhiều quốc gia và châu lục; nạn khủng bố, tội phạm có tổ chức và những hành vi bạo lực không lường trước được; nạn lạm dụng mà những người di cư cũng như những nạn nhân của nhưng vụ buôn người phải gánh chịu; sự tàn phá môi trường. Rồi thế giới sẽ đi về đâu? Liệu bạo lực có mang lại những mục tiêu và giá trị bền vững không? Hay nó chỉ dẫn tới sự báo thù và cái vòng xung đột luẩn quẩn, vốn chỉ có lợi cho một số ít nhưng “lãnh chúa.”

Bạo lực không phải là giải pháp cho một thế giới tan vỡ. Sự đáp trả bạo lực bằng bạo lực chỉ đẩy người dân tới chỗ buộc phải di cư và chịu nhiều đau khổ, bởi vì một lượng lớn tài nguyên phải đưa vào phục vụ cho mục đích quân sự, nhu cầu hằng ngày của người trẻ không được đáp ứng, các gia đình, những người cao tuổi, những người tàn tật đối mặt với nhiều khó khăn. Tệ hại nhất, bạo lực giết chết con người, về mặt thể lý hay tinh thần.

Tin Mừng

Chúa Giêsu từng sống trong một giai đoạn có nhiều bạo lực. Nhưng Ngài dạy rằng chiến trường thực sự, nơi mà hòa bình và bạo lực đối mặt, lại là cõi lòng của con người: “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người.” (Mác-cô 7, 21) Nhưng sứ điệp của Chúa Giêsu lại mang yếu tố rất tích cực. Ngài không ngớt rao giảng về tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa – tình yêu ấy có khả năng mở rộng vòng tay đón tiếp và tha thứ. Chúa Giêsu dạy các môn đệ của mình yêu thương ngay cả kẻ thù (Mát-thêu 5, 44) và nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái(Mát-thêu 5, 39). Khi Chúa Giêsu ngăn cản những người tố cáo muốn ném đá người phụ nữ ngoại tình (Gioan 8, 1-11) và trong đêm trước ngày chịu nạn, Chúa Giêsu nói với Thánh Phêrô hãy xỏ gươm vào vỏ (Mát-thêu 26,52), Chúa Giêsu muốn giới thiệu nẻo đường bất bạo động. Chính Chúa Giêsu đã đi con đường đó cho tới cùng, cho tới Cây Thập Giá; qua đó Ngài đã trở thành nguồn bình an cho chúng ta và chấm dứt sự thù địch (Ê-phê-sô 2, 14-16). Bất kỳ ai đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu, người ấy có khả năng chấp nhận bạo lực bên trong tâm hồn mình và để cho lòng thương xót của Thiên Chúa chữa lành; người đó cũng có khả năng trở thành khí cụ của sự hòa giải. Nói theo lời của Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di, đó là: “Khi con loan báo sự bình an bằng môi miêng, thì phải đảm bảo rằng sự bình an trong lòng con phải lớn hơn thế.”

Ngày nay, việc trở thành môn đệ đích thực của Chúa Giêsu còn có nghĩa là theo đuổi giáo huấn của Ngài về tinh thần bất bạo động. Đấng tiền nhiệm của tôi, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI từng nói rằng: Giáo huấn của Chúa Giêsu rất thực tiễn bởi vì nó nói lên rằng trong một thế giới có quá nhiều bạo lực và bất  công, thì tình yêu và lòng nhân từ phải lớn hơn nữa mới thắng thế được. Tình yêu “lớn hơn nữa” phải đến từ Thiên Chúa. Đức Bê-nê-đích-tô còn nhấn mạnh rằng: “Đối với các Ki-tô hữu, phương pháp bất bạo động không đơn thuần là một chiến thuật, mà còn là cách thức hiện hữu và là thái độ của người xác tín rằng họ không sợ phải đối đầu với sự dữ chỉ bằng tình yêu và sự thật. Việc yêu thương cả kẻ thù trở thành hạt nhân của cuộc cách mạng Ki-tô giáo. Việc Tin Mừng mời gọi chúng ta yêu thương kẻ thù chính là con đường bất bạo động. Chúng ta được mời gọi đáp trả cái ác bằng sự thiện (Thư Rôma 12,17-21) và phá vỡ cái vòng bất công.

Đôi khi người ta coi phương pháp bất bạo động là cách đầu hàng, là thụ động, là thiếu sự quan tâm; nhưng thực sự không phải như vậy. Khi Mẹ Tê-rê-sa nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1979, Mẹ đã trình bày một cách rõ ràng sứ điệp bất bạo động của mình rằng: “Trong gia đình, chúng ta không cần bom, đạn để đạt  được hòa bình – chúng ta chỉ cần đến với nhau và yêu thương nhau…Và chúng ta có thể vượt thắng được tất cả s dữ trên thế giới.” Sức mạnh võ trang chỉ mang tính lừa dối. “Trong khi những kẻ buôn bán vũ khí tiếp tục trục lợi, thì những người xây dựng hòa bình nghèo khó vẫn cho đi cuộc sống của chính mình để giúp đỡ người khác. Những người kiến tạo hòa bình đó trở thành tấm gương trong thời đại chúng ta.” Tháng 09 vừa qua, tôi vui mừng tuyên Thánh cho Mẹ Tê-rê-sa. Tôi đã ca ngợi Mẹ Tê-rê-sa về sự sẵn lòng để đón tiếp và bảo vệ sự sống con người, bảo vệ những trẻ em chưa được sinh ra, những người bị bỏ rơi và những người bị gạt ra bên lề xã hội. Mẹ đã cúi xuống chăm sóc những người hấp hối bên vệ đường, nhìn thấy nơi họ phẩm giá con người mà Thiên Chúa đã ban tặng. Mẹ đã lớn tiếng với các cường quốc trên thế giới, để họ cảm thấy có lỗi về tội ác của mình – về sự nghèo đói mà họ đã gây ra. Mẹ Tê-rê-sa đã đứng lên bảo về hàng ngàn, thậm chí hàng triệu người đau khổ qua việc dấn thân quảng đại, băng bó vết thương cho họ và chữa lành những cõi lòng tan nát.

Việc thực hành phương pháp bất bạo động một cách kiên trì và nhất quán đưa đến những kết quả thật ấn tượng. Những thành tựu của Mahatma Gandhi và Khan Abdul Ghaffar Khan trong việc giải phóng Ấn Độ, hay của Tiến sĩ Martin Luther King Jr trong cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc sẽ không bao giờ bị lãng quên. Cách riêng, phụ nữ thường là những người dẫn đầu phong trào đấu tranh bất bạo động, chẳng hạn như mẫu gương của Leymah Gbowee, và của hằng ngàn phụ nữ ở Liberia, đã tổ chức những buổi thắp nến cầu nguyện và biểu tình, cuối cùng đã dấn đến những cuộc hòa đàm cấp cao và kết thúc cuộc chiến ở Liberia.

Chúng ta cũng không thể nào quên được thập kỷ mà chế độ cộng sản ở Châu Âu sụp đổ. Trong biến cố đó, những cộng đồng Ki-tô giáo có đóng góp riêng qua việc cầu nguyện liên lỉ và những hành động can đảm. Cách riêng, công việc mục vụ và giáo huấn của Thánh Gioan Phaolô II đóng một vai trò quan trọng. Trong Thông Điệp Centesimus Annus – Bách Chu Niên – gợi nhớ lại những sự kiện đã xảy ra vào năm 1989, Đức Gioan Phaolô II đã nêu bật lên rằng sự thay đổi quan trọng trong đời sống của dân chúng và các quốc gia đến từ những cuộc biểu tình ôn hòa, mà vũ khí được sử dụng là sự thật và công lý.” Sự chuyển giao chính trị một cách hòa bình thực hiện được là do dân chúng theo đuổi phương pháp bất bạo động, từ chối sử dụng sức mạnh và thành công trong việc tìm ra những cách thế hữu hiệu làm chứng cho chân lý. Đức Gioan Phaolô II viết: “Nhiều người dân học cách đấu tranh cho công lý khi từ chối sử dụng bạo lực, từ chối đấu tranh giai cấp trong những tranh chấp nội bộ và chiến tranh ở cấp độ thế giới.”

Giáo Hội đã dấn thân kiến tạo hòa bình qua con đường bất bạo động ở nhiều quốc gia, phải đối mặt với những đảng phái chính trị có xu hướng rất bạo lực, trong nỗ lực kiến tạo một nền hòa bình công bằng và bền vững.

Những nỗ lực mang lại hòa bình cho các nạn nhân của sự bất công và bạo lực không phải là di sản của riêng Giáo Hội Công Giáo, nhưng nó là sự đóng góp của nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó lòng thương xót và tinh thần bất bạo động là những yếu tố quan trọng hướng tới sự sống. Tôi dứt khoát khẳng định rằng “không có tôn giáo nào là khủng bố.” Bạo lực làm ô uế danh Thiên Chúa. Chúng ta hãy lập lại một cách mạnh mẽ rằng “Không ai được nhân danh Thiên Chúa để biện minh cho bạo lực. Chỉ có hòa bình là thánh thiện, chứ không phải chiến tranh.”

Gia đình chính là nền tảng của hình thức chính trị bất bạo động

Nếu bạo lực có nguồn gốc từ trong lòng con người, thì tinh thần bất bạo động được thực thi trước hết trong gia đình. Điều này là một phần của niềm vui yêu thương mà tôi đã mô tả trong Tông Huấn Amoris Laetitia được công bố vào tháng 03 vừa qua, sau 2 năm tôi suy tư về cái nhìn của Giáo Hội trong tương quan với hôn nhân và gia đình. Gia đình chính là môi trường vô cùng quan trọng để vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em học cách để giao tiếp với nhau, học cách quan tâm tới nhau, trong đó những xích mích và thậm chí xung đột, phải được giải quyết, không phải bằng bạo lực, nhưng bằng đối thoại, bằng sự tôn trọng, bằng sự quan tâm tới thiện ích của người khác, bằng lòng thương xót và sự tha thứ. Từ gia đình, niềm vui yêu thương lan tỏa ra thế giới và xã hội. Tình huynh đệ và sự chung sống trong hòa bình giữa các cá nhân với nhau không thể dựa trên sự sợ hãi, bạo lực và khép kín, nhưng phải bằng trách nhiệm, sự tôn trọng và sự đối thoại chân thành. Do đó, tôi kêu gọi việc giải trừ quân bị, cấm cũng như bãi bỏ vũ khí hạt nhân: việc răn đe hạt nhân và sự đe dọa hủy diệt lẫn nhau sẽ không bao giờ đạt được những giá trị nêu trên. Tôi khẩn thiết kêu gọi chấm dứt nạn bạo lực gia đình và lạm dụng phụ nữ và trẻ em.

Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót – kết thúc vào tháng 11 vừa qua – khích lệ mỗi người chúng ta nhìn sâu vào cõi lòng mình và để cho lòng thương xót của Thiên Chúa đi vào cuộc đời chúng ta. Năm Thánh cho chúng ta thấy có biết bao nhiêu cá nhân và các nhóm trong xã hội đang bị cư xử với sự dửng dưng, bất công và bạo lực. Họ là một phần của gia đình chúng ta; họ là anh chị em chúng ta. Hình thức chính trị bất bạo động phải được khởi đi từ gia đình, sau đó mới được lan tỏa ra cho toàn thể gia đình nhân loại. “Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu mời gọi chúng ta thực hành yêu thương qua con đương bé nhỏ, chẳng hạn không bỏ qua một lời nói tử tế, một nụ cười, một cử chỉ bé nhỏ mang lại bình an và tình bằng hữu. Một bầu khí yêu thương trọn vẹn phải được dệt nên bởi những cử chỉ đơn sơ mỗi ngày, nhằm phá tan bạo lực, sự lợi dụng và ích kỷ.”

Lời mời gọi của tôi

Việc kiến tạo hòa bình ngang qua phương pháp bất bạo động chính là sự bổ sung tự nhiên và cần thiết cho những nỗ lực liên lỉ của Giáo Hội trong việc giới hạn sử dụng bạo lực, thay vào đó là việc thực hành các chuẩn mực đạo đức. Giáo Hội theo đuổi điều này ngang qua các tổ chức quốc tế của mình, cũng như ngang qua sự  đóng góp của rất nhiều những Ki-tô hữu trong việc soạn thảo luật ở các cấp. Chúa Giêsu đã đưa ra cẩm nang hướng dẫn để đạt được hòa bình qua Bài Giảng Trên Núi. Tám Mối Phúc Thật phác thảo ra chân dung của người được coi là có phúc, tốt lành và chân thật. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng phúc thay ai hiền lành, phúc thay ai có lòng thương xót, phúc thay ai kiến tạo hòa bình, phúc thay ai có lòng trong sạch và phúc cho ai đói, khát sự công chính.

Đây chính là thách đố cho những nhà lãnh đạo chính trị, cũng như tôn giáo, cho các vị đứng đầu các tổ chức quốc tế, cho giới kinh doanh và truyền thông: để áp dụng Tám Mối Phúc Thật vào trong lĩnh vực của họ. Việc kiến tạo xã hội, cộng đồng và doanh nghiệp theo con đường hòa bình là một thách đố. Nó chính là việc bày tỏ lòng thương xót khi từ chối việc loại trừ người khác, hủy hoại môi trường hay đạt được mục đích bằng mọi giá. Để làm được như thế, chúng ta phải sẵn sàng đối mặt với những xung đột, cố gắng giải quyết và đưa nó vào một tiến trình mới. Hành xử theo cách này có nghĩa là chọn tình liên đới như là cách thức làm nên lịch sử, cũng như kiến tạo tình bằng hữu trong xã hội. Bất bạo động là phương pháp chỉ ra rằng sự hiệp nhất có sức mạnh và mang lại hoa trái nhiều hơn là xung đột. Mọi sự trên thế giới đều có tương quan với nhau. Những khác biệt có thể gây ra xích mích. Nhưng chúng ta hãy đối diện với những khác biệt trên tinh thần xây dựng và bất bạo động, hầu để những căng thẳng và sự đối lập mang tới một sự hợp nhất trong đa biệt, bảo tồn được những giá trị và ích lợi cho cả hai phía.”

Tôi cam kết rằng Giáo Hội sẽ luôn hỗ trợ mọi nỗ lực kiến tạo hòa bình ngang qua hình thức bất bạo động.

Vào ngày 01 tháng 01 năm 2017, Ủy Ban Thăng Tiến Con Người vừa mới được thành lập sẽ bắt đầu công việc của mình. Ủy Ban này sẽ giúp Giáo Hội một cách hiệu quả hơn trong việc thăng tiến công lý, hòa bình, chăm sóc môi trương, quan tâm tới di dân, người nghèo, người ốm đau, những người vô gia cư và sống bên lề xã hội, tù nhân, những người thất nghiệp, nạn nhân của những cuộc xung đột, nạn nhân của những thảm họa thiên nhiên, nạn nhân của mọi hình thức nô lệ và tra tấn. Việc quan tâm tới những thành phần trên, dẫu còn khiêm tốn, nhưng sẽ giúp kiến tạo một thế giới không có bạo lực; đây chính là bước đi đầu tiên để mang lại công lý và hòa bình.

Kết luận

Theo truyền thống, tôi đã ký sứ điệp này vào ngày 08 tháng 12, nhằm Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đức Maria là Nữ Vương Hòa Bình. Khi Chúa Giêsu con Mẹ sinh ra, các Thiên Thần đã ngợi khen Thiên Chúa và cầu chúc bình an cho những người thiện tâm (Lu-ca 2, 14) Chúng ta hãy xin Mẹ Maria hướng dẫn chúng ta.

“Ai trong chúng ta cũng mong muốn hòa bình. Rất nhiều ngươi đã kiến tạo hòa binh mỗi ngày, ngang qua những cử chỉ và hành động nhỏ bé; Nhiều người đang trải qua đau khổ, nhưng vẫn kiên trì, nỗ lực xây dựng hòa bình. Ước mong rằng trong năm 2017, chúng ta luôn cầu nguyện và tích cực xua tan bạo lực trong cõi lòng mình, trong lời nói, trong hành động để trở thành người cổ xúy cho tinh thần bất bạo động, xây dựng cộng đồng bất bạo động để chăm sóc cho ngôi nhà chung của chúng ta. “Chẳng có điều gì là không thể khi chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa. Ai cũng có thể trở thành người kiến tạo hòa bình.”

Vatican ngày 08 tháng 12, năm 2016

Giáo Hoàng Phan-xi-cô

 

Đại Quang, SDB chuyển ngữ

Bánh Sinh nhật cho Đức Thánh Cha. Ngài đùa: “Tại quê nhà của cha, mọi lời cầu chúc tốt đẹp trước thời gian thường mang lại điều chẳng lành”

Văn Chính, SDB

Một phụ nữ trao cho Đức Thánh Cha một chiếc bánh với 2 ngọn nến với hình số “8” và “0”

Ngày 14.12.2016: Trong buổi diễn từ ngày thứ Tư hôm qua, một điều không thể thiếu là những lời cầu chúc tốt đẹp nhất dành cho Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, dẫu còn vài ngày nữa mới tới ngày sinh nhật thứ 80 của ngài: Ngày thứ Bảy 17.12. Giữa tiếng vỗ tay chúc mừng của đoàn hành hương, những cái bắt tay và ôm hôn chúc mừng tại Hội trường Phao-lô VI, một phụ nữ đã dâng tặng Đức Thánh Cha một chiếc bánh trên đó có 2 cây nến nhỏ có hình số “8” và số “0”.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô dừng lại một lúc, rồi thổi tắt nến. Sau đó, ngài nói đùa về những lời chúc mừng trước dịp lễ của ngài với lời như sau: “Cám ơn mọi người về những lời chúc mừng sinh nhật sắp tới của cha. Cám ơn nhiều lắm. Nhưng cha cũng nói với anh chị em một điều sẽ làm anh chị em phải cười đấy: Tại quê nhà của cha, khi bày tỏ những lời cầu chúc tốt đẹp trước thời gian, thì thường mang lại sự điều chẳng lành đâu! Và ai nói những lời cầu chúc tốt lành trước thời gian, lại là người “nói lời nguyền” đấy.

Như Văn phòng Báo chí của Tòa Thánh thông báo ngày hôm qua, bất cứ ai muốn gởi lời chúc mừng cho Đức Thánh Cha, có thể thực hiện qua email với những địa chỉ sau:

·         This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (tiếng La-tinh); 

·         This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (tiếng Ý);

·         This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha); 

·         This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (tiếng Anh);

·         PapeFrancois80.vatican.va (tiếng Pháp); 

·         This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (tiếng Đức);

·         This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (tiếng Ba Lan).

Truyền thông sẽ tạo một Hastag Pontifex80: #Pontifex80.

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Chúc mừng sinh nhật 80 của Đức Thánh Cha vào cuối tuần này!

Văn Chính, SDB

Hashtag #Pontifex80 sẽ được thiết lập trên truyền thông vào ngày thứ Bảy.

14 Tháng 12, 2016: Vào ngày thứ Bảy cuối tuần này, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô sẽ mừng sinh nhật lần thứ 80.

Nhân ngày sinh nhật của ngài, sẽ có Thánh lễ đồng tế tại nguyện đường Pauline do Đức Thánh Cha Phan-xi-cô chủ sự cùng với các Đức Hồng Y tại Rô-ma đồng tế.

Ngoài ra, thời gian trong ngày vẫn “bình thường” với những buổi gặp gỡ, tiếp kiến. Ngài sẽ tiếp kiến Tổng thống của Cộng Hòa Malta, Tổng trưởng Thánh bộ Các Giám mục, Đức cha của địa phận Chur, Thụy Sĩ, và cộng đoàn Nomadelfia.

Những ai muốn gởi lời chúc mừng Đức Thánh Cha, có thể gởi qua email theo các địa chỉ sau:

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (tiếng Latin)

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (tiếng Ý)

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (Tiếng Tây Ban Nha / Bồ Đào Nha)

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (Tiếng Anh)

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (Tiếng Pháp)

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (Tiếng Đức)

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  (Tiếng Ba Lan)

Sẽ có một “hashtag” đặc biệt được tạo ra trên Truyền thông nhân dịp ngày sinh nhật của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô: #Pontifex80

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

 

Ghi chú:

Hashtag là gì?

Trong thời gian gần đây chắc hẳn bạn đã từng nghe qua cụm từ hashtag. Đây là một cách đánh dấu khá thú vị được sử dụng trên một số mạng xã hội phổ biến như Twitter, Google+, YouTube. Dấu hiệu để nhận biết hashtag đó là các cụm từ theo sau dấu # xuất hiện trong một lời bình luận, một trạng thái nào đó. Vậy hastag là gì? Nó được tạo ra như thế nào và người ta đã áp dụng nó vào đời sống như thế nào?

Hashtag là gì?

Trong thế giới công nghệ, hashtag là một từ (hoặc một chuỗi các kí tự liên tiếp nhau) được đặt sau dấu #. Người ta còn gọi hashtag là hash symbol và đây là một dạng metadata (dữ liệu dùng để mô tả cho một dữ liệu khác - data about data). Hiện chúng ta có thể thấy hashtag xuất hiện rất nhiều trên các mạng xã hội như Twitter, Instagram, Google+, Tumblr. Các bạn lưu ý rằng ở hầu hết các nơi trên mạng, hashtag không cho phép có khoảng trắng. Một ví dụ điển hình của việc sử dụng hashtag là như sau:

#pontifex80

 

Hashtag được sử dụng như một công cụ giúp nhóm nhiều thông tin lại với nhau, chính vì thế bạn có thể nhấn vào một hashtag và xem được tất cả những thông điệp chứa hashtag đó. Ví dụ, khi vào Twitter, bạn nhấn vào tag #Tinhte thì tất cả những dòng tweet với chữ này sẽ xuất hiện cho bạn xem. Nó cũng gần giống với cách hoạt động của tính năng tag ở bài viết trên Tinh tế. Thông thường, đối với một thông điệp nào đó thì chúng ta có thể gắn một hoặc nhiều hashtag tùy nhu cầu.

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %