Tin Mới nhất:
  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


TIN GIÁO HỘI

Các nhà phân tích đánh giá thấp cuộc gặp gỡ của Đức Giáo Hoàng với ông Obama

'Kết quả rất ít hoặc chẳng có gì' đó là ý kiến của các nhà phân tích

Sáng ngày 27 tại Vatican, Tổng thống Obama rất vui mừng về cuộc họp đầu tiên của mình với Đức Thánh Cha Phan-xi-cô. Như tờ New York Times đưa tin, Đức Thánh Cha và Tổng thống gặp nhau trong thư viện của Giáo hoàng và nói chuyện trong khoảng 52 phút. Không có nội dung chi tiết nào của cuộc gặp gỡ được tiết lộ.

Russel Shaw chuyên gia và là người phụ trách chuyên mục cung cấp thông tin tờ Aleteia nói về cuộc gặp gỡ này:

Quá nhiều điều diễn ra trong cuộc gặp gỡ này. Tôi cho rằng đây là điều thu hút không ngừng của các phương tiện truyền thông với Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô. Nhưng trong suốt thời gian cuộc gặp gỡ của cả hai người cùng với các nhà lãnh đạo thế giới khác không có kết quả gì nhiều. Hay nói cách khác, cuộc gặp gỡ này cũng sẽ chẳng đưa lại kết quả gì. Đức Thánh Cha và Tổng thống vẫn tiếp tục đồng ý về vấn đề nghèo đói, nhưng không đồng ý về việc phá thai, và chỉ có thế. Tôi vui vì họ đã ngồi lại với nhau – đó là một điều tốt đẹp nên làm – nhưng kết quả sẽ ít hoặc không có gì thay đổi.

Edward Mulholland chuyên gia tờ Aleteia, giáo sư phụ tá ngôn ngữ cổ điển Đại học Benedic ở Atchison, Kansas, đưa ra một phản ánh tương tự :

“Chúng ta có xu hướng quên rằng công việc của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô là mở ra con đường vượt xa hơn cả nước Mỹ. Nếu bạn đọc các bài báo về các cuộc gặp gỡ của ngài với các nhà lãnh đạo thế giới, bạn sẽ thấy rằng chúng khá chuẩn. Tuy nhiên, tất cả chúng chủ yếu bao hàm một cuộc thảo luận về tự do tôn giáo. Tôi hy vọng Tổng thống Obama nói chuyện một cách kính trọng và cởi mở với Đức Thánh Cha. Nếu họ có một bất đồng lớn (không giống trong cuộc gặp đầu tiên) chúng ta có thể sẽ không được biết một cách chính thức về điều đó.”

Và John Zmirak, chuyên gia và là người đóng góp thường xuyên cho tờ Aleteia, hy vọng rằng cuộc gặp gỡ này truyền cảm hứng cho Tổng thống Obama suy tư về các nguồn gốc căn cốt của những thất bại trong nhiệm kỳ tổng thống của mình:

“Sau sáu năm thấy ông ấy vùng vẫy, trầy trụa với những khát vọng mãnh liệt của mình chống lại chông gai của thế giới thực, không ai đặt nhiều “hy vọng” vào Tổng thống Obama, và không ai sợ ông ấy sẽ ảnh hưởng nhiều về “sự thay đổi” nữa. Thay vào đó chúng ta lần lần cảm thấy bực tức, hài hước, thậm chí thương hại cho ông ta. Hầu hết thời gian, ông ta có biểu hiện xấu hổ, giống như những ai tôi nhìn thấy ở phòng khám thú y nắm chặt vật cưng với rất nhiều thương tích.

“Nói cách khác, ông Obama là hiện thân hoàn hảo của sự thảm bại vô vọng, hiện thân của người có cái nhìn bài Cơ đốc giáo, nỗ lực làm cho trái đất trở thành thiên đường của những khoảnh khắc hạnh phúc dành cho con người. Và Đức Thánh Cha Phan-xi-cô chỉ là người giúp ông ta lấy lại tất cả những mảnh vỡ nhỏ, giá trị đó.

“Nếu như có bất cứ một động cơ tôn giáo thực sự đằng sau lời ngọt ngào của ông Obama với các nhà hoạt động công bằng xã hội Công giáo, có lẽ cuộc gặp gỡ với “Người” mà linh đạo của ngài bao gồm niềm hy vọng thực sự cho sự thay đổi vĩnh viễn sẽ mang lại cho cuộc sống một tia sáng nhỏ – và nhắc nhở Tổng thống rằng công lý và bình đẳng chỉ trở nên vấn đề nếu bản thân con người là vấn đề, và nếu con người không chỉ là một loài linh trưởng cấp cao tìm kiếm sự thỏa mãn bản năng. Bằng chứng con người đích thực đó chỉ có thể tìm thấy trên Thập giá.”

 

Nguồn: Aleteia.org

 

Đức Phan-xi-cô nghênh đón Tổng thống Barrack Obama đến Rôma

Bất bình đẳng trên thế giới nằm đầu nghị trình thảo luận

Tổng thống Barrack Obama có cuộc hội kiến lịch sử đầu tiên với Đức Thánh cha Phan-xi-cô hôm thứ Năm. Hai bên thảo luận một nghị trình chung về chống bất bình đẳng trên thế giới mặc dù có những bất đồng lớn về những vấn đề như quyền của người đồng tính và biện pháp tránh thai.

Ông Obama phát biểu với Đức Phan-xi-cô rằng ông “hết sức thán phục” vào lúc bắt đầu cuộc hội đàm tại Vatican, theo các nhà quan sát chính trị đây có thể là nỗ lực giành sự ủng hộ từ phía cử tri Công giáo trong nước của tổng thống Mỹ.

Tháp tùng ông Obama có Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và phái đoàn được Đội cận vệ Thụy Sĩ và các viên chức phụ giúp tiếp đón khách của Đức Thánh Cha dẫn đi qua Điện Tông Tòa đến phòng đọc sách của ngài.

Tổng thống Mỹ gốc châu Phi đầu tiên nói Đức Giáo Hoàng đầu tiên đến từ Mỹ Latinh là “nguồn cảm hứng” trong cuộc phỏng vấn với tờ nhật báo Corriere della Sera.

“Đức Thánh Cha là nguồn cảm hứng cho nhiều người trên thế giới trong đó có tôi”, ông Obama nói và thêm rằng tuy nhiên “Điều đó không có nghĩa là chúng tôi nhất trí về mọi vấn đề”.

Cuộc hội kiến là bước ngoặt đáng nhớ đối với ông Obama trong chuyến công du châu Âu dài sáu ngày dưới sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Crimea, và chắc chắn lãnh đạo Mỹ hy vọng sẽ có những tác động tích cực sau cuộc hội đàm với vị giáo hoàng được nhiều người yêu mến này.

Ông Obama “chủ yếu muốn tranh thủ hào quang của Đức tân Giáo hoàng, theo tôi nghĩ”, Jeremy Shapiro, thỉnh giảng viên tại Viện Brookings Washington, phát biểu.

Mục đích chính của ông là “nhấn mạnh cả hai người đều chú ý đến vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng. Đây thật sự không phải là giai đoạn dành cho chính sách ngoại giao”, ông nói.

Trước khi diễn ra cuộc hội kiến, Đức Phan-xi-cô dâng Thánh lễ cho một nhóm 500 chính trị gia người Ý, trong Thánh lễ ngài cảnh báo họ đừng “nhẫn tâm” và “tham nhũng”.

Ông Obama còn hội kiến Thủ tướng Ý Matteo Renzi, lãnh đạo chính phủ trẻ nhất của Liên Minh Châu Âu, và Tổng thống Giorgio Napolitano, và tham quan khu đấu trường Colosseum.

Quan hệ ngoại giao giữa Ý và Mỹ thân mật, mặc dù Rôma thận trọng về việc áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Nga về cuộc khủng hoảng ở Ukraine, giữa lúc xảy ra lo sợ việc này sẽ gây thiệt hại cho thị trường chính.

Trong cuộc phỏng vấn, ông Obama nhấn mạnh “vai trò then chốt” của Ý trong khu vực Địa Trung Hải, khen ngợi ông Renzi đã viếng thăm Tunisia trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên và nói Washington và Rôma đang cộng tác tái thiết Libi.

Ông Obama nói hồi đầu tháng này rằng việc ông kêu gọi tăng thuế đối với người giàu và ngăn chặn các vụ lạm dụng của các ngân hàng lớn có nền tảng đạo đức vững chắc, đòn đánh vào đảng Cộng hòa trong năm bầu cử và lặp lại lời Đức Thánh Cha kêu gọi hành động chống gia tăng bất bình đẳng trên thế giới.

Tuy nhiên, các chuyên gia Vatican nói quan hệ hai bên không thân thiện như trước đây giữa Đức Thánh cha Gioan Phaolô II và Tổng thống Ronald Reagan, và không chắc gì Đức Phan-xi-cô sẽ không thảo luận với ông Obama về chính sách nội địa và ngoại giao.

Chuyên gia Vatican John Allen viết trên tờ The Boston Globe rằng chính quyền Obama muốn gây “ấn tượng về một đại đồng minh đại diện người nghèo trên thế giới … vừa là phần di sản cuối cùng của mình vừa nhắm hướng tới các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào mùa thu này”.

Tuy nhiên ông chỉ rõ “những tương phản” và “bất đồng rõ ràng” và nói “quan hệ sâu đậm” giữa hai nhà lãnh đạo … có khả năng không xảy ra”.

Đức Thánh Cha lớn tiếng mạnh mẽ chống đề xuất can thiệp quân sự của Mỹ ở Syria năm ngoái, và đã tổ chức canh thức cầu nguyện chung tại Vatican.

Các lãnh đạo Công giáo Mỹ cũng đã nhiều lần thách thức việc thực thi Luật Chăm sóc y tế với giá phải chăng của ông Obama, và lập luận rằng luật này vi phạm quyền tự do tôn giáo bằng cách yêu cầu các tập đoàn kiếm lời đóng bảo hiểm tránh thai.

Tranh cãi xung quanh Luật Chăm sóc sức khỏe với giá phải chăng và số người ủng hộ ông Obama giảm có nguy cơ dẫn đến đảng Cộng hòa giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Thượng viện sắp tới, điều này sẽ làm lãnh đạo Mỹ suy yếu đáng kể trong hai năm nắm quyền còn lại.

Những lời ủng hộ của Đức Phan-xi-cô chắc chắn sẽ cải thiện được tình hình của ông: khảo sát của đại học Saint-Leo cho thấy Đức Phan-xi-cô được 85% người Công giáo và 63% người Mỹ yêu mến.

 

Trong khi đó kết quả thăm dò do CBS News và tờ New York Times phát hành tháng trước cho thấy chỉ có 41% ủng hộ ông Obama. AFP

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô Khuyên Các Bạn Trẻ Ở Guidonia: “Hãy Làm Chứng Cho Đức Tin Với Niềm Vui Và Đừng Dính Bén Đến Danh Tiếng”

Minh Tuấn, SDB

Ngày 17 tháng Giêng năm 2017 – Trong cuộc nói chuyện gần đây với các bạn trẻ mới chịu phép thêm sức tại Giáo xứ Thánh Maria, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô bộc lộ rằng: “Đời sống đức tin của cha cũng có lúc cảm nghiệm những ngày tháng tăm tối.”

Đó là một buổi chiều không thể nào quên tại Giáo xứ Thánh Maria ở Setteville Guidonia ngập tràn niềm vui vì sự viếng thăm của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô. Đức Thánh Cha đã tới nơi vào lúc 3 giờ 40 phút chiều, và trước hết ngài chào thăm cha Giuseppe Bernardino, là cha phụ tá, năm nay ngài 50 tuổi đang phải đau khổ vì bệnh teo cơ. Sau khi trò chuyện một chút và cầu nguyện, Đức Thánh Cha đã ban cho ngài Bí tích Xức dầu Bệnh nhân.

Trong hai tiếng đồng hồ sau đó, Đức Thánh Cha đã gặp các thành phần trong giáo xứ, trong đó có 30 người già và bệnh tật, trong đó có ba trẻ em đang đau khổ vì bệnh đao; rồi các giáo lý viên trẻ, rồi rất nhiều bạn trẻ đã học xong lớp Thêm sức, cũng như các em trong nhóm hướng đạo sinh, với các em này ngài đã trao đổi và trả lời các câu hỏi của các em cả hơn nửa tiếng đồng hổ.

Sau đó, Đức Thánh Cha đã thăm viếng 45 trẻ em đã được rửa tội trong năm 2016 và ngài đã nhắc nhở cha mẹ của chúng về tầm quan trọng của gia đình. Rồi ngài có cuộc gặp gỡ với khoảng một trăm người là thành viên của của công tác mục vụ cùng với cha xứ Luigi Tedoldi. Đức Thánh Cha đã đưa ra cho họ một số những lời khuyên đặc biệt về truyền giáo.

Sau khi chào thăm các linh mục và năm chủng sinh của giáo xứ, Đức Thánh Cha đã đi vào phòng thánh để giải tội cho bốn hối nhân: một cặp vợ chồng trẻ đang chăm sóc cho cha phụ tá, một người trẻ đang học lớp Thêm sức, và một ông bố có một người con bệnh tật.

Lúc 5:40 bắt đầu Thánh Lễ, trong đó Đức Thánh Cha có bài giảng ngắn đặc biệt suy tư về sự nguy hiểm của “nói xấu” và đặc biệt là về những chuyện tầm phào nhất là trong môi trường giáo xứ.

Ngay trước khi tạm biệt giáo xứ, Đức Thánh Cha đã chào thăm rất đông các tín hữu đang đứng trước nhà thờ theo dõi qua màn ảnh rộng trong dịp thăm viếng của Đức Thánh Cha.

Trong dịp gặp gỡ với các bạn trẻ mới chịu phép Thêm sức, Đức Thánh Cha đã cám ơn các em vì đã thiết kế và phản ánh về vấn đề luôn tái diễn trong các giáo xứ: Bí tích Thêm sức như là “bí tích cuối cùng,” sau đó rất nhiều người sẽ không còn đi tới các nguyện xá thường xuyên nữa.

Đức Thánh Cha bình luận: “Sau khi Thêm sức, nếu các con còn tới đây, đó là vấn đề. Và sự thật là các con đang ở đây là một ân sủng của Chúa. Thiên Chúa đã ban cho chúng con ân huệ này là không để cho Bí tích Thêm sức là bí tích “vĩnh biệt” cho tới ngày chúng con kết hôn. Rất nhiều năm không có cộng đoàn…và chúng con được Thiên Chúa tuyển chọn đề làm nên một cộng đoàn. Đây là điều đặc biệt.”

Một điểm khác nữa Đức Thánh Cha đề cập trong buổi thảo luận với những người trẻ đó là về “chứng tá Kitô hữu,” đó là về việc “nói về Thiên Chúa với niềm vui.” Mà nhiều người lại làm điều đó “với sự buồn tẻ.” Hơn nữa, ngài nói thêm rằng, chẳng có ý nghĩa gì khi chúng ta “đi lễ mỗi Chúa Nhật” trong khi “tôi không nói chuyện với cha mẹ tôi, tôi không thích người già, tôi không giúp đỡ người nghèo, tôi không đi thăm viếng người bệnh tật.” Chỉ làm chứng bằng “lời nói” và “con tim” thì chưa đủ nhưng cũng cần thiết bằng đôi tay, khi chúng ta biết “cho đi chính mình,” “mở ra với những người khác,” “chấp nhận họ như họ là” và biết sống “khiêm tốn,” “tha thứ” và “làm các công việc bác ái.”

Một lần nữa, Đức Thánh Cha cảnh báo về những nguy hiểm của “Kitô hữu duy danh,” được hiểu như là một thái độ chỉ để “thuyết phục” ai đó không tin, hay như là thực hiện một sáng kiến mới.  Thay vào đó, nó phải là một cơ hội đề “sống nhằm cho người khác phải thắc mắc và hỏi rằng: “Tại sao bạn lại hành xử như vậy? Tại sao bạn lại làm thế? Vì vậy, thật quan trọng là làm gương và làm chứng, vì thế “Chúa Thánh Thần sẽ ngự vào tâm hồn, và sẽ cho chúng ta không biết mệt mỏi để làm chứng tá Kitô hữu.”

Nói về “sự tha thứ,” Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã thừa nhận rằng, “nó thật khó nhưng có thể làm được” bởi vì thường thì “vết thương có thể được chữa lành […] nhưng còn lại sẹo.” Và ngài đã nhắc nhở rằng, tha thứ không phải là “của bố thí” nhưng “phải được phát xuất từ trái tim, và phải bắt đầu cư xử với người ấy giống như là chưa hề có chuyện gì xẩy ra… với một nụ cười, và từ từ tha thứ cho họ. Sự tha thứ không phải được thực hiện bởi sự ép buộc: chúng ta phải thực hiện bằng một hành trình nội tâm để tha thứ.”

Trả lời câu hỏi rằng đâu là ân huệ lớn lao nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, Đức Thánh Cha trả lời: ân huệ lớn lao nhất là được sống trong một gia đình. Và một lần nữa, ngài sử dụng dịp này để đề cập tới vai trò của ông bà mà những người trẻ nói chuyện dễ dàng hơn cả với cha mẹ chúng. Vì vậy nhờ lời khuyên này: “Hãy nói chuyện với ông bà; hãy hỏi ông bà những câu hỏi. Ông bà là ký ức của cuộc sống, họ là sự khôn ngoan của đời sống.”

Rồi cuộc nói chuyện chuyển sang một thách đố khó khăn hơn đó là về việc “đừng bao giờ mất đức tin dù trong ngữ cảnh nào của đời sống.” Những khoảnh khắc khác nhau sẽ xuất hiện, dựa vào kinh nghiệm cá nhân Đức Thánh Cha nói rằng, chắc chắn là có khi vì hoàn cảnh đức tin có thể “lụi tàn hoàn toàn hay là chút ít nhưng rồi với thời gian các con sẽ tái khám phá ra nó.” “Sẽ có những ngày đen tối, mọi thứ thì tối tăm…cha cũng đã trải qua những ngày như thế,” nhưng chúng con “đừng sợ” nhưng “hãy cầu nguyện và kiên nhẫn, rồi Thiên Chúa sẽ cho chúng con thấy Ngài, Ngài sẽ làm cho chúng ta lớn lên trong đức tin và tiếp tục đi tới.”

Trong bối cảnh này, Đức Thánh Cha đã nói về cuộc gặp vào hôm Thứ Bảy, trong đó ngài rửa tội cho 13 trẻ em bị ảnh hưởng bởi động đất, có một người bố đau khổ vì bị mất vợ trong trận động đất vào ngày 24 tháng 8.

Đức Thánh Cha tự hỏi: “Có người nghĩ: phải chăng người đàn ông này tin sau khi gặp thảm họa?” Đức Thánh Cha nói “khi tôn trọng ‘đêm tối của tâm hồn’, tùy thuộc vào Thiên Chúa, Ngài sẽ làm thức tỉnh đức tin. Đức tin là một ân huệ của Thiên Chúa. Chúng ta phải bảo vệ nó…một người không thể học để có đức tin; đức tin được ban tặng như một quà tặng.”

 

Minh Tuấn, SDB chuyển ngữ

ĐỨC PHAN-XI-CÔ nói tới 3 điều Kỳ diệu nơi chức Thượng Tế của Đức Giê-su Ki-tô trong Bài giảng ban sáng

Văn Chính, SDB

Tại nguyện đường Casa Santa Marta, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng cảnh báo về thứ tội “Phạm thượng không thể tha thứ”.

Báo Quan sát viên Rô-ma - 23.01.2017: Có 3 giai đoạn nối tiếp nhau trong việc thực thi chức thượng tế của Đức Ki-tô: Ngài tự hiến bản thân mình; Ngài chuyển cầu cho chúng ta; Ngài sẽ trở lại để đem chúng ta đến cùng Chúa Cha.

Theo Đài phát thanh Vatican, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã giảng giải cho các tín hữu hiểu điều này trong bài giảng của thánh lễ ban sáng tại nguyện đường Casa Santa Marta, khi ngài suy niệm về bài đọc trích từ Thư gửi tín hữu Do Thái. Thư Do Thái nói về Đức Ki-tô như Đấng Trung gian của Giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại.

Đề cập đến 3 giai đoạn của chức thượng tế, vị Giáo hoàng dòng Tên ghi nhận rằng bước thứ 1 là sự Cứu độ.

Trong khi các thượng tế của Cựu ước phải dâng hy lễ hằng năm, “Đức Giê-su Ki-tô lại dâng hiến chính bản thân mình, một lần thay cho tất cả, để tha thứ mọi tội khiên.”

Đức Thánh Cha nhận định: Qua sự diệu kỳ này, “Ngài đã đưa chúng ta đến với Chúa Cha… Ngài đã tái tạo sự hòa điệu của tạo thành”.

Điều kỳ diệu thứ 2 là những gì mà Thiên Chúa  hiện nay đang làm, đó là cầu cho chúng ta. Đức Phan-xi-cô nhấn mạnh “Trong khi chúng ta đang cầu nguyện ở nơi này, Ngài đang cầu nguyện cho chúng ta, cho từng người trong chúng ta và chuyển cầu cho chúng ta”.

Đức Thánh Cha tiếp tục suy tư: “Thực vậy, dân chúng thường xin các linh mục cầu nguyện, vì họ biết rằng lời cầu nguyện của các linh mục có một sức mạnh nào đó, đặc biệt trong lúc dâng hy lễ thánh trong Thánh lễ”.

Tội Phạm thượng không thể tha thứ

Điều kỳ diệu thứ 3 sẽ xảy đến khi Đức Ki-tô trở lại trần gian; nhưng lần thứ 3 này không còn liên quan đến tội lỗi, nhưng đúng hơn, tới việc “thiết lập Vương Quốc Thiên Chúa một cách dứt khoát”. Khi ấy, Ngài sẽ đưa tất cả chúng ta đến với Chúa Cha.

Trong khi đó Đức Thánh Cha cảnh báo: “Ngược lại: vẫn có thứ tội phạm thượng không thể tha thứ”.

“Thật khó để nghe những gì Đức Giê-su nói, nhưng Ngài đã nói, và nếu Ngài nói, thì đó là chân lý. ‘Quả thật, Ta bảo các ngươi, tất cả mọi tội lỗi của con cái loài người sẽ được tha thứ’ – và chúng ta biết rằng Thiên Chúa tha thứ mọi tội nếu chúng ta biết mở lòng ra một chút. Ngài tha thứ mọi tội! Mọi tội lỗi, và ngay cả những tội phạm thượng họ đã xuất ngôn – ngay cả những tội phạm thượng cũng sẽ được tha thứ! – trừ kẻ nào phạm thượng tới Thánh Thần thì mới không được tha thứ mãi mãi”.

Sự Tha thứ của Thiên Chúa

Để giải thích điều này, Đức Thánh Cha quy chiếu tới việc xức dầu phong thượng tế của Đức Giê-su do Chúa Thánh Thần thực hiện nơi cung lòng Đức Trinh nữ Maria.

“Ngay cả Đức Giê-su trong tư cách là Thượng tế cũng đã lãnh nhận việc xức dầu. Và việc xức dầu lần đầu là gì? Đó là thân xác của Đức Maria với tác động của Chúa Thánh Thần. Ai phạm thượng trong việc này, thì phạm thượng đến điều cơ bản của tình yêu Thiên Chúa, vốn là ơn cứu độ, là việc tạo dựng mới.”

“Vậy thì Thiên Chúa không tha thứ cho kẻ tội lỗi sao? [các con có thể hỏi câu này].” Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trả lời: “Không phải! Thiên Chúa tha thứ tất cả!”. Tuy nhiên, Đức Thánh Cha thương tiếc cho kẻ nào nói những điều này mà lại đóng cửa mình lại trước ơn tha thứ của Thiên Chúa.

“Người đó không muốn được tha thứ! Người đó không cho phép mình được tha thứ! Đây là điều tệ hại nhất của thứ tội phạm thượng chống lại Chúa Thánh Thần: Nó không cho phép mình được tha thứ, bởi vì nó tự ý từ khước việc xức dầu thượng tế của Đức Giê-su do chính Chúa Thánh Thần thực hiện”.

Đức Thánh Cha kết luận bằng việc mời mọi người hiện diện suy nghĩ: Trên bàn thờ việc tưởng niệm sống động được thực hiện” để cầu xin ơn sủng của Thiên Chúa làm cho tâm hồn chúng ta không bao giờ đóng lại trước điều kỳ diệu này, trước điều kỳ diệu vĩ đại và được trao ban nhưng không này”.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

 

 

Đức Thánh Cha: “Khi Mọi sự dường như rơi vào tăm tối, chúng ta phải làm sao? Cứ giữ vững niềm Hy vọng”

Văn Chính, SDB

Tại nguyện đường Casa Santa Marta, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cảnh tỉnh “lối sống thụ động”, bị đông cứng.

THÁNG GIÊNG 18.01.2017: Theo đài phát thanh Vatican, trong thánh lễ sáng tại nguyện đường ở Casa Santa Marta vào ngày hôm qua, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã nói lên điều này khi thúc đẩy các Ki-tô hữu can đảm bám neo vào niềm hy vọng, chớ để mình bị “đông cứng”.

Được gợi hứng từ Lá thư gởi tín hữu Do Thái, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói cần luôn can đảm để tiến về phía trước và điều này phải trở thành thái độ sống trong cuộc đời, tựa như những lực sĩ nỗ lực hết sức để đạt được chiến thắng nơi vận động trường.

Đừng để bị đông cứng

Đức Thánh Cha tóm ý của Lá thư gởi tín hữu Do Thái đề cập tới sự lười biếng, thất đảm với lời như sau: “Đừng sống như bị đông cứng, để rồi mọi sự chẳng có gì đổi thay”.

Nói tới cuộc sống của người Ki-tô hữu phải là một “cuộc sống can đảm”, Đức Thánh Cha phê phán “Những Ki-tô hữu lười biếng” không muốn tiến về phía trước, không muốn biến đổi và canh tân mọi sự.

“Họ là những ki-tô hữu lười biếng, “ở lỳ một chỗ”: Họ tìm thấy trong Giáo hội một chỗ tốt lành để ở lỳ lại”. Lưu ý rằng khi Đức Thánh Cha Phan-xi-cô tới những ki-tô hữu, ngài muốn nói tới các giáo dân, linh mục, giám mục, tức là “mọi người”.

Ngài nói: “Nhưng cũng có những Ki-tô hữu ở lỳ lại một chỗ! Với họ, Giáo hội là nơi đậu lại an toàn cho cuộc sống họ, và họ tiến về phía trước với tất cả sự dè dặt bao có thể. Nhưng họ là những ki-tô ở lỳ lại một chỗ, họ làm cha nghĩ tới một điều mà các bậc cha ông chúng ta vẫn thường nói với con cháu: Hãy coi chừng dòng nước lặng dường như không có sức đưa đẩy, nhưng đó lại là thứ dòng nước đầu tiên đưa tới sự chẳng lành”.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô tiếp tục: Niềm Hy vọng là điều khiến các người Ki-tô hữu nên can đảm, trong khi những kẻ lười biếng lại muốn “nghỉ hưu”.

Chẳng có Cuộc sống nghỉ hưu

Đức Thánh Cha cảnh báo: “Thật tốt đẹp thay sau nhiều năm làm việc, người ta nghỉ hưu, thế nhưng dùng cả cuộc đời để nghỉ hưu lại là chuyện tồi tệ!”

Trái lại, niềm Hy vọng là chiếc neo để chúng ta bám vào trong khi tiếp tục chiến đấu, ngay cả trong những lúc thật sự khó khăn.

“Niềm hy vọng chiến đấu, luôn nắm chắc vào chiếc dây thừng, để có thể đến được nơi đó. Trong cuộc chiến đấu hằng ngày, niềm hy vọng là một nhân đức mở ra những chân trời, chứ không hề khép lại! Có lẽ đó là nhân đức ít được người ta biết đến nhất, nhưng đó lại là nhân đức mạnh mẽ nhất. Hy vọng: Sống trong hy vọng, sống trên hy vọng, luôn can đảm nhìn về phía trước.

Giữ vững

“Bất kỳ ai trong các con cũng có thể nói với cha rằng: Phải rồi, thưa cha, nhưng vẫn có những lúc thật tồi tệ, khi mà mọi chuyện dường như rơi vào tăm tối, vậy con phải làm gì?”. “Cứ giữ vững sợi dây thừng, và chịu đừng”.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói rằng phạm phải sai lầm là chuyện bình thường, nhưng chính nỗi sợ hãi phạm phải sai lầm lại khiến chúng ta không muốn “tiến bước”.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô kết luận với lời mời gọi chúng ta tự vấn chính mình rằng chúng ta có phải là những Ki-tô hữu đóng kín, hay là những Ki-tô hữu biết mở rộng ra với những chân trời phía trước; nếu trong những lúc tồi tệ chúng ta có thể chịu đựng nổi với sự xác tín rằng niềm hy vọng không làm thất vọng “vì tôi biết rằng Thiên Chúa chẳng thất vọng”.

“Chúng ta hãy tự vấn mình với câu hỏi: Còn tôi thì sao? Cuộc sống đức tin của tôi thế nào? Phải chăng đó là một cuộc sống mở ra những chân trời mới, với niềm hy vọng, can đảm và tiến về phía trước; hay đó chỉ là một cuộc sống hâm hẩm, thậm chí chẳng biết chịu đựng được những lúc tồi tệ xảy đến?”.

Đức Thánh Cha nói tiếp: “Cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn này” để có thể chiến thắng sự ích kỷ của bản thân và biết ngước nhìn lên Người để tiến bước về phía trước.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

 

 

KINH TRUYỀN TIN: Cần thiết phải Hoán cải để bước theo Đức Giê-su

Văn Chính, SDB

“Để hoán cải thì không chỉ thay đổi lối sống, nhưng cả lối suy nghĩ nữa.”

NGÀY 22 THÁNG GIÊNG NĂM 2017

Anh chị em thân mến, xin chào tất cả mọi người!

Tin mừng theo Thánh Mát-thêu hôm nay thuật lại việc Chúa Giê-su khởi sự rao giảng Tin mừng tại miền Ga-li-lê (x. Mt 4,12-23). Đức Giê-su rời bỏ Na-da-rét, một làng quê thuộc vùng đồi núi, và xuống cư ngụ tại Ca-phạc-na-um, một khu trung tâm quan trọng nằm bên biển hồ, nơi có nhiều người dân ngoại sinh sống. Đó cũng là trục giao thông giữa vùng Địa Trung Hải và vùng Mê-sô-pô-ta-mi-a. Việc chọn khu vực này cho thấy Đức Giê-su không chỉ rao giảng cho những người đồng hương của Ngài, nhưng cho tất cả dân chúng cư ngụ tại thành phố mang tên “Ga-li-lê của dân ngoại” (c. 15; x. Is 8,23) đúng như tên gọi của nó. Tuy nhiên, nhìn từ Giê-ru-sa-lem là thủ đô, thì vùng đất này xét về mặt địa lý là vùng đất ngoại biên và vấn đề tôn giáo không còn tinh tuyền vì có nhiều người dân ngoại sinh sống, có sự pha trộn với nhiều dân tộc khác không thuộc về Ít-ra-en. Những điều vĩ đại của lịch sử cứu độ chắc chắn không được mong đợi từ miền đất Ga-li-lê. Thay vào đó, chính xác nó phải phát xuất từ nơi mà “ánh sáng” được tỏa ra, như chúng ta đã suy tư trong những ngày Chúa nhật vừa qua: Ánh sáng của Đức Ki-tô. Thực thế, ánh sáng đó chiếu soi từ vùng ngoại biên.

Sứ điệp của Chúa Giê-su nhắc lại sứ điệp của Gio-an Tẩy Gia, công bố về “Vương quốc Nước Trời” (c.17). Vương quốc này không hàm ẩn việc thiết lập một thứ quyền lực chính trị, nhưng là việc hoàn thành Giao ước giữa Thiên Chúa và Dân Người, qua đó sẽ khai mở một thời đại Hòa bình và Công lý. Mỗi người đều được mời gọi phải hoán cải, giữ vững Giao ước với Thiên Chúa, thay đổi tư duy và lối sống của mình. Đây thật là điều quan trọng: Hoán cải không chỉ là thay đổi lối sống, nhưng thay đổi cả lối tư duy. Thay đổi quan điểm suy tư. Tức là người ta không chỉ thay đổi lớp quần áo bên ngoài, nhưng phải thay đổi cả thói quen! Điều làm cho Chúa Giê-su khác biệt với Gioan Tẩy Giả là chính phong cách và phương pháp. Chúa Giê-su chọn lựa trở thành một vị ngôn sứ dẫn đường. Ngài không chờ đợi dân chúng, nhưng đi đến để gặp gỡ dân chúng. Chúa Giê-su luôn luôn trên hành trình! Việc xuất hành truyền giáo đầu tiên của Ngài là ở ven biển hồ Ga-li-lê, gặp gỡ dân chúng, đặc biệt những dân chài lưới. Chúa Giê-su không chỉ rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa ở đó, nhưng còn tìm kiếm những người bạn đồng hành để chia sẻ sứ mệnh cứu độ của Ngài. Cũng nơi này, Chúa Giê-su đã gặp 2 cặp anh em: An-rê và Si-môn, Gia-cô-bê và Gio-an. Ngài lên tiếng gọi họ: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người” (c.19). Lời mời gọi này diễn ra vào giữa ban ngày: Thiên Chúa tự tỏ lộ mình cho chúng ta không theo một lối ngoại thường hay đặc biệt nào cả, nhưng trong chính cuộc sống thường ngày. Chúng ta phải tìm kiếm Thiên Chúa ở đó; và Đức Giê-su tỏ lộ mình ở đó, làm cho trái tim của chúng ta cảm nhận được tình yêu của Ngài; và tại đó – qua lời đối thoại với Ngài trong cuộc sống thường ngày – tâm hồn của chúng ta đổi thay. Cả 4 kẻ chài lưới này đã đáp trả lại ngay lập tức: “Ngay lập tức, họ bỏ lưới và đi theo Ngài” (c.20). Thực thế, chúng ta biết rằng họ đã từng là môn đệ của Gio-an Tẩy giả, và nhờ qua lời chứng của ông, họ đã sẵn sàng tin vào Đức Giê-su Na-da-rét là Đấng Cứu Thế (x.Ga 1,35-42).

Là những người ki-tô hữu ngày hôm nay, chúng ta vui mừng công bố và làm chứng về đức tin của chúng ta, vì rằng đã có lời rao giảng đầu tiên, vì đã có những con người khiêm tốn và can đảm sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Chúa Giê-su. Cộng đoàn đầu tiên của các môn đệ Chúa Giê-su được khai sinh nơi bờ biển hồ, trong một vùng đất mà người ta không thể nghĩ tới được. Mong sao việc nhận biết những gì xảy ra trong buổi ban đầu này khơi lên nơi chúng ta niềm mong ước đón nhận Lời Chúa, tình yêu và sự dịu hiền của Chúa Giê-su trong tất cả mọi bối cảnh sống, ngay cả những tại những nơi vô cảm và chống đối nữa. Hãy mang Lời Chúa đến tất cả những vùng ngoại biên! Mọi vùng đất của nhân loại đều là nơi để gieo vãi hạt giống Tin mừng, để từ đó sinh hoa trái của Ơn cứu độ.

Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng ta, để với sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ, biết hân hoan đáp trả lời mời gọi của Chúa Giê-su và luôn đặt mình phục vụ Nước Thiên Chúa.

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ 

Đức Thánh Cha: “Một Giáo xứ không có chuyện nói xấu nhau, là một Giáo xứ tốt lành!”

Văn Chính, SDB

THÁNG GIÊNG 18.01.2017: Trong lần thăm viếng cộng đoàn giáo xứ Setteville Guidonia, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô gợi nhắc: Các môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su là những kẻ tội lỗi, nhưng họ chẳng bao giờ nói xấu nhau”.

Các môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su Ki-tô là những “tội nhân” giống như tất cả chúng ta, nhưng họ có điểm mạnh: Chẳng bao giờ nói xấu nhau, ngược lại còn nêu gương sáng rất mạnh mẽ khi Tin mừng được loan báo ra khắp nơi trên thế giới. Trong cuộc thăm viếng lần đầu kể từ sau dịp lễ mừng tại Setteville Guidonia thuộc Rô-ma, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã cầu nguyện cho cộng đoàn được một ơn đặc biệt: Không bao giờ nói hành, nói xấu nhau.

Đức Thánh Cha lấy gợi hứng từ bài Tin mừng Gioan 1,29-34 để suy tư về ý nghĩa của hạn từ “làm chứng”: Nhiều môn đệ của Gioan Tẩy giả đã nghe được lời chứng của vị ngôn sứ, nên đã chọn đi theo Đức Giê-su và “vui thích ở lại với Ngài”, và công bố: “Chúng tôi đã tìm gặp được Đấng Mê-si-a!”. Những người môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su người Na-da-rét cần phải cám ơn Gio-an Tẩy giả, vì ông đã làm chứng cho Đức Giê-su Ki-tô.

Nhìn vào thực trạng ngày nay, Đức Thánh Cha ghi nhận: “Quá nhiều Ki-tô hữu tuyên xưng Đức Giê-su là Thiên Chúa, và giữa những người ấy có “các linh mục, giám mục”. Tuy nhiên, một vấn đề nổi lên: “Phải chăng tất cả đều làm chứng cho Đức Giê-su Ki-tô?”.

Đức Thánh Cha nói tiếp: Là Ki-tô hữu, có nghĩa là trở nên những người khác hẳn với những kẻ “hâm mộ một đội bóng” nào đó, hay những người đi theo “một thứ triết lý. Là Ki-tô hữu thì còn vượt xa việc đơn thuần tuân giữ “những giới răn hay chuyện tôi phải làm điều này, điều nọ…”

Các tông đồ đầu tiên không “theo học một khóa”, hay “học cấp đại học” để mới có thể làm chứng cho Đức Giê-su Ki-tô. Hơn nữa, tất cả họ đều là “tội nhân”, chứ không “chỉ mình Giu-đa”, một kẻ mà chúng ta chẳng biết được chuyện gì xảy ra với anh ta sau khi chết, nhưng có lẽ “lòng thương xót của Thiên Chúa” sẽ cứu anh ta.

Đức Thánh Cha thêm: Mười hai Tông đồ là những người có đầy khuyết điểm, họ “ghen tỵ” nhau, họ từng “tị nạnh nhau” và tranh luận xem “ai là kẻ chiếm chỗ nhất”. Họ còn là “những kẻ phản bội” và điều này được chứng tỏ qua sự kiện “khi Đức Giê-su bị bắt, tất cả họ đều chạy trốn…” Họ sợ hãi, trốn tránh. Ngay cả Phê-rô, “người là thủ lãnh” của họ cũng chối bỏ Thày của mình trong thời điểm Thày Giê-su bị điệu ra trước công nghị và một “đứa đầy tớ đã nhận ra ông, và ông đã chối không biết Đức Giê-su”. Như thế, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng: “Chính vị Giáo hoàng đầu tiên đã phản bội Đức Giê-su”.

Tuy nhiên, tất cả những môn đệ đầu tiên này đã “để cho mình được cứu độ” và trở thành “những chứng nhân của ơn cứu độ” mà Đức Giê-su mang lại. Họ đã phạm “quá nhiều tội”, kể cả tội phản bội lại Thày của mình, nhưng họ đều vĩ đại trong khía cạnh này: “Họ không hề nói hành, nói xấu nhau” như nhiều ki-tô hữu trong các cộng đoàn của chúng ta ngày nay,

Đức Thánh Cha đề cập tới một điều quan trọng trong bài giảng của ngài: “Một cộng đoàn có chuyện nói hành, nói xấu nhau, thì không thể làm chứng tá được. Nếu các con có chuyện gì phải nói, hãy gặp gỡ nhau và nói, hay ít ra “hãy nói với cha quản xứ”. Từ đó, Đức Thánh Cha đưa ra một lời khuyên cho giáo xứ Thánh Maria: “Cha mong muốn cộng đoàn này hãy quyết định đừng nói hành, nói xấu nhau.” Ngài nói thêm: Khi đối diện với cám dỗ này, các con “hãy giữ chặt lưỡi của các con” lại.

Từ việc “các Tông đồ không bao giờ nói hành, nói xấu nhau”, thì “một giáo xứ không có chuyện nói hành, nói xấu nhau, là một giáo xứ tốt lành”, có thể “làm chứng”, và người ta có thể khẳng định rằng: “Ôi, họ thương yêu nhau biết bao!”. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho tất cả giáo dân trong giáo xứ Setteville của Guidonia, được ơn “không bao giờ nói xấu nhau”.

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

ĐỨC THÁNH CHA: Thiên Chúa quên đi Tỗi lỗi của chúng ta. Đây là lúc hãy đặt niềm tín thác và Bắt đầu lại

Văn Chính, SDB

Tại nguyện đường ở Casa Santa Marta, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói rằng Thiên Chúa biến đổi chúng ta tận gốc rễ.

L'Osservatore Romano – 20 THÁNG GIÊNG 2017 Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ và quên đi tội lỗi của chúng ta. Vì thế chúng ta hãy mời Người đến để canh tân chúng ta…

Theo Đài phát thanh Vatican, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nhấn mạnh điều này với các tín hữu trong bài giảng thường ngày tại nguyện đường ở Casa Santa Marta khi ngài suy niệm về thư gởi Tín hữu Do Thái.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng giao ước mới mà Thiên Chúa đã làm với chúng ta nơi Đức Giê-su Ki-tô, sẽ canh tân lòng trí chúng ta.

Đức Thánh Cha nói Thiên Chúa canh tân mọi sự “tận gốc rễ, chứ không chỉ bên ngoài”.

Canh tân Lòng trí

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô giải thích: Giao ước mới này mang những tính chất riêng. Ngài ghi nhận “luật Thiên Chúa không phải là một thứ chỉ tác động bên ngoài”, nhưng đúng hơn, đi vào tận cõi lòng chúng ta, làm biến đổi tâm trí chúng ta, đưa đến ‘một sự đổi thay lòng trí, đổi thay tâm tình, lối đường hoạt động và một nhãn quan khác biệt khi nhìn vào sự vật”.

Để minh tỏ điều này, Đức Thánh Cha đưa ra một ví dụ về loại công việc nghệ thuật, trong đó nhà nghệ thuật có thể diễn tả được nét ghen tỵ lạnh lùng hay niềm hạnh phúc và sự thiện.

Đức Thánh Cha nói: “Giao ước mới làm thay đổi lòng trí của chúng ta”.

Đức Thánh Cha mời gọi mọi người hiện diện hãy nhìn xem các bậc tiến sĩ luật, những người bắt Đức Giê-su và làm mọi điều chiếu theo lề luật.

Ngài nhấn mạnh rằng lòng trí họ thật xa cách Thiên Chúa và khóc thương cho một thứ tâm trí ích kỷ của họ, một thứ tâm trí chỉ biết nghĩ đến bản thân họ và lên án tha nhân. Ngược lại, giao ước mới làm đổi thay tâm trí và cõi lòng của chúng ta. “Cần thiết phải thay đổi lòng trí của mình.”

Đức Thánh Cha chia sẻ: “Đôi lúc cha cũng muốn đùa với Chúa một chút: ‘Ôi, trí nhớ của Ngài chẳng chẳng tốt chút nào cả!’. Đây chính là nhược điểm của Thiên Chúa: ‘Khi Thiên Chúa tha thứ, Ngài quên đi tất cả’.

Thiên Chúa đổi mới chúng ta

“Ngài quên, vì Ngài đã tha thứ. Trước một tấm lòng biết thống hối, Ngài tha thứ và quên hết: ‘Ta sẽ quên hết, Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi của chúng nữa.’ Đây cũng chính là lời mời gọi đừng nhắc nhớ Thiên Chúa về tội lỗi của chúng ta, tức là đừng phạm tội nữa: ‘Ngài đã tha thứ cho con, Ngài đã quên đi rồi’.

“Một sự đổi thay cuộc đời, một giao ước mới canh tân bản thân tôi và thay đổi cuộc đời tôi, không chỉ trong tâm trí và cõi lòng, nhưng cả cuộc đời của tôi. Sống mà không phạm tội, tránh xa tội lỗi: Đây chính là sự tái tạo mới. Đây chính là điều Thiên Chúa tái tạo lòng trí của chúng ta”.

Nói tới sự “thay đổi bên ngoài”, Đức Thánh Cha nói: “Chúng ta thuộc về Thiên Chúa, các thần khác không hiện hữu. Việc đổi thay tâm trí làm biến đổi cõi lòng, cuộc đời, và cả bên ngoài nữa”. Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng đây là “một sự tái tạo mới mà Thiên Chúa làm, thậm chí còn rạng ngời hơn cả việc Tạo dựng ban đầu của Ngài”.

Thay đổi Lòng trí, Thay đổi Cuộc đời

Đức Thánh Cha khích lệ các ki-tô hữu hay đi theo giao ước này và mãi trung thành gắn bó.

“Ấn dấu của giao ước này là sự trung thành, trung thành với việc Thiên Chúa đã biến đổi tâm trí và canh tân lòng trí của chúng ta. Vị ngôn sứ đã nói: ‘Thiên Chúa sẽ thay đổi lòng trái tim bằng đá của các ngươi thành một trái tim bằng thịt’, tức là: Thay đổi lòng dạ, cuộc sống và không phạm tội nữa.”

Đức Thánh Cha kết luận với lời cầu nguyện:  “Nguyện xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn biết phân định những gì tâm hồn chúng ta cần thực hiện, và biết chọn lựa lối đường đúng đắn dựa trên việc Chúa Cha lôi kéo chúng ta đến cùng Đức Giê-su.”

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Đức Thánh Cha: Làm thế nào để bảo vệ bạn khỏi những thứ ảo ảnh của Thế gian? Hãy cậy trông nơi Chúa

Văn Chính, SDB

Ngày 12.01.2017: Trong buổi Diễn từ chung, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nhắc nhớ rằng những lo lắng sự đời và việc tôn thờ ngẫu tượng giả trá sẽ làm cho cuộc sống trở nên trống rỗng.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã đưa ra lời nhắn nhủ này trong buổi diễn từ ban sáng tại Hội trường Phao-lô VI khi ngài tiếp tục trình bày loạt bài giáo lý về chủ đề Niềm Hy vọng của Ki-tô giáo.

Dưới ánh sáng soi dẫn của Kinh thánh, Đức Thánh Cha dạy rằng song song với niềm hy vọng chân thực đến từ Lời Thiên Chúa, những cám dỗ về những niềm hy vọng giả trá, những ngẫu tượng trần gian như tiền bạc, quyền lực, vẻ đẹp của thân xác, trở thành những cám dỗ đối với chúng ta.

Trong những nhận định của ngài, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói về một phụ nữ mà ngài quen biết ở Ắc-hen-ti-na, một phụ nữ có nhan sắc, nhưng người phụ nữ đó đã phá thai vì không muốn có con, vì việc đó làm cho thân xác của bà kém phần hấp dẫn đi.

“Niềm hy vọng vào Thiên Chúa đòi hỏi sức mạnh và sự bền bỉ, trong khi những loại thần giả trá này lại hứa hẹn một sự đảm bảo, một tương lai mà chúng ta có thể tự điều khiển được”.

Gợi nhắc lại sứ điệp từ bài đọc ban sáng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Nếu con người đặt niềm hy vọng của mình nơi những ngẫu tượng, con người sẽ nên giống như chúng: Những hình tượng trống rỗng với đôi tay không thể sờ mó được, đôi chân không bước đi được, miệng lưỡi không thể nói được.”

Khi chuyện này xảy ra, con người đã đánh mất khả năng nói, giúp đỡ, làm thay đổi mọi sự, khả năng mỉm cười, khả năng hiến trao và cả tình yêu nữa.

Đức Thánh Cha cảnh báo: “Cũng thế đối với những người con trong Giáo hội, chúng ta có thể thuộc về “trần tục” này. Tất nhiên dẫu vẫn sống trong trần gian, nhưng chúng ta phải bảo vệ mình tránh khỏi những ảo ảnh của trần gian”.

Đức Thánh Cha tiếp tục: “Nhất thiết phải tín thác và đặt niềm hy vọng vào Chúa. Rồi Thiên Chúa sẽ chúc lành cho”.

Đức Thánh Cha khích lệ: Bằng việc tín thác vào Lời Chúa và việc đặt niềm hy vọng nơi lời hứa của Người, chúng ta trở nên ngày càng giống Người, được thông chia vào sự sống của Người, vui mừng trong sự chăm sóc chở che của Người. Hãy biết rằng Thiên Chúa luôn quan tâm tới chúng ta ngay cả trong những giờ phút kinh sợ nhất, Đức Thánh Cha nhấn mạnh điều này.

“Trong khi niềm Hy vọng “không bao giờ” phải thất vọng, Đức Thánh Cha cảnh báo rằng những ngẫu tượng “luôn luôn” đưa tới sự thất vọng. Chúng là những thần giả trá, không thật. Hãy luôn giữ vững niềm hy vọng: Khi biết tín thác vào Thiên Chúa, người ta trở nên giống như Người, và phúc lành của Người sẽ biến đổi chúng ta thành con cái Người, thành những kẻ được thông dự vào cuộc sống của Người”.

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô kết luận với lời mời gọi: Việc đặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa ‘có khả năng làm cho chúng ta, có thể nói như thế, được thông dự vào tình trạng luôn được Thiên Chúa ghé mắt đến, chúc lành và cứu độ”.

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

 

 

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %