• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


NGƯỜI TỐT

Mã số: 16-047

          - Thủy ơi, cuối buổi rảnh không đi café chị có chuyện nhờ em.

          - Không được chị ơi, hôm nay em phải đón con, mai được không ạ? Hay có chuyện gì chị nói luôn cũng được, café làm gì mất thời gian chị.

          - Không được đâu, việc hệ trọng, à mà thôi cuối tuần vợ chồng chị đến nhà gặp ông xã em luôn vậy.

          Có chuyện gì trọng đại thế nhỉ, Thủy đoán già đoán non mãi không ra. Thôi cứ để cuối tuần xem sao…

***

Thủy gặp Chị lần đầu ở Ký túc xá những năm chín mươi thế kỷ trước. Chị học cùng khóa nhưng hơn Thủy một tuổi, người Hà Nội, nhà cách trường có mười lăm cây số nhưng chị ngại đi nên vào Ký túc “ở cho nó lành” - là chị nói thế. Hôm đầu ăn cơm Ký túc, chị xơi hết thức ăn ở phần trên tô cơm rồi ngớ người ra, Thủy phải “chia” cho chị miếng đậu hũ rán và mấy hạt lạc rang muối để chị “có cái ăn với cơm”, ai cũng cười bảo chị “con nhà lành”, đánh bạn với Thủy thành “cặp đôi hoàn hảo” luôn. Hai chị em cứ thế, “con chấy cắn đôi” đến ngày ra trường. Ngày chia tay hai đứa khóc sướt mướt. Hồi đó đâu có điện thoại di động như bây giờ, mạng internet cũng chưa phát triển, nhớ nhau lắm chỉ viết thư tay mà cũng mất cả tuần thư mới đến nơi. Thủy về quê xin việc mãi không được vì nhà nghèo lại không quen biết “người trên”, chán nản phải quay lại Hà Nội vì “dù sao cũng có tổ chức thi tuyển” chứ không chỉ đơn thuần “xin xỏ” như ở quê. Công việc chẳng đâu vào đâu nhưng chí ít cũng không phải “cầu cứu” bố mẹ, có việc thì đủ ăn, còn đâu để dành “trụ lại Hà Nội” khi bị sa thải. Làm cái nghề kế toán này thật khó, Thủy thẳng thắn trung thực lại là người Công giáo nên lắm lúc không chịu ghi sai ghi lệch theo ý sếp, vậy nên chẳng trụ được chỗ nào lâu. Cuộc sống vật vờ nơi đô thành chỉ thay đổi khi vào một ngày đẹp trời, Thủy bỗng nhận được cuộc gọi đến nhà trọ. Là Chị. “Ê Thủy hâm, mày mang hồ sơ lên chỗ tao rồi sáng thứ hai đi làm, gặp nhau nói chuyện luôn”. Cú điện thoại nửa phút nghe như đùa đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống của cô.

          Thì ra chị là “con nhà có điều kiện”. Tốt nghiệp xong về làm ở công ty bố là Giám đốc, chỉ vài năm chị thăng chức Kế toán trưởng luôn. Thảo nào chị có thể quyết một câu xanh rờn “mang hồ sơ lên chỗ tao rồi sáng thứ hai đi làm”. Vừa gặp lại, chị bảo Thủy luôn:

          - Mày biết nguyên tắc “hai sổ” rồi đấy, cái tính ương gàn của mày chỉ phụ trách được cái “sổ một” thôi, làm cho thật tốt, đừng để ý cái sổ kia làm gì, việc đó để tao lo.

          Thủy ngỡ ngàng, không ngờ mọi việc lại dễ dàng đến thế. Được hai năm, chị bảo Thủy:

- Chắc sắp tới tao lên Phó tổng, hay là mày vào Đảng đi, tao chốt cho mày chức Phó phòng cho chắc chân, tao lên trên kia cũng yên tâm.

Thủy chối, bảo sợ không làm được, chị cười:

- Thôi tao chả biết nguyên nhân rồi, tùy mày, có gì khó khăn cứ ới tao một tiếng là được. À mà lấy chồng đi, ế nhăn nhở ra rồi đấy, cứ ngồi mà đợi lấy chồng người Công giáo thì có khi bạc tóc cũng chưa kiếm ra đâu em ạ.

Tưởng chị nói bâng quơ vậy, ai dè mấy tháng sau chị bảo:

- Đi café với tao, xem mặt đi.

- Á á, chị, không đâu, ngại chết đi được, em còn trẻ mà…

- Gần ba mươi trơ mỏ ra đấy rồi còn kiêu! Yên tâm đi, anh này là người Công giáo, cũng ế nhăn ế nhở ngồi đợi lấy cho được người Công giáo như mày ấy.

Thế mà lại nên duyên. Thủy cũng không hiểu cô tốt số gì mà được “quý nhân phù trợ” vậy, “quý nhân” của cô chẳng đâu xa vời mà chính là người bạn thân, hơn thế là sếp của cô, còn kiêm luôn vai trò “bà mối”, nếu nói là người “sinh ra cô lần thứ hai” có lẽ cũng không quá…

***

Lấy chồng được nửa năm thì Thủy có bầu nhưng niềm vui sớm thành nỗi lo. Khi đi siêu âm thai tuần thứ mười bốn, mấy bệnh viện các bác sỹ đều kết luận nên “đình chỉ thai” vì nguy cơ lưu thai cao mà nếu có sinh ra thì đứa bé cũng khó sống được hoặc dị tật rất nặng nề. Hai vợ chồng vô cùng hoang mang không biết làm thế nào, cái bấu víu duy nhất là những bài test trước đó “Double test”, “Triple test” đều tốt nhưng bác sĩ bảo hình ảnh siêu âm mới là quan trọng, các bài test đó chỉ “sàng lọc” được tỷ lệ nhỏ thôi. Vợ chồng Thủy phải gõ đến cánh cửa cuối cùng: Hội chẩn ở Bệnh viện phụ sản Trung ương. Chạy qua chạy lại “nhà H” của bệnh viện, hai vợ chồng thấy một cảnh tượng hết sức tương phản: cùng một dãy nhà, phía bên trái dành cho người chữa hiếm muộn, bên phải là nơi cô đến hội chẩn “sàng lọc trước sinh” còn ở giữa cũng là phần chiếm nhiều gian phòng nhất là nơi nạo phá thai. Cùng một dãy nhà mà vẻ mặt, tâm trạng của mỗi người một khác, nhưng ắt hẳn ai cũng ước giá như dãy nhà này không tồn tại…

Chị biết chuyện, “nhẹ nhàng” khuyên:

- Thôi bỏ đi em ạ, để sức sinh đứa khác, quá rủi ro rồi, khỏi hội chẩn hội chiếc gì cho mệt, đến khi có kết quả hội chẩn thì thai đã lớn rồi, phải kích đẻ non đấy, không phá được nữa đâu.

Thủy ngỡ ngàng không chỉ bởi câu nói mà thái độ có phần vô cảm của chị:

- Sao chị nói vậy, vẫn còn hy vọng mà, vợ chồng em sẽ không bao giờ từ bỏ dù chỉ là cơ hội nhỏ nhoi. Mà sao chị biết rõ chuyện phá thai quá vậy?

- Ôi sời, tao bỏ mấy lần rồi, có sao đâu - Chị thủng thẳng - Hơi đau một chút thôi. Còn cái chuyện kích đẻ non ấy, là bác sĩ nói thế, tao đã làm bao giờ đâu…

“Bỏ mấy lần”, Thủy sửng sốt, không thể tin người trước đang đứng trước mặt mình nói đến chuyện bỏ con dễ dàng như vậy chính là chị, người mà lâu nay vợ chồng cô vẫn thường ví như một vị thánh…

Thì ra chồng chị là tộc trưởng của một dòng họ lớn, đứa đầu của chị là con gái nên đứa thứ hai chị phải sinh bằng được con trai để “nối dõi tông đường”. Với gia đình nhà chồng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, chị mà không được sinh con trai thì không giữ được được gia đạo, thậm chí còn phải cho phép chồng “đi ra bên ngoài”. Mấy lần siêu âm con gái chị đều “phải cho ra”. Thảo nào chị còn bảo Thủy: “Con gái mà, tiếc gì…”.

Thủy nghe mà rụng rời, cô đoán chắc có nhiều người cũng đang làm như chị, song cô vẫn thấy khó tin người ta có thể nhẫn tâm như vậy, càng không tin có vị tổ tông nào vì muốn có người thờ phụng mà khuyến khích con cháu mình giết hại thế hệ kế tiếp cả. Cũng từ đó mỗi lần cô nhìn thấy chị là gai ốc lại nổi lên, tình cảm với chị không còn như trước. Chị không hề để ý, vẫn coi Thủy như em gái, lên làm Phó tổng vẫn dặn dò sếp mới của Thủy “cho nó làm sổ một thôi”.

* * *

Có lẽ lời nguyện xin Chúa xót thương của gia đình Thủy đã được Ngài chấp nhận, bác sỹ trưởng ban hội chẩn kết luận: “Em bé sinh ra có khả năng dị tật, nhưng các bác sĩ nhi khoa có thể khắc phục được phần nào”. Câu nói đó như chiếc phao cứu sinh cuối cùng của vợ chồng Thủy và kỳ lạ thay những kết quả siêu âm sau đó mỗi lúc một tốt lên, đứa bé sinh ra kháu khỉnh chẳng có dị tật gì, bác sĩ nhi khoa xem mớ kết quả siêu âm thai cũng phải nhìn nhận: “có cái gì đó không đúng”. Ai cũng bảo là “chiến thắng dành cho người dũng cảm”, chỉ có chị không đồng ý: “dũng cảm cái gì, liều lĩnh thì có”. Chẳng sao, với vợ chồng Thủy chỉ cần con bé lớn lên khỏe mạnh, phát triển bình thường là được rồi…

Chị lại có bầu, các bác sĩ bảo là con gái nhưng có vị bảo không chắc chắn lắm nên chị cố đợi thêm vài tuần để kết quả chính xác hơn song “kết quả vẫn vậy” nên chị quyết định “phải cho ra”. Thủy biết chuyện khuyên chị mãi, chị đã xuôi xuôi nhưng bất ngờ hai tuần sau có người gọi báo tin chị bị băng huyết rất nguy kịch. Thủy tất bật chạy vào bệnh viện mới hay chị bị tai biến lúc kích đẻ non và một điều không ai ngờ tới - đứa bé lại là con trai. Thấy con chỉ thoi thóp được ít giây rồi đi, chị không giữ được bình tĩnh, gào thét ôm hài nhi chạy như điên dại khắp “nhà H”, mọi người chỉ đuổi kịp khi chị ngất lịm giữa cầu thang.

          Sau hôm đó, chị nằm bẹp gần một năm mới đi làm trở lại nhưng thi thoảng vẫn ngơ ngẩn như người mất hồn. Mỗi lần Thủy đến thăm chị đều khóc, quay mặt vào tường không tiếp. Chị đâu dám nhìn mặt Thủy - để nói rằng chị đã không đủ dũng cảm, rằng hậu quả hôm nay chị lãnh lấy là do đã không nghe lời cô sao…

* * *

          Thủy đứng lặng trước cửa sổ phòng trọ miên man suy nghĩ. Chuyện hệ trọng của chị là một bài toán hóc búa cho Thủy: nhờ mang thai hộ. Chị nói sẽ “làm việc” với bác sĩ nên chắc chắn sinh bé trai, cứ yên tâm…

Còn dịp nào tốt hơn để trả ơn chị nữa đây, thêm nữa chị sẽ phụ cho nửa tiền căn hộ chung cư mà vợ chồng Thủy chưa gom đủ. Thế nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu Thủy mang thai bé gái hay đứa bé có dịt tật bẩm sinh? Trường hợp cô và chính chị vừa rồi, các ngài bác sĩ cũng đã nhầm đó thôi. Chưa kể việc mang thai hộ vơi mục đích lựa chọn giới tính là vi phạm pháp luật nữa. Thủy rất muốn giúp chị, muốn làm “người tốt” lắm nhưng sao khó quá…

 

          Có tiếng trở mình, Thủy ngoảnh lại, ánh mắt như giãn ra. Dưới ánh trăng vàng nhạt xuyên qua cửa sổ là hình ảnh con bé vắt chân lên cổ bố như mọi khi, đáng yêu như một thiên thần. Chúa nói: "Ai không trở nên như trẻ thơ, thì chẳng đáng vào Nước Trời", cổ nhân cũng dạy “nhân chi sơ tính bản thiện”, biết mai ngày lớn lên con bé có trở thành “người tốt” không, tốt như Mẹ Nuôi của nó chẳng hạn…

 

CHỌN LỰA

Mã số: 16-046

     Đêm đã khuya. Chủng viện ngập chìm trong bóng đêm dày đặc, thanh vắng từ lâu. Đâu đó nghe thoang thoảng tiếng ngáy của ai đó đã phiêu bồng trong giấc ngủ im lìm. Anh vẫn không ngủ được. Anh đang cố nằm lây lất và mong màn đêm chóng qua. Anh nhớ lại ngày anh bước vào chủng viện, mọi người hởn hở mừng rơn. Đi đâu ba mẹ anh cũng tự hào vì anh đã được vào chủng viện. Anh đi tu là niềm vui lớn cho gia đình. Bao nhiêu kỳ vọng đặt ở nơi anh. Giờ đây, anh lại cảm thấy hối hận vì anh không thích hợp với đời tu nữa. Thời đó anh cũng thích đi tu thật! Nhưng lúc này anh thiết nghỉ không phải cứ thích là đi tu được mà cần phải hợp nữa. Và ngược lại nhiều khi có thể sống hợp đời tu nhưng không thích thì cũng khó mà đi tu được. Nói chung, để sống đời tận hiến cách trọn vẹn phải đủ hai yếu tố cả thích lẫn hợp. Anh cứ lăn qua trở lại trên giường, rồi trằn trọc suy nghĩ. Sự giằng co đang xâm chiếm trong tâm trí anh. Anh nên về hay anh nên bước tiếp trên đường tận hiến. Anh cần có một sự chọn lựa dứt khoát. Nếu cứ tu mà không thích hợp thì đời anh còn đâu là hạnh phúc. Những ngày sau này chỉ là những ngày anh sống lắt lay cho qua ngày đoạn tháng mà thôi. Nếu về thì anh sẽ sống với ba mẹ và người đời được không? Áp lực từ phía gia đình quá lớn đối với anh. Ba mẹ anh đều là những người có chức vụ ở trong giáo xứ. Cậu ruột anh là linh mục đang du học ở bên trời Tây. Anh về anh sợ gia đình thất vọng và tiếng đời xỉa xói chỉ trích. Lắm lúc, anh nhủ thầm: “Hay là mình cố mà tu. Không được! Cố tu để rồi chừng sau mình sẽ thác loạn trong đời tận hiến. Đời tận hiến không thể sống một cách xoàng xĩnh, hời hợt và nông cạn. Thà Giáo hội có ít linh mục mà linh mục thánh, còn hơn có nhiều linh mục mà linh mục ‘tồi’ ”.

     Thời gian này, anh suy nghĩ nhiều về đời ơn gọi của anh. Anh suy nghĩ về đời sống thiêng liêng của anh, về lời mời gọi “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy? ” (Mt 16,24). Anh nhận thấy anh là người hướng ngoại, khó cầu nguyện. Vì thế, nơi anh thiếu đời sống nhiệm hiệp. Cứ mỗi lần cầu nguyện hay chầu Thánh Thể anh cảm thấy những giây phút ấy trôi qua thật nặng nề. Chủ đề “chiêm niệm trong đời sống linh mục giáo phận” mà chủng viện đề ra trong năm, mấy khi mà anh kết hiệp được bởi tâm hồn anh tiều tụy và ngày càng héo úa. Dường như anh chẳng nói chuyện được với Chúa, từ năm tu đức cho đến bây giờ trong anh chẳng mấy đổi thay. Dù anh yêu Chúa, anh mến Chúa nhưng sâu thẳm của cõi lòng anh không thể tận hiệp với Đấng Tình Yêu Tuyệt Đối ấy. Anh nghỉ rằng một khi đã yêu ai mà nói chuyện  không được, thì làm sao hiểu được người mình yêu và vun đắp cho tình yêu ấy triển nở. Điều nguy hại hơn nữa, đó là anh không thể sống đời độc thân linh mục mai này. Dường như đời tận hiến của anh cứ chập chờn trong khung cảnh ảm đạm và u tối.  Phải chăng qua những dấu chỉ ấy, Chúa đã cho anh nhận ra anh không hợp với đời dâng hiến. Mấy tháng gần đây, anh đã thưa chuyện với cha linh hướng về dấu hiệu mà anh gặp phải. Cha linh hướng của anh không khuyên anh về mà cũng chẳng ngăn anh ở lại. Cha linh hướng mở ra cho anh một con đường để anh phán đoán về ơn gọi riêng của mình và tự ý chọn lựa. Cha khuyên anh nên thưa chuyện cho gia đình biết tình cảnh của anh lúc này. Anh lưỡng lự. Anh chìm vào giấc ngủ lúc nào anh không hay.

***

     Mặt trời phía đông bắt đầu ló dạng. Những chú chim chào mào kéo nhau về đậu trên mái nhà hót líu lo, đón chào một ngày mới. Mọi sinh hoạt của chủng viện diễn ra như  thường lệ. Sáng nay lớp anh không có giờ lên lớp. Sau những lần thao thức suốt đêm hôm qua, anh quyết định thưa chuyện cho gia đình biết ý định của mình.

- Reng reng! Reng reng! Reng reng!...

     Ba anh đang chăm chú giở từng trang lịch treo tường để xem những ngày lễ Công giáo trong tháng. Tấm lịch của Đại Chủng viện biếu gia đình anh mỗi khi vào dịp tết đến. Ba anh dừng lại trang lịch có in hình của anh, nhìn một hồi thật lâu. Ông chậc lưỡi: “Mới ngày nào…mà giờ đây…Chà! Nhanh thật! ”. Ông nở một nụ cười tươi trên môi. Nghe điện thoại reo lên, ông liền bắt máy:

- Alô!

- Ba! Con…con… đây, ba…ba… khỏe không ba?- Giọng anh nhỏ nhẹ có chút ấp a ấp úng.

- Uhm! Ba khỏe.

- Mẹ đi đâu rồi hả ba?

- Mẹ đang nấu cơm dưới bếp.

- Ba ơi! Con có chuyện muốn nói với ba mẹ.

- Chuyện gì thế con?

- Dạ! Con…con muốn…muốn…về.

- Cái gì? Mi…mi…mi muốn về.- Ba anh ngạc nhiên, đổi giọng nóng giận. Mẹ anh nghe thế cũng giật thót tim.

- Mi điên hả? Mi về thì tau và mẹ mi còn mặt mũi nào mà nhìn bà con hàng xóm.- Ba anh điếng người, lớn tiếng.

Sau cuộc điện thoại đó, cả ngày lòng anh bị xâu xé đến mức không chịu đựng nổi. Hễ nghĩ về gia đình anh lại ngơ ngẩn y như người mất hồn. Nỗi lo lắng đang ngụp lặn nơi anh.

***

     Tối đến, giờ kinh vừa xong. Nguyện đường chỉ còn thưa thớt một vài người. Anh ngồi lại trong không gian yên tĩnh của nguyện đường. Anh thầm thĩ nguyện cầu: “Lạy Chúa! Xin cho gia đình con chấp nhận sự chọn lựa của con”. Bầu trời đêm nay không một vì sao. Thỉnh thoảng những tàu lá chuối ở cuối vườn vỗ vào nhau nghe tiếng loạt soạt. Âm thanh ấy như thể kéo anh ra khỏi giấc miên man suy nghĩ. Anh dứt khoát quyết định về, chứ anh không thể sống trong tình trạng “ nửa nạc nửa mỡ ” mãi thế này được. Anh suy nghĩ kỹ rồi, anh không tu nữa. Tu hay về, anh mới là người quyết định chứ không phải ba mẹ anh. Cuộc đời anh, anh tự chọn lấy. Anh nghĩ thế rồi anh lặng lẽ đến phòng cha giám đốc, để xin chuyển hướng ơn gọi. Anh đứng thập thò ngoài mái hiên trước cửa phòng của cha giám đốc. Màn đêm đen kịt bên ngoài như tâm trạng của anh lúc này. Bất chợt, một cơn gió khẽ làm lay động các cành cây. Ánh đèn từ trên cao xuyên ngang tán cây len lỏi qua từng kẻ lá. Ánh đèn leo lét đến bên mái hiên và chiếu tỏa xuống làm ánh lên nét ưu tư trên khuôn mặt anh càng thêm ảm đạm. Bỗng nhiên, cha giám đốc mở cửa ra,  cha ngạc nhiên hỏi anh: “Con đứng đây có chuyện gì thế? ”. Cha hỏi làm anh cũng ngượng nghịu khó nói.

- Dạ…dạ...con đến xin cha cho con chuyển hướng ơn gọi. Con biết đây là tin quá đột ngột với cha.

- Vì sao con muốn chuyển hướng thế con?- Cha giám đốc hỏi lại anh với giọng trìu mến, trầm buồn.

- Thưa cha, sau khi con suy nghĩ kỹ càng và nói chuyện với cha linh hướng nhiều lần. Con thấy con không thích hợp với đời sống của bậc tu trì nữa.  

Cha giám đốc tư lự. Cả cha và anh đều chìm sâu trong lặng thinh. Chỉ có một vài cành phượng khô rớt lộp độp trên mái tôn, đủ phá tan sự tĩnh mịch của đêm tối mịt mùng.

- Ơn gọi của con, con tự phân định là điều rất tốt. Thế gia đình con biết ý định của con chưa?- Cha giám đốc ân cần hỏi.

- Dạ  hôm nay con đã điện thoại cho gia đình biết. Ba mẹ con không đồng ý và rất sốc khi nghe quyết định của con.- Anh nói vẻ mặt anh hiện lên nét buồn bã, âu sầu.

- Con đừng buồn. Chúa không bao giờ tạo ra ngõ cụt cho con người đâu. Ngõ cụt có chăng là do con người tự tạo ra cho chính mình mà thôi. Vả lại, cuộc đời đâu phải chỉ có một con đường thẳng, nó có rất nhiều ngã rẽ nhưng liệu mình có chọn lựa  đúng con đường mà Chúa mong muốn không thôi. Theo cha, con nên về gặp trực tiếp và nói chuyện với ba mẹ thì hay hơn, rồi có gì con cứ về lại đây suy nghĩ và thong thả quyết định con nhé.

***

    Thế rồi nghe lời cha giám đốc, sáng hôm sau anh về nhà trên con đường còn hoang vắng và thô sơ nhưng thân quen. Hai bên đường là dãy phi lao cao vút thẳng tắp. Những cánh đồng bao quanh làng sặc mùi lúa chín thơm ngào ngạt. Làng quê anh yên ả, lặng buồn như trầm mình vào dòng thời gian.

- Mi muốn tau và mẹ mi cắt mặt mà sống với thiên hạ hả?- Ba anh đang ngồi ở ghế, thấy anh về, ông liền đứng phắt dậy lấy tay đập mạnh vào bàn, quát lớn, vẻ mặt ông toát lên sự giận dữ.

Anh chưa kịp bước vào nhà, nghe thế anh đứng tần ngần ở cửa. Anh sa sầm nét mặt. Bọn trẻ con trong xóm nghe to tiếng, chúng hiếu kỳ tụm lại, đứng lấp ló trước ngõ nhà anh.

- Thôi mà ông, con nó mới về để nó ngồi uống miếng nước đã ông.- Mẹ anh lên tiếng. Bà nói tiếp:

- Vào nhà đi con.

- Bà lúc nào cũng bênh con, con nó ương bướng như thế này là do bà cả.- Ba anh nhìn chằm chằm vào mặt mẹ anh, buồn bực nói.

- Ông…!- Mẹ anh rân rấn nước mắt.

- Bây giờ mi nói đi. Tại sao mi về? Mi còn nhớ thằng Khanh con ông Bảy ở xóm dưới chứ? Nó đi tu như mi. Nó về. Bây giờ chuyện gì ập xuống gia đình ông Bảy, người ta cũng bảo: “Do con ông ăn lường Hội Thánh  nên mới trở nên thế này”. Cả gia đình ông Bảy không cất nổi mặt mà sống với thiên hạ đó. Có cái gương sờ sờ trước mặt, sao mi không soi?- Ba anh đi lui đi tới, múa tay vò đầu, chặc lưỡi, nhăn nhó.

     Nghe những lời ba anh nói, anh ấm ức thầm trách người đời: “Tại sao người ta lại có những suy nghĩ thật nông cạn như vậy chứ ? Thời gian ở chủng viện là thời gian thụ huấn để cho ứng sinh biện phân ơn gọi và tập sống ơn gọi mà. Cũng chính vì sợ tiếng đời nên biết bao ứng sinh muốn về nhưng họ không dám về. Họ không dám đối mặt với sự thật, họ sợ người đời chê trách. Thậm chí có người nghĩ rằng đến nước này thôi thì ‘ phóng lao thì phải theo lao ’. Đó là ý nghĩ sai lầm, chỉ khiến đời tu của họ trở nên ngán ngẩm, ê chề ”. Anh cũng nhớ lại lời các ông cụ, bà cụ ở làng thường nói mỗi khi gặp anh: “Cố gắng mà đi tu cho sướng con ạ! Ở đời chi cho cực…”. “Có lẽ đó là câu ‘ điệp khúc ’ quen thuộc mà những ai đi tu ít nhiều cũng đã được nghe. Phải chăng cũng vì nghe điệp khúc ấy, nhiều người cứ dấn thân đại vào đời tu rồi ‘ nhắm mắt qua cầu ’ , tiến chức linh mục. Vui vẻ, hạnh phúc, hồ hởi được vài ngày đầu mới làm linh mục: nào là lễ mở tay, lễ tạ ơn giáo xứ này giáo xứ nọ, được người ta dâng quà, cung phụng... Nhìn đúng là sướng thật! Nhưng đằng sau những ngày sung sướng ấy là những chuỗi ngày dài lê thê, chán nản, rầu rĩ, buông xuôi. Để rồi từ đó họ cảm thấy hối hận và không thích sống đời linh mục nữa. Chính vì lẽ đó, họ buông thả trong lối sống, hững hờ trong việc đạo đức và quên múc lấy căn tính cội nguồn nơi Đức Giêsu Kitô…Đó là những nguyên nhân khiến họ sa ngã và làm hoen ố giới giáo sĩ đó sao. Người linh mục không phải chỉ sở hữu được chức linh mục rồi là xong, mà cái thiết yếu là sống chức linh mục. Niềm vui đời linh mục chỉ có được khi nhận ra đích điểm của ơn gọi mà thôi ”. Anh trầm tư một lát. Anh cất tiếng:

- Ba mẹ à ! Con biết con về ba mẹ sẽ rất buồn. Ngày con đi tu ba mẹ đã kỳ vọng ở con thật nhiều, để giờ đây nghe con về ba mẹ thất vọng ở nơi con cũng thật nhiều.- Anh nhìn ba mẹ anh rồi cố nuốt những giọt nước mắt chảy ngược vào trong, ngậm ngùi nói tiếp:

- Ba mẹ ! Con biết con đi tu là một niềm hãnh diện lớn cho ba mẹ. Nhưng càng tu, con càng khám phá ra bản thân mình không thích hợp với đời sống tu trì. Tiếp tục tu con càng sợ mình sẽ rơi vào vũng lầy của đời tận hiến. Nếu con cố tu thì trong tương lai không chóng thì chày con sẽ bị cuốn theo vòng xoáy của cám dỗ, làm xấu chức linh mục, xấu Hội Thánh. Con tu là tu cho Chúa chứ con không tu cho người đời. Con lớn rồi, tương lai của con, xin ba mẹ để cho con chọn lựa.

     Hai hàng nước mắt mẹ anh dàn dụa, nóng hổi chan chứa trên gương mặt sớm hằn lên nét thông cảm. Ba anh lặng trân người, ngồi nhơ tay với lấy tách trà, nhấp một ngụm, cầm điếu thuốc bập bập trên môi mà không buồn đốt. Không gian yên ắng đến lạ lùng. Bầu trời xanh ửng màu nắng nhưng đâu đó vẫn thoáng xuất hiện những gợn mây kéo tới làm mờ đi tia nắng chói chang của ban trưa. Thưa thoảng một vài chiếc xe máy chạy ngang phá vỡ vẻ nặng nề của buổi trưa vùng ngoại ô. Anh lặng lẽ cất bước trở về chủng viện.

***

 

      Hai tuần sau, anh quyết định giã từ mái nhà chủng viện với bao kỷ niệm thân thương mà nơi đây anh đã từng tu học, bây giờ chỉ đưa vào ký ức.  Anh nói lời từ biệt với mọi người, anh nói lời tri ân với quý cha  kính yêu. Khuôn mặt mọi người, ai cũng có nét đượm buồn. Trong căn phòng hôm ấy đều tề tựu đủ tất cả mọi người, anh nhận ra chỉ có thiếu một mình cha giám đốc. Anh bèn chạy đến phòng cha, cố tìm cha cho bằng được để anh nói lời chia tay. Cánh cửa phòng cha chợt mở ra. Cha nói với anh : “Con về bình an, khi nào con rãnh nhớ ghé thăm chủng viện. Mỗi năm vào dịp lễ Xuân Bích nhớ về họp mặt nhé con ”. Nói xong, cha tặng cho anh một kỉ vật. Anh chẳng nói được gì chỉ biết ôm chầm lấy cha. Anh rơm rớm nước mắt , cha cũng cay cay dòng lệ. Anh nhìn vào đôi mắt cha thật sâu, rồi anh bước lên xe. Chiếc xe chạy dần xa tít, để lại phía sau một vệt khói dài. Cha giám đốc lặng buồn vì mất đi một ơn gọi, nhưng cha lại thầm vui vì sự chọn lựa trưởng thành của anh.

MỘT ĐỜI TẠ ƠN

Nghe tin ông Ba Khỏe xuất viện về lúc trưa, sau giờ kinh Lòng Chúa Thương Xót, Cha xứ và các ông bà trong hội Lòng Chúa Thương Xót vội đến thăm ông.

- Chào ông Ba, ông Ba đã khỏe nhiều chưa?

- Con cám ơn Cha. Thưa Cha, con khỏe ạ, không những một khỏe mà tới Ba Khỏe!

Mọi người đều cười trước sự dí dỏm của ông. Cha xứ thắc mắc:

- Sao ông Ba phát hiện mình bị tai biến mà đi bệnh viện kịp thời vậy?

- Thưa Cha, nhờ Chúa thương chứ con không biết. Con tạ ơn Chúa quá lẽ, nếu con ở nhà chắc tiêu rồi, bằng không thì cũng bán thân bất toại chứ chẳng được vầy đâu. Tuần trước con đi thăm vợ chồng thằng Tư trên tỉnh. Ngày Chúa Nhật vợ cháu ở nhà không đi trực bệnh viện. Cũng tầm giờ này, con đang ngồi lần chuỗi Lòng Chúa Thương Xót thì tràng chuỗi trượt khỏi tay. Con khom xuống lượm nhưng sao bàn tay không có cảm giác và không điều khiển được. Con với mấy lần mà chẳng nhặt được tràng chuỗi. Cháu chạy lại nhặt đưa cho con, con cầm tràng chuỗi nhưng rồi lại rớt. Cháu ngước lên nhìn thì thấy miệng con méo xệch, liền hỏi:

- Ba có sao không?

- Ba thấy hơi choáng.

Cháu liền đỡ con nằm dài xuống sàn nhà, rồi gọi xe cấp cứu đưa con vào bệnh viện. Tạ ơn Chúa, nhờ kịp thời nên con mới được như hôm nay.

Mọi người nói chuyện vui vẻ và cùng tạ ơn Chúa với ông. Tiễn khách ra về, ông Ba nghe đứa cháu nội nói với đứa bạn hàng xóm đang chơi trước sân nhà:

 

- Thôi! Tha cho nó đi, vì thầy tớ dạy thế.

- !!!

- Vì thầy tớ dạy thế!

Ông Ba chợt nhớ lại chuyện xưa, cũng nhờ câu nói:” Thầy tớ dạy thế!” mà ông được nhận biết và theo Chúa cho tới hôm nay.

***

Hồi đó, ông Ba mười bảy tuổi được nhà nước tuyển quân đi bộ đội. Trại quân đợt ấy khoảng hơn một trăm người, có một anh đạo Chúa tên Tâm, thân ốm ròm mà việc gì cũng xông xáo, ai nhờ gì liền mau mắn giúp bất kể mưa nắng hay đêm khuya. Lần kia anh Ba hỏi:

- Sao chuyện gì anh cũng vơ vào làm chi cho vất vả, bọn họ đang lợi dụng anh đấy?

- Vì Thầy tớ dạy thế. Mình cứ sống yêu thương và nghĩ tốt cho mọi người sẽ thấy vui trong lòng lắm!

Đang thời chiến sự gay gắt, chỉ nhà nào khá giả mới có đồ tiếp tế. Hàng tháng nhận được gì là anh đem chia hết cho những anh nghèo. Anh Ba hỏi thì anh lại trả lời:

- Vì Thầy tớ dạy thế. Mình đâu biết sống chết lúc nào, vả lại lúc chết cũng bỏ lại hết, chỉ có tình thương là mang theo được mà thôi.

- Thầy anh là ai mà nghe nhắc hoài vậy?

- Đó là Thầy Giêsu.

Anh ta lấy trong ví ra tấm ảnh một người đàn ông trạc ba mươi tuổi. Nhưng cái lạ là trước ngực người ấy có hình trái tim chiếu sáng, bên dưới ghi hàng chữ:” Đối nội vô tâm giả, đối ngoại hữu kỳ tâm”. Anh Ba thắc mắc:

- Ủa, trái tim không để ở trong mà để ở ngoài thì sống làm sao?

 Nghĩa đen thì như vậy, nhưng ẩn ý muốn nói rằng: Mình đừng sống cho mình mà hãy sống cho người khác. Đây, anh xem Thầy nói này!

Anh ấy lật phía sau bức ảnh cho anh Ba xem. Anh Ba lẩm nhẩm đọc:

- “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”.

- Thầy đã nói và đã sống như thế nên tớ muốn noi theo cách sống của Thầy.

- Sống như vậy có khờ dại quá không?

- Khi nào anh sống theo Lời ấy, anh sẽ cảm được niềm vui và hạnh phúc như tôi.

Từ đó, anh Ba thấy mến và muốn noi theo cách sống của anh. Năm sau anh Ba bị bệnh sốt xuất huyết rất nặng. Lúc ấy, chưa có thuốc đặc trị như bây giờ nên anh Ba chỉ còn nằm chờ chết. Thấy mình yếu sức dần anh Ba hoảng loạn gào lên:

- Lạy ông Thầy Giêsu của thằng Tâm, xin ông cứu tôi với!

Anh Tâm đoán có lẽ anh Ba không qua khỏi, liền lấy nước rửa tội cho anh. Đêm đó, anh Ba mơ thấy Chúa Giêsu có trái tim hiện đến nói với anh:” Ta sẽ chữa cho con!”. Sáng ngày anh Tâm đến thăm mang theo tấm hình Thánh Tâm đưa cho anh Ba và hỏi:

- Anh có tin là Thầy Giêsu sẽ chữa lành cho anh không?

- Tin. Tôi tin!

Rồi anh Ba kể cho anh Tâm nghe giấc mơ đêm qua. Quả thật, Chúa đã chữa cho anh Ba và anh được khỏe lại trước sự ngạc nhiên của các bác sĩ. Từ đó, anh Ba luôn mang theo tấm ảnh Thánh Tâm Chúa bên mình. Mấy tháng sau, anh Tâm qua đời trong một đợt hành quân. Mọi người trong trại đều khóc thương anh.

Xuất ngũ về, anh Ba xin học đạo và giữ đạo rất sốt sắng. Anh siêng đi lễ và đem Lời Chúa áp dụng vào cuộc sống theo gương anh Tâm:” Thầy tớ dạy thế”. Anh Ba cầu xin và Chúa cho anh cưới được một cô vợ trong xứ đạo đẹp người, đẹp nết. Hai người sống bên nhau rất hạnh phúc. Anh Ba thầm tạ ơn Chúa vì ân ban này. Nhưng được hơn một năm thì chị qua đời, do đi làm vườn cuốc phải quả mìn. Bên họ hàng nhà anh nói: ”Tại anh theo đạo Chúa, phụ bạc Ông Bà tổ tiên nên bị quở”. Anh Ba âm thầm cam chịu, một lòng tin tưởng phó thác vào Chúa.

Sau khi mãn tang vợ, nhờ người mai mối, Chúa lại cho anh Ba Khỏe gặp được cô gái khác cũng có đạo và nết na, đức hạnh, giỏi giang không kém gì cô trước. Cô sinh cho anh mười đứa con: năm trai, năm gái, trong đó có bốn đứa bị câm điếc do di chứng chất độc của chiến tranh. Họ hàng nhà anh lại tiếp tục xầm xì:” Tại anh theo đạo Chúa không lo hương khói cho Ông Bà tổ tiên và Cha Mẹ nên phải lãnh hậu quả của sự bất hiếu”. Còn anh chị Ba thì luôn tạ ơn Chúa vì bốn đứa ấy bị khuyết tật, nhưng trí não chúng vẫn bình thường để học biết Chúa. Các con anh Ba đứa nào cũng ngoan ngoãn, lễ phép, mọi người trong xứ ai cũng mến thương. Chỉ có thằng Tám là ham chơi, lười học chẳng chịu nghe lời cha mẹ, mặc cho bao lời răn dạy kể cả phạt đòn. Bốn đứa khuyết tật thì anh Ba gởi vào trường nội trú của các Sơ để chúng học đạo, học chữ và học nghề theo phương pháp riêng. Còn mấy đứa ở nhà, sáng nào cũng theo cha mẹ đi lễ.

Có một chuyện mà giờ nhớ lại anh Ba còn thấy tức cười và tạ ơn Chúa. Sáng hôm đó, cả nhà thức dậy đi lễ như mọi ngày. Cô gái lớn của anh ở nhà nấu cơm cho các em ăn sáng để đi thi. Chị Ba đang lo đốt đuốc thì hai đứa nhỏ lanh chanh chạy trước. Mới bước qua bờ rào, đứa đi trước vấp phải vật cản té nhào, chúng la ỏm tỏi:

- Cha mẹ ơi, nhanh ra xem cái gì nằm giữa đường này!

- Cái gì mà la om sòm vậy, hàng xóm còn đang ngủ đó?

- Ai để đồ ở đây này!

Chị Ba soi đuốc đi ra thì thấy một giỏ đầy gà mà không biết của ai. Mấy đứa nhỏ xúm nhau khiêng vô nhà, xếp ra cả thảy mười ba con gà đều bị trói chân. Đi lễ về mới phát hiện ra đó là gà nhà bị bắt trộm. Anh Ba nói:

- Tạ ơn Chúa, suýt chút nữa là mất toi mười mấy con gà mái tơ rồi.

Đứa bị vấp té nói:

- Tội nghiệp người ăn trộm, không lấy được gà mà còn mất cái giỏ mới.

- Tội nghiệp cái gì? Họ ăn trộm nhà mình mà tội nghiệp.

- Tại em thấy họ bị mất cái giỏ mới toanh thì nói như vậy. Phải chi mình biết của ai để đem trả cho họ.

Cả nhà cùng cười vì sự đơn sơ của hai đứa nhỏ. Thấy gia đình êm ấm, hạnh phúc là do ơn Chúa ban, nên anh chị Ba Khỏe không tiếc gì với Chúa và mọi người. Khi nhà xứ có việc thì cả nhà anh đến giúp. Còn ai gặp khó khăn đến nhờ đều được giúp theo khả năng anh chị có. Vì thế mà hàng xóm ai cũng quý gia đình anh. Thấy vậy, bên họ hàng nhà anh thôi xầm xì bàn tán.

= o O o =

Thời gian thấm thoát trôi, các con có thể đảm đang công việc nên ông bà Ba Khỏe tham gia vào Hội Phạt Tạ của giáo xứ, sau chuyển thành Hội Lòng Chúa Thương Xót. Ông Ba còn tham gia vào Hội Trợ Tử, đi giúp những người hấp hối trong giờ sau hết. Khi họ qua đời, ông Ba đi mua quan tài giúp nhà hiếu,tìm mua heo hoặc bò để nấu đám. Có những gia đình nghèo sau đám tang không đủ chi trả, ông Ba sẵn lòng góp thêm cho đủ. Có một lần ông làm mọi người ngạc nhiên và cảm phục. Hôm đó ông cũng đi mua quan tài như mọi khi, vừa đi ông vừa lần chuỗi Lòng Chúa Thương Xót cầu nguyện cho người mới qua đời vì bị chìm đò. Trại hòm này vừa khai trương mấy tháng. Thấy ông ốm yếu, xềnh xoàng cậu trai trẻ nhìn bằng ánh mắt thiếu thiện cảm. Ông Ba nhã nhặn lên tiếng trước:

- Cậu cho tôi vào xem quan tài.

- Tự nhiên!

Ông Ba xem qua rồi hỏi:

- Cậu ơi, loại quan tài này bao nhiêu một chục?

Anh ta nghĩ thầm: Ông này cà chớn thật, quan tài mà hỏi mua chục như trái cây, chắc đem về chôn cả nhà hay sao? Anh ta trả lời cho bỏ ghét:

- Ở đây mua một vài cái thì tính tiền, chứ mua xài một chục trở lên thì cho luôn không lấy tiền.

- Cậu nói chơi hay nói giỡn?

- Quân tử nhất ngôn!

- Vậy cậu để cho tôi mười bốn cái.

Biết mình lỡ lời anh ta lúng túng:

- Ông… Chú…Chú nói thật chứ?

- À! Xóm tôi mới bị chìm đò chết hết mười bốn người.

- Vậy hả Chú?

- Cậu cho tôi thiếu, sau đám tôi góp lại trả luôn.

- Dạ, con lỡ lời xin Chú thứ lỗi. Để… để khi khác con tính tiền, lần này cho con kính biếu để chia buồn với những gia đình gặp nạn.

Nghe ông Ba kể, mọi người vừa buồn cười vừa khen ông khéo nói. Ông Ba thầm cảm tạ Lòng Chúa Thương Xót, vì trong số các nạn nhân có ba người không có đạo, ông xin Chúa cho họ được nhận biết Chúa. Từ đó, uy tín ông Ba ngày càng tăng thêm, cả những người chưa nhận biết Chúa cũng mộ mến ông.

Nhìn lại những biến cố xảy đến trong cuộc sống của mình ông Ba càng xác tín vào tình thương và quyền năng của Chúa. Càng ngày ông càng gắn bó với Chúa hơn, sống vị tha, hy sinh, quảng đại nhiều hơn. Một hôm bà Ba đi chợ về, liền kêu ông vào nói:

- Anh vào đây em kể cho nghe chuyện này!

- Chuyện gì mà em làm coi bộ nghiêm trọng vậy?

- Anh Hai Hòa trong Hội Đồng Mục Vụ tranh chấp đất đai với Chú Bảy nhà bên cạnh, hai bên làm om sòm lên và đưa vào Cha Xứ kiện cáo nữa.

- Sao em biết?

- Hồi sáng em đi ngang nhà thấy họ đang lời qua tiếng lại chửi nhau, hàng xóm vây kín chung quanh.

- Chắc có ẩn tình gì bên trong. Con người ta thật mỏng manh yếu đuối lắm. Thôi chúng ta cùng cầu nguyện cho họ.

Sáng hôm sau, vừa lễ xong Cha xứ gọi ông Ba vào trao đổi và nhờ giúp Cha giải gỡ vụ này. Ông Ba hứa với Cha sẽ khuyên giải đôi bên sao cho êm đẹp mọi đàng. Ông về xin Hội Lòng Chúa Thương Xót làm Tuần Tam Nhật. Sau đó ông đi gặp ông Hai Hòa. Mọi sự được giải quyết êm xuôi nên Cha xứ và Hội Đồng Giáo xứ rất vui mừng. Ông Ba thầm tạ ơn Chúa và xác tín vững vàng hơn vào Lòng Thương Xót của Chúa.

Ông Ba càng quảng đại với mọi người thì Chúa càng hậu đãi ông. Lần kia, nhóm đạo tỳ của Giáo xứ và ông Ba được nhà hiếu của một phật tử mời ở lại dùng cơm. Có tí men các bác quảng đại mua hết xấp vé số cho một em bé, rồi chia nhau mỗi người một tờ, ông Ba không nhận vì trước giờ không mua. Đến chiều, cả mười người cùng trúng độc đắc_ kể cả gia chủ. Họ nhờ ông Ba lên tỉnh mua hộ mười chiếc xe Wave. Ông Ba vừa đi vừa lần chuỗi Lòng Chúa Thương Xót xin Chúa cho mọi việc được tốt đẹp. Thấy ông Ba xách giỏ đệm bước vô, các nhân viên ngạc nhiên.

- Chào các chú, cho tôi xem qua chiếc xe.

- Mời bố cứ tự nhiên.

Ông Ba xem thì giá đúng như con trai ông nói. Tuy vậy ông cũng hỏi đùa:

- Xe Wave này mua một chục thì có bớt không các chú?

- Bố mà mua một chục thì tặng thêm bố một chiếc.

- Thế à!

- Không đùa đâu bố ơi!

- Vậy bán cho tôi một chục.

- Thật… thật… hả bố?

- Không đùa đâu chú ơi!

 Thế là Ông Ba được chiếc xe miễn phí. Làm giấy tờ xong họ cho xe đem giao hàng tận nhà. Ông Ba thầm tạ ơn Chúa vì món quà này. Về nhà ông Ba nhờ thằng Tám chỉ cho cách tập xe. Một lúc sau ông chạy ngang nhà hô to:

- Tám ơi! Ôm mấy mớ rơm lớn để giữa sân cho cha.

Thằng Tám quay qua bà Ba:

- Chắc Cha định thịt con chó khao xe mới hay sao mà bảo ôm rơm?

- Thì Cha bảo gì con mau làm đi!

Chặp sau ông Ba chạy xe về lủi vô đống rơm cho nó dừng lại. Thì ra lúc nảy ông quên cái thắng ở chỗ nào. Cả nhà được một trận cười vỡ bụng. Ông Ba thoát một phen hú vía liền tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót đã che chở, giữ gìn mình. Ông càng thêm xác tín rằng: Nếu mình luôn sống gắn bó với Chúa, thì Chúa sẽ luôn phù trợ mọi nơi mọi lúc. Nhưng cũng có lúc Chúa thử thách lòng trông cậy và sự kiên trì cầu nguyện của ông. Có một anh bợm nhậu biệt danh Tư Xỉn ai cũng sợ, họ nhờ ông đến khuyên giải. Khi có rượu vô anh ta mắng ông:

- Bộ ông rảnh lắm sao mà đi xía vô chuyện nhà người ta? Thằng Tám con ông cũng rượu chè be bét sao không giỏi dạy nó đi, bày đặt đi dạy đời người ta.

Ông Ba không chấp anh ta, chỉ nói với vợ ông cùng cầu nguyện cho anh ta biết sửa đổi. Thấy thằng Tám lò mò về bà Ba nói:

- Con là đứa cha mẹ lo lắng nhất. Bộ con tính chờ đến khi cha mẹ chết hết mới lo tu chỉnh hay sao?

- Mệt mẹ quá đi, kệ con!

Rồi nó lại quay lưng bỏ đi. Bà nói với ông:

- Ông xem đó! Nói động tới là nó bỏ đi.

Mã số: 19 - 022

Ông Ba ôn tồn:

- Thôi! Tạ ơn Chúa đã cho chín đứa kia tốt lành. Có lẽ Chúa cho một đứa như vậy để mình biết cảm thông với người khác. Mình dạy hết cách mà nó không nghe, đành phó thác cho Chúa vậy.

 

 Mười ngày sau, lúc bà Ba đi đọc kinh Lòng Chúa Thương Xót về thì bị anh Tư Xỉn chạy xe lạng quạng tông chết. Ông Ba đau khổ vô cùng. Nhiều người bảo:” Do ghét ông mà anh ta trả thù như thế!”. Nhưng ông Ba nhớ Lời Chúa dạy:” Đừng xét đoán” và “Hãy tha thứ” nên ông đồng ý làm giấy bãi nại cho anh. Sau thấy anh Tư lo tu chí làm ăn, Ông Ba cho mượn thêm vốn. Được một năm anh Tư hoàn vốn cho ông và cả nhà xin học đạo. Từ ngày bà Ba mất, thằng Tám cũng thôi đi chơi mà ở nhà phụ giúp công việc và thỉnh thoảng theo ông đi đọc kinh Lòng Chúa Thương Xót. Thấy vậy, ông mừng rỡ vô cùng và thầm tạ ơn Lòng Thương Xót vô biên của Chúa. 

ĐỂM GIÁNG SINH DIỆU KỲ

Mã số: 16 - 024

Một buổi sáng cận ngày Noel, khi tiếng chuông Nhà Thờ đổ liên hồi báo hiệu một đêm Giáng Sinh an lành sắp đến ; đêm Chúa Hài Đồng sắp sinh ra đời. Đêm qua đã là đêm 22 tháng chạp. Và sáng nay, khi cây Noel trong phòng Thiên Thanh vẫn còn rực sáng, cô bé choàng mình thức dậy vì tiếng chuông điện thoại reo vang trên bàn học cạnh cửa sổ. Cố bé mắt nhắm mắt mở đưa tay dụi mắt, tay kia cầm điện thoại trong lúc miệng liên tục ngáp

- Bố hả? Con đang ngủ ngon bị bố đánh thức dậy nè. Bố mẹ về chưa? Sao vậy bố?

- Chưa về đâu con gái. Ông bà nội có khách giữ bố mẹ ở lại chơi đến tối mới về con ạ. Bà nội gừi cho con bười con thích đó!

- Lại bưởi nữa hả bố! Con ngán bưởi lắm rồi! Sáng nay con có tiết học Anh Văn ở trường. À, chiều bố về nhớ làm cho xong chiếc hang đá nhé bố. Đêm 24, tụi bạn con muốn về nhà mình chơi đón Noel đó bố

- Được rồi, bố nhớ mà! Ngày Noel cũng là ngày sinh nhật của con gái bố mà, phải không? Sao bố không nhớ chứ!

Sau câu nói vui vẻ của ông bố điện thoại đột nhiên mất sóng kêu rè rè tiếng được tiếng mất. Một lát, điện thoại chỉ còn tiếng ù ù xen lẫn những tiếng tạp âm. Thiên Thanh cười buồn gác máy bởi cô biết điện thoại nhà mấy bữa nay bị hư đường truyên. Cô bé bước ra bên hàng hiên cửa sổ hít một hơi thật dài, mùi hương nhài thơm dịu, cô bé thóang nhìn qua khung cửa chổ hàng cây lan tím đang nẩy chồi xanh, một mảng nắng đầu ngay chiếu xuống xuyên qua kẽ lá. Buổi sáng đang chào đón cô bé bằng tia nắng ấm áp

Buổi trưa, trời nắng gắt, Thiên Thanh đạp xe rẽ vào khu phố vắng. Khu biệt thự Quận 2 nổi tiếng yên tĩnh, cứ trưa đến là im ăng như tờ. Nhiều người thích không khí ở đây. Nhưng đường vắng không có nghĩa là con đường đem đến bình an, nó luôn ẩn chứa những bất an cho những bé gái xinh đẹp. Thiên Thanh đâu có biết, giữa khu khuôn viên biệt thự có những hàng cây xanh tỏa bóng mát. Ba gã đàn ông đang đứng nói chuyện phía sau gốc cây Bàng, cạnh đó là chiếc xe hơi màu đen đậu sẵn ở đó từ bao giờ. Khi Thiên vừa đạp xe tới, lập tức ba gã đàn ông ra tay, chúng trang bị sẵn khẩu trang, kiếng mát và mũ bảo hiểm đủ trùm kín mặt và chúng bắt đầu hành động. Hai tên chăn đầu cô bé. Một tên xông tới bịt miệng Thiên Thanh bằng một chiếc khăn mùi xoa có tẩm thuốc mê, sau đó cả hai lôi cô bé vào xe hơi. Tên thứ ba nhanh chóng giấu chiếc xe đạp sau gốc cây Bàng. Tất cả diễn ra chỉ trong nháy mắt, cả khu biết thự vẫn rất yên thắm. Cả bọn rút nhanh vào chiếc xe hơi. Một cuộc bắt cóc có kế hoạch hoàn hảo

Buổi tối, cha mẹ Thiên Thanh hớt ha hớt hãi bước vào đồn công an. Gương mặt họ đầy vè hoảng loạn

- Con…con gái tôi bị làm sao? Tại sao bọn chúng lại bắt cóc con gái tôi! – Người bố hỏi mấy câu hỏi làm mấy anh cảnh sát cứng đơ người, không biết phải trả lời ông thế nào

- Xin ông bà bình tĩnh. Đây có thể là một bọn bắt cóc người tống tiền chuyên nghiệp, bọn chúng không để lại bất kỳ dấu vết nào tại hiện trường ngoài chiếc xe đạp của cô bé

- Không …không thể như thế được…- Người mẹ gào lên - Xin các anh làm ơn cứu con gái tôi… Hãy cứu con gái tôi

- Chúng tôi sẽ làm hết sức – Anh công an trấn an bố mẹ Thiên Thanh – Nhất định chúng tôi sẽ tìm ra bọn bắt cóc. Xin ông bà cứ bình tĩnh về đi, và cố gắng chờ đợi tin tức của anh em chúng tôi

Khi bố mẹ Thiên Thanh vừa ra về. Anh trưởng công an liền quay sang hỏi một cán bộ điều tra:

- Con bé hằng ngày vẫn đi học về ngang qua đó sao?

- Vâng, vì đó là khu biệt thự độc lập có bảo vệ túc trực ngày đêm kiểm tra mọi hoạt động ra vào trong khu này. Tiếc là, lúc xảy ra vụ bắt cóc đám bảo vệ đi ăn trưa, chỉ một người ở lại trông coi thì anh ta lại đi vệ sinh đúng vào thời điểm bọn bắt cóc hành động

- Vậy còn chiềc xe hơi?

- Không một ai biết rõ chiếc xe hơi đó. Bảo vệ khẳng định họ không phát hiện một xe hơi lạ nào vào đó, thường ngày có rất nhiều xe hơi ra vào, họ khai không thể biết được chiếc xe nào của bọn tội phạm

Nói vậy cũng bằng không. Phải bằng mọi giá truy tìm ra chiếc xe hơi đó

- Anh em đang nỗ lực truy lùng bọn tội phạm. Có thể hành động tiếp theo của bọn bắt cóc là nhắn tin cho bố mẹ cô bé đòi tiền chuộc. Anh em sẽ cố gắng theo sát chuyện này

Thiên Thanh bị một bọn tổ chức buôn người bắt đóc đưa về căn biệt thự kín cổng cao tường, xung quanh là rừng cây cối bao phủ. Đó là một căn nhà hai tầng lầu nằm ở vùng ngoại ô Hà Nội. Bọn bắt cóc không đòi tiền chuộc như nhiều người suy đoán, bọn chúng chuẩn bị đưa cô bé ra nước ngoài bán cho môt động mãi dâm quốc tế. Trước khi đem cô bé đi bán, bọn chúng bí mật tung hình ảnh cô bé gửi cho những khách hàng “ mối “ vốn là những gã đại gia nhiều tiền thích của lạ. Tin về cô bé đưa đi còn nóng hổi. Bọn bắt cóc đã nhận được lời đề nghị của một đại gia muốn sở hữu Thiên Thanh trong 3 ngày với giá do bọn chúng đưa ra là 50 triệu, với điều kiên cô bé phải còn trinh tiêt. Sau khi thỏa thuận xong, bọn chúng đưa Thiên Thanh lên một tầng lầu kín đáo nhất của tòa nhà để chờ tối nay sẽ đưa cô bé tới một địa điểm bí mật

Thiên Thanh không hề biết chuyện gì sắp xảy ra cho mình, không biết rằng mình sắp bị đưa đi làm trò vui cho gã đại gia, cũng chẳng hề biết mình sắp bị đưa sang Singapore làm gái mãi dâm. 4 giờ chiều hôm đó bọn bắt cóc đưa cô bé lên tầng hai ngôi nhà, nhốt cô vào căn phòng nhỏ như một nhà kho chật chội, chỉ có chút ánh sáng từ ngoài hắt vào qua khung cửa sổ nhỏ.

Có lẽ vì lo sợ bị lộ nên bọn chúng đã đổi kế hoạch, chưa vội giao “ hàng” cho gã đại gia. Suốt hai ngày trời bị nhốt trong gian phòng kín, Thiên Thanh chỉ biết khóc gọi tên bố mẹ. Cô bé bị trói tay, không ăn uống được nhiều dù bọn bắt cóc mang đến cho cô những món ăn ngon. Cứ khoảng một vài giờ bọn chúng lại ghé qua phòng xem xét tình hình, có vẻ chúng sợ cô bỏ trốn. Chúng khủng bố tinh thần, đe dọa tính mạng cô bé bằng những hành động cợt nhã bỉ ổi, cốt làm cô gái sợ hãi

 Thiên Thanh không còn chịu đựng được nữa, cô bé đã khóc nhiều đến sưng húp mắt. Hai tay cô bị trói quặt ra sau suốt ba ngày nay gây ra biết bao đau đớn khổ sở cho cô bé. Mỗi ngày cô bé chỉ biết nhắm mắt gắng chịu đau liên tục xoay mạnh cổ tay để mong sao sợi dây trói từ từ lỏng ra.

Chiều hôm đó, sau những ngày miệt mài đầy khó khăn, cô bé đã tự cởi được trói cho mình với hai cổ tay đầy vết xước lẫn với máu. Ngay lập tức cô bé đi lục lọi khắp căn phòng chưa đầy những đồ đạc lỉnh kỉnh, chỉ duy nhất một chiếc tủ gỗ cũ kỹ dựng ở góc phòng. May sao, cô đã tìm được một cây viết và một mảnh giấy nhỏ. Viết vội vài chữ vào mảnh giấy cô bé hy vọng điều cô muốn nói trong giấy sẽ đến tay ai đó ở bên ngoài, họ sẽ báo cảnh sát đến cứu cô. Và đó là hy vọng duy nhất mà cô bé có thể làm vào lúc này

 Dù đã có sẵn mảnh giấy trong tay, nhưng cô bé không biết làm cách nào để nó có thể lọt ra ngoài, vì lẽ xung quanh căn nhà là một rừng cây cối bao phủ dày đặc, dẫu có vứt được mảnh giấy ra ngoài thì cũng chẳng có bóng người nào. Cô bé bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng, bắt đầu nôn nóng muốn nhanh chóng thoát ra khỏi đây, nhưng bọn bắt cóc vốn rất ma mãnh khôn ngoan đã lường được trước mọi bất trắc có thể xảy ra. Chúng tin đó là địa điểm tuyệt đối an toàn, bởi nơi đây cảnh sát từng bó tay nhiều vụ bắt cóc táo bạo, không hề dễ dàng cho cảnh sát nều như họ muốn tìm ra dấu vết của bọn chúng

Thiên Thanh sực nhớ đến chuỗi hạt Mân Côi mẹ đã mua cho cô bé hôm Chủ Nhật đi lễ Nhà Thờ, trước ngày bị bắt cóc. Lấy chuỗi hạt ra khỏi cổ, cô bé thầm đọc kinh cầu nguyện với Đức Mẹ. Đang đọc dở chứng kinh Kính Mừng, Thiên Thanh bỗng nghe thấy tiếng chim kêu ríu rít đâu đó bên ngoài. Ngước nhìn lên ô cửa sỗ cô phát hiện một con chim sẻ không hiểu sao nó bị mắc kẹt vào cánh cửa không thể thoát ra ngoài được

Thiên Thanh vội kéo chiếc bàn gỗ nhỏ gần đó rồi leo lên, với tay lên cửa sổ cúu con chim thoát ra khỏi cách cửa. Giữ trong tay con chim cô bé chợt nghĩ ra một cách. Tại sao không cột miếng giấy vào chân con chim sẻ, thả nó bay đi, biết đâu miếng giấy sẽ đến tay ai đó và nó sẽ cứu cô ? Dẫu chỉ là tia hy vọng mong manh, cô bé nghĩ mình chẳng còn có cơ hội nào khác

Sau khi thả con chim đi mang theo mảnh giấy đầy kỳ vọng lên trời, cô bé đứng trong khung cửa sổ cố ngước nhìn lên Trời xanh mải cho đến khi con chim mất hút. Cô bé không quên thầm nguyện xin Đức Mẹ cứp giúp mình. Nhưng khi vừa bước xuống định tiếp tục đọc kinh thì cánh cửa căn phòng bật mở. Một gã bậm trợn bước vào ra hiệu cho cô đi theo hắn. Không hiểu gã kia đưa mình đi đâu và chuyện gì sẽ cảy ra với mình Thiên Thanh vẫn cố giữ điềm tĩnh, bởi cô luôn nghĩ đến Đức Mẹ, nhất định Mẹ sẽ không để cho bọn chúng làm hại cô. Thiên Thanh đã thấy một dấu lạ, Đức Mẹ đã che mắt gã kia khi hắn không phát hiện ra việc cô bé đã tự cởi trói cho mình. Song cô bé vẫn nghĩ đến một chuyện kinh khủng nhất trong cuộc đời cô. Nếu bị bọn chúng hãm hại, cô sẽ tìm cách lao đầu vào tường. Thà rằng chết đi bảo toàn trinh tiết còn hơn sa vào tay bọn quỷ dữ!

Thiên Thanh bị bịt mắt và bị kềm giữ bởi hai gã hộ pháp lực lưỡng, bọn chúng đe dọa cô phải nghe theo lời chúng, nếu có hành vi chống đối chúng sẽ lập tức trừng trị cô đích đáng. Bọn chúng đưa cô lên một chiếc xe hơi rồi chở đi đâu đó. Một lát, chiếc xe dừng lại. Thiên Thanh bị đưa vào một căn phòng sang trọng thơm nức mùi nước hoa. Chúng thúc dục cô bé đi tắm rửa sạch sẽ. Lúc đó, Thiên Thanh vẫn ngây thơ, chưa biết chuyện gì sẽ xảy đến với mình

Nói về chú chim sẻ, sau khi được Thiên Thanh thả đi, nó bất ngờ sa vào bẫy lưới của một người chuyên đi săn bắt chim đem bán cho những Phật tử mua chim để thả phóng sinh. Khi gỡ chim ra khỏi lưới người ta phát hiện thấy đươi chân chim ai đó cột vào một mảnh giấy nhỏ màu xanh...

Trong căn phòng tắm sang trọng, Thiên Thanh không hề tắm rửa theo như lời bọn bắt cóc. Cô bé đứng ở cửa nhà tắm hé mắt nhìn ra ngoài, thoáng thấy một gã đàn ông ở trần đang nằm trên giường làm cô bé sợ run rẩy, tinh thần bấn lọan. Cố giữ bỉnh tĩnh, cô nhắm mắt liều thân vội ù té bỏ chạy ra phía cửa phòng, nhưng cánh cửa đã khóa chặt. Bất thình lình, gã đàn ông bật dậy nhào đến ôm chặt lấy cô bé đẩy cô xuống giường. Gã đàn ông như con thú đói lao vào Thiên Thanh cấu xé. Nhưng cô bé đã cắn mạnh vào tay gã khiến gã điên tiết …Đúng lúc nguy khốn đó, cách cửa phòng bật mở, cảnh sát ập vào còng tay gã đàn ông, trong khi Thiên Thanh vẫn còn nằm trên giường với vẻ mặt kinh hoàng

Thiên Thanh thoát khỏi tay bọn bắt cóc nhờ vào mãnh giấy nhỏ với hàng chữ do chính cô viết : XIN CỨU CON, CON ĐANG BỊ NHỐT TRONG CĂN NHÀ NHIỀU CÂY CỐI XUNG QUANH …Cô bé tỏ ra rất thông minh biết cách gây sự chú ý cho cảnh sát trong tình trạng tâm trí đang hoảng loạn. Nhờ mảnh giấy cảnh sát đã nhanh chóng xác định được mục tiêu, vì đặc điểm của căn nhà : xung quanh toàn cây cối nên họ nhanh chóng tìm ra

 

Đúng vào đêm mừng Chúa Giáng Sinh, Thiên Thanh được cảnh sát đưa cô về tận gia đình. Bố mẹ cô chạy ra ôm chặt lấy cô bé trong niềm vui khôn tả, Thiên Thanh tưởng đó chỉ là giấc mơ. Ngay khi ấy, Thiên Thanh vội chạy ngay vào nhà, quỳ dưới chân hang đá Chúa Hài Đồng thì thầm : “ Con cám ơn Chúa Hài Đồng. Con biết Chúa sẽ đến cứu con. Con cám ơn Mẹ Maria…”Lúc đó, chuông Nhà Thờ đổ liên hồi, báo hiệu đêm nay sẽ là đêm vui nhất của con người 

CÁT BỤI

Mã số:  16 - 020

- Út à, đi gặp ba không? Ba đang chờ ngoài cồn cát đó.

Anh Hai nói khẽ, cố không để cho má và bà nội nghe. Hai tuần hoặc một tháng, tôi chờ mong ba muốn thăm chúng tôi, đứng ngoài cồn cát, chờ chúng tôi ra khỏi nhà để chạy đến bên ba. Bao lâu rồi ba không sống chung với chúng tôi nữa?

Người lớn có những vấn đề phức tạp mà trẻ nhỏ không thể nào giải thích được. Chính người lớn cũng không giải thích được. Ba tôi là một thầy giáo ở trường học, là một giáo lý viên ở nhà thờ. Ba và mẹ có một cuộc hôn nhân theo luật Chúa, sống hạnh phúc, có hai đứa chúng tôi. Nhưng một ngày ba mở trang trại bò ở một làng dân tộc, nuôi bò kiếm thêm thu nhập để lo cho chúng tôi ăn học. Ba bén duyên với một phụ nữ dân tộc chăn bò cho trang trại của nhà chúng tôi. Tự dưng tôi có thêm một em gái. Mẹ tôi đã quậy ba tan nát. Sự căm thù của một người đàn bà mất chồng, dù đã kết hôn theo luật Chúa và luật đời thật cay nghiệt. Mẹ tôi đẹp hơn người phụ nữ dân tộc đó, cao sang hơn và có tình có nghĩa với đời ba hơn. Chính mẹ đã đẻ cho ba hai đứa con, chăm sóc nội, dành hết niềm tin, tình yêu, hy sinh của mình vào vai trò làm vợ, làm mẹ, làm con dâu. Vậy mà ba lại lạc lòng, lạc đạo Chúa và luật đời, đi dan díu tình cảm với một phụ nữ dân tộc thấp hèn, không có gì trong tay.

Những ngày đó thật đáng sợ. Nhà tôi toàn là tiếng chửi rủa và nước mắt. Mẹ và bà nội thi nhau chửi rủa ba. Chính bà nội đã từ mặt ba, đuổi ba ra khỏi nhà. Nội tuyên bố tài sản của nội sẽ trao cho hai đứa cháu chứ không còn trao cho ba nữa. Ba rời bỏ trường học, rời bỏ nhà thờ. Ba sống cùng người phụ nữ dân tộc trong trang trại bò cách khá xa khu dân cư và rất xa làng tôi. Từ một thầy giáo ba trở thành kẻ chăn bò. Từ một con chiên ngoan đạo ba trở thành một con chiên lạc. Ba không có lối về hay không muốn về?

Không có ba tất cả chúng tôi đều buồn. Nhớ lắm. Đêm nào mẹ và nội cũng khóc. Nội nhớ con, mẹ nhớ chồng. Chúng tôi cũng rất nhớ ba.

Ba biết mình có lỗi với chúng tôi. Nhưng làm sao về? Về là cơn đau của mẹ lại trỗi dậy. Ghen tuông, cay đắng, uất ức cứ tuôn ra. Tình yêu khi êm đềm là liều thuốc bổ nhưng khi làm nhau đớn đau chẳng khác nào thuốc độc. Còn yêu đó mà không thể nhìn nhau, không thể tha thứ cho nhau. Tha thứ làm sao đặng khi bên này có hai đứa con mà bên kia cũng có một đứa bé. Chúa kêu tha thứ bảy mươi lần bảy. Nhưng tha thứ trong trường hợp nào? Có tha thứ được khi người này làm con tim người kia tan nát hay không?

Ba không về nhà. Có về cũng bị nội lấy chổi đuổi như đuổi tà. Mẹ cũng không nhìn mặt. Nên cứ hai tuần, có khi một tháng, lâu hơn thì hai tháng. Ba lần mò về làng cũ, đứng ở cồn cát, nhắn với một người quen. Trời chạng vạng tối, hai anh em tôi nắm tay nhau chạy ra khỏi con đường làng, hai bên bụi tre chằng chịt, vừa sợ ma vừa sợ bóng tối nhưng không ngăn nổi sự nôn nao, hạnh phúc khi gặp ba mình. Qua hết bụi tre là ra cồn cát. Cát mênh mông, từng ụn, từng ụn kéo nhau tít tắp phía chân trời. Nghĩa trang của làng chúng tôi và làng bên cũng ở gần cồn cát. Nghĩa trang đạo của làng tôi hướng đông, có cây thánh giá nơi cổng vào. Nghĩa trang làng bên hướng tây ngược lại với làng tôi- dân ngoại. Chiều chạng vạng rất ít người ra cồn cát. Nên nhìn thấy cái dáng đứng cô đơn trên cồn cát anh em tôi biết đó là ba. Chúng tôi chạy ào tới, ôm lấy ba, vùi đầu, vùi mũi vào người ba, áo ba, hít lấy hít để cho thỏa nỗi nhớ có ba mà không có ba. Gặp ba lần nào ba cha con cũng khóc. Hỏi nhau: “Nội có khỏe không? Mẹ con có khỏe không?”, “ba có khỏe không?”. Khóc váng lên trên cồn cát buồn.

Những cuộc gặp của cha con chúng tôi diễn ra trên cồn cát vào những buổi chiều chạng vạng. Lần gặp nhau nào cũng bịn rịn. Tôi còn nhỏ nên không hiểu cuộc đời, cứ hỏi Chúa tại sao con có ba mà không được sống cùng ba? Sao Chúa không cho con có ba luôn, ở cùng ba luôn? Nhưng Chúa không trả lời.

Lòng tôi và anh tôi đã buồn đến vậy, lòng nội tôi, mẹ tôi càng buồn hơn. Mẹ càng ngày càng ít nói, khóc nhiều, già và suy sụp hơn. Mẹ căm thù ba nhưng vẫn nhớ con người làm cho mẹ đau đớn, bẽ bàng. Còn nội, muốn tha thứ cho ba nhưng thấy tội con dâu quá. Nó đã gắn cuộc đời nó cho nhà chồng, hy sinh hết mình. Vậy mà thằng con mình còn làm nó khổ, sao nội dám tha thứ cho thằng con?

Những ngày chủ nhật, nội dắt hai anh em tôi đi lễ. Trong nhà thờ nội nói nhỏ với tôi:

- Con và nội cùng cầu nguyện cho ba con trở về nghe.

- Còn người phụ nữ kia và đứa bé thì sao hả nội?- Tôi hỏi.

Nội im lặng, mắt nhìn thánh giá Chúa, thở dài.

Đã mấy tháng rồi, chúng tôi không gặp ba. Chao ôi là nhớ! Lâu nay ba toàn là người chủ động thăm chúng tôi. Chúng tôi đâu có biết ba ở đâu mà đến? Nhưng mấy tháng rồi ba không thăm chúng tôi. Lẽ nào ba quên các con của ba rồi?

Hai anh em tôi lén gặp một người chú quen trong làng, hỏi chỗ ở của ba. Đi học về, trưa nắng, anh đạp chiếc xe chở tôi đi thăm ba.

Đạp xe gần hai tiếng đồng hồ, hỏi thăm nhiều người, hai anh em chúng tôi cũng tìm được nhà của ba và người phụ nữ dân tộc. Chỉ tìm được nhà thôi chứ trang trại bò thì xa quá, ở đâu tận trên núi nên hai anh em tôi không đến được. Vào nhà, chúng tôi thấy đứa nhỏ- con ba và cũng là đứa em của chúng tôi. Ba tôi ở luôn trên trang trại. Buổi sáng dì nấu ăn cho em, rồi tất tả lên núi với ba. Em ở lại làng ăn cơm, đi học, chiều tối dì mới về. Em khá hiền và sợ sệt khi nhìn thấy hai anh em tôi.

Trong nhà có treo thánh giá và có bàn thờ để tượng Đức Mẹ. Thì ra dù không còn là con chiên “ngoan” ba tôi cũng không bỏ đạo. Em tôi cũng đã được rửa tội, nhưng do luật Chúa không cho ba ly hôn nên ba và dì vẫn không kết hôn được ở nhà thờ.

Biết chúng tôi là con ba, là anh, chị của em nên em đã mạnh dạn nói chuyện và cười đùa với chúng tôi. Trời đã chiều, phải quay về nhà, nên hai anh em tôi phải tạm biệt em và đèo xe về. Em đứng ở thềm nhà, ôm cây cột, mắt buồn bã tiễn hai anh em tôi. Đáng lẽ tôi phải ghét em- đứa nhỏ cướp ba của mình mà tôi chỉ thấy tội em thôi. Tôi thiếu ba nhưng có mẹ và nội ở bên. Còn em, cả ngày thiếu cả ba và mẹ. Tôi thấy tội và thương em. Trước khi đi tôi hỏi em tên thánh gì? Mắt em long lanh nói: “Maria”.

Mẹ tôi cũng biết hai anh em tôi cả gan đạp xe mấy chục cây số để đi thăm ba. Nhưng mẹ không nói gì. Mẹ giống nội, lần chuỗi cầu nguyện hàng đêm nhưng không biết phải cầu thế nào cho phải? Cầu cho chồng quay về. Còn người phụ nữ kia, đứa bé kia? Rồi quay về hai người có hạnh phúc như xưa không? Hay vẫn đớn đau, tức giận khi phải nhìn thấy mặt nhau? Vậy thì cầu nguyện làm sao cho hợp?

Chúng tôi chờ ba đến thăm như nắng hạn chờ mưa. Gần cả năm rồi ba không đến thăm chúng tôi. Chiều chạng vạng tôi mong ước bao nhiêu giây phút được chạy ra khỏi nhà, chạy như bay qua con đường mòn đầy tre, leo lên cồn cát lún, gặp cái dáng ba đứng trên còn cát buồn. Úp mặt vào người ba để nghe mùi ba. Bây giờ tôi mới hiểu phần nào nỗi buồn của mẹ. Nỗi buồn khi thiếu vắng người mình thương yêu. Một nỗi buồn bất lực khi mình là người phải chờ đợi chứ không được chủ động có được người yêu thương ấy.

Có một chiều mưa, làng tôi và làng bên cùng có đám tang. Đứng ở sau nhà, chúng tôi ngóng lên cồn cát, nhìn hai đám rước đi về hai nghĩa trang khác nhau. Hai đám rước đi song song cùng nhau. Một đám về nghĩa trang của Chúa, một đám về nghĩa trang của đời. Hai linh hồn. Hai niềm tin khác nhau. Họ đi trong chiều mưa buồn.

Tôi nhìn cồn cát trong mưa thèm biết bao trong đoàn người đi ấy có dáng ba tôi. Chẳng còn sợ mẹ, tôi sẽ chạy lên kêu ba, dụi đầu vào ba, khóc thật to cho thỏa nỗi nhớ ba. Mẹ đứng sau lưng tôi từ lúc nào. Mẹ cũng nhìn lên cồn cát. Ánh mắt vô vọng, buồn buồn.

Một buổi tối, hai anh em tôi đi nhà thờ về nhìn thấy một người phụ nữ lạ mặt ở trong nhà mình. Đó là dì- mẹ của đứa em gái tôi. Tôi chưa từng gặp dì nhưng nhận ra dì nhờ những nét mà em giống dì. Dì quỳ xuống chân nội tôi, mẹ tôi và khóc. Nội và mẹ cũng khóc. Hai anh em tôi đứng chết lặng khi người lớn cuống quýt, ồn ào. Trong cái đám hỗn loạn than khóc đó tôi cũng òa khóc thật to khi nghe tin ba tôi đang hấp hối. Trước khi mất ba nhờ dì về báo với nội và mẹ, xin được gặp linh mục trước khi nhắm mắt.

Cả gia đình chúng tôi chở nhau đi trong đêm tối buồn. Ba nằm hấp hối trong nhà dì, tay quấn tràng chuỗi mân côi. Giờ phút ba hấp hối mọi nỗi đau buồn của tình cảm đều phải gác qua một bên, chỉ còn giây phút tiễn biệt. Nội, mẹ, dì và ba đứa con ba đều nắm tay ba và khóc. Tiếng đọc kinh vang dậy căn nhà nhỏ. Trong nhà chúng tôi còn có những người hàng xóm của ba và dì. Họ đều là người dân tộc, họ không có đạo nhưng cũng đứng đó nghiêm trang cùng chúng tôi tiễn biệt người thân, buồn với nỗi buồn của gia đình chúng tôi.

Tôi vô cùng sợ hãi. Sao ba tôi lại nằm đó? Sao ba không được sống thêm? Cuộc đời tôi đã thiếu vắng ba rồi lẽ nào bây giờ mất ba luôn sao? Ba nằm nhắm mắt nghe chúng tôi đọc kinh, nhận dầu thánh từ tay linh mục. Nước mắt chảy tràn trên đôi mắt ba. Và ba đi như thế. Rất bất ngờ, rất nhanh trong một buổi tối buồn.

Khi ba còn sống, do lỗi lầm tình cảm ba không được trở về nhà. Mà chắc ba cũng chọn cách không trở về. Trở về là những nỗi đau sống dậy. Là cảm giác thua cuộc, là đay nghiến, là hành hạ nhau bằng cả cuộc đời còn lại. Đã lạc đường rồi nên ba lạc luôn, cứ theo con đường mới mà đi, trúc trắc trở ngại thì ba chịu, ba biết, sinh bệnh tật ba cũng nhận luôn. Nhưng khi mất, ba được trở về, được cầu nguyện trong nhà thờ, được chôn trong nghĩa trang đạo Chúa ở làng chứ không phải là một ngôi mộ nằm lẻ loi trên núi. Dì cũng muốn ba trở về, dù biết ba chôn trong nghĩa trang đạo Chúa thì dì sẽ xa ba mãi mãi. Vì dì theo tộc người Raglai, khi chết sẽ chôn trong rừng và sẽ được người thân làm lễ bỏ mả. Sau khi làm lễ bỏ mả, theo tín ngưỡng của người Raglai, linh hồn sẽ cắt đứt với người thân, họ hàng, sẽ ở luôn thế giới kia, không quay về nữa. Còn linh hồn con chiên của Chúa lại được quay về thế giới này trong mỗi thánh lễ nguyện cầu.

Ở trần gian dì có ba một quãng đường, nhưng khi mất, linh hồn dì và ba lại khác đường với nhau bởi phong tục và tín ngưỡng. Người ba nằm bên sau này lại là nội, là mẹ, chứ không phải là dì. Nhưng vì nguyện vọng của ba, dì chấp nhận. Linh hồn ba đã trở về với chúng tôi.

Đám tang không trúng ngày mưa nhưng rất buồn. Chúng tôi đi rước ba qua cồn cát, qua chỗ ngày trước ba lén lút chờ gặp chúng tôi trong chiều chạng vạng để hỏi mọi người trong gia đình thế nào? Giờ ba cũng đang đi qua nơi chốn đó.

Sau khi ba mất, mỗi khi đến thánh lễ cầu nguyện cho ba dì lại dẫn đứa em tôi đến nhà thờ. Gia đình tôi: nội, mẹ, hai anh em chúng tôi và hai mẹ con của dì lại đứng cùng nhau trong một nhà thờ. Ba đã mất, nỗi đau bị chồng phản bội của mẹ cũng đã chai sạn, nhưng đứng cùng tình địch trong một thánh lễ hẳn là mẹ tôi cũng buồn nhiều. Nhưng dì cũng là người của ba. Người của nhau, cầu nguyện cho nhau là điều hợp lí. Tình cảm con người phức tạp quá. Chúa đến thế gian để cứu con người khỏi khổ ải. Nhưng con người khổ ải vì điều gì? Bệnh tật, miếng cơm manh áo, hay những rối ren đau buồn vì chuyện tình cảm tréo ngoe? Rồi Chúa lại bảo nên tha thứ nhưng tha thứ cho ai? Kẻ thù của ta là ai? Là người chống ta, ghét ta, làm điều xấu cho ta hay là người ta thương, ta yêu, từng yêu ta nhưng rồi làm ta đau khổ? Xác định kẻ thù thật không dễ. Sao kẻ thù lại là người ta yêu được?

Dì và em tôi xuất hiện trong nhà thờ, trong những thánh lễ của ba rồi đi đâu mất hút. Sau này chúng tôi không còn gặp lại dì và em. Khi chúng tôi lớn, tôi và anh tôi có chở nhau đến ngôi nhà xưa để thăm hai mẹ con dì nhưng hàng xóm cho biết hai mẹ con dì đã bỏ đi từ lâu.

Hai mẹ con dì đều theo đạo Chúa của ba. Nhưng ba mất rồi, theo thời gian và phong tục khác nhau, không biết dì và em có giữ đạo? Nếu dì mất, không biết dì được chôn cất theo đạo Chúa hay theo tín ngưỡng, phong tục của người Raglai? Chôn trên núi và được làm lễ bỏ mả.

Còn mẹ tôi, giờ đã già nhưng vẫn giữ một nỗi đau buồn trong tim, chưa tha thứ được. Có lúc mẹ tha thứ, có lúc mẹ lại căm giận. Giận người đã phản bội mẹ và biến mẹ thành một người đàn bà tội nghiệp, thua cuộc, không còn chút niềm tin vào hạnh phúc. Chiều chiều, mẹ đứng ở sau nhà, nhìn lên cồn cát. Nhìn bọn trẻ con chạy đuổi nhau trên cát, nhìn những đám tang đi qua. Rồi mẹ nhìn trân trân vào một chỗ mà tôi cũng không hiểu vì sao mẹ biết chỗ đó mà nhìn? Đó là chỗ ba đứng khi ba lén lút đến thăm chúng tôi.

Mẹ nhìn trân trân chỗ chồng mình lén lút gặp hai đứa con mình. Rồi mẹ ngồi, tay run run lần chuỗi, đôi mắt mờ đục ngước về hướng ấy. Mẹ cầu cho người đàn ông ấy lên thiên đàng, hay cầu cho nội giờ cũng đã nằm ở nghĩa trang?

 

Chúa tạo ra con người từ cát bụi rồi con người trở về cát bụi. Nhưng hành trình ấy nào có được thẳng thớm, êm đềm? Người này gây khổ cho người kia, người kia buồn khổ vì người nọ. Hận thù nhau, không tha thứ cho nhau. Trở về cát bụi những linh hồn có biết tìm nhau để xoa dịu những đau buồn? Ai cũng tưởng người kia còn sống mãi cho đến một ngày, nhắc về người đó chỉ còn là hạt bụi bay trong trời mà thôi. Ba, nội giờ đã thành cát bụi. Dì cũng mất hút. Mẹ đã già, chiều chiều ngồi lần chuỗi thanh thản chờ ngày trở về với Chúa. Ngày mẹ cũng trở thành một hạt bụi, hòa vào đám bụi trên cồn cát kia. Hạt bụi nào cũng giống nhau dù khi còn là xương thịt, đời sống khác nhau vô cùng… 

NIỀM TIN KHÔNG MỎI

Mã số: 16 - 023

- Cô ơi, cô có đi ra Vạn Ninh không?

- Không, bà ạ.

- Chú có đi ra Vạn Ninh không chú?

- Dạ, không.

Bà lão ấy, năm nay đã gần bảy mươi.

Hồi nhỏ, mỗi lần gặp bà, tôi vui lắm, vì lần nào bà cũng cho cái kẹo, cái bánh, đôi khi là bọc mít thơm lừng bà phơi, múi mít qua mấy nắng khô queo, vừa dai vừa ngọt. Ngày ấy, bao giờ lễ xong bà cũng nán lại chờ tôi ra để cho quà. Mấy lần Chúa Nhật, tôi lười, ở nhà đi chơi, lại thấy mẹ đem về gói kẹo, bảo “bà gửi cho cái thằng nhác đi lễ, lần sau mẹ không mang về nữa đâu”. Tôi cười cười, xé kẹo ăn ngon lành. Bà là mẹ đỡ đầu tôi, hồi nhỏ mẹ bảo gọi bà là mẹ, tôi không chịu, vì bà già giống bà nội, bà ngoại tôi.

***

 Ngày ông bà đứng trong nhà thờ hứa yêu thương nhau trọn đời trước Chúa, tụi nhỏ che miệng cười khúc khích “trên phim cô dâu chú rể mặc váy cưới đẹp lắm, không giống ông bà vậy đâu”. Bà không mặc váy cưới, áo dài bà mặc cũng không đứng dáng vì lưng đã còng, nhưng tôi thấy thời khắc ấy đẹp lắm! Người ta trẻ, người ta tự tin hứa sẽ giữ lòng chung thủy, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời. Nhưng rồi người ta cũng bỏ Chúa, bỏ luôn người cùng đứng trong thánh đường hứa hẹn với mình đó thôi. Ông bà đã thực hiện trước lời hứa ấy bằng gần cả cuộc đời bên nhau rồi.

Giáo xứ tôi mới có nhà thờ và Cha xứ mấy năm trở lại đây, trước đây vẫn thường gọi là giáo xứ mồ côi, lâu lâu được đón Cha trong Huế về làm lễ, cả giáo xứ mừng quýnh, Cha thương con thiếu người chăn dắt, con thương Cha vất vả đường xa, vất vả làm lễ trong nhà nguyện bé tí, nắng gió Quảng Bình vừa nóng vừa khô. Nói là nhà nguyện chứ thật ra là gian nhà khách của ông nội tôi, cả giáo xứ không nhà thờ, không Cha xứ. Cứ đến Chúa Nhật, mọi người tập trung nhau lại trước bàn thờ Chúa to đẹp nhất xóm ở nhà ông nội, góp tiền mua thêm ghế nhựa để ngồi, ngồi trong nhà không đủ, thì ngồi ngoài sân. Tôi lúc đó không hiểu được ý nghĩa của ngày Chúa Nhật nhưng cũng ngồi im, không dám quậy phá trong khi mọi người sốt sắng lần hạt mân côi, đọc kinh ngày Chúa Nhật. Tiếng kinh đều đều vang lên trong xóm nhỏ, nuôi dưỡng đức tin nơi mảnh đất suốt mấy chục năm không nhà thờ, không Cha xứ.

Bà ở khác huyện tôi, cách nhau hai mươi cây số. Nhưng chẳng thấy có Chúa Nhật nào ông bà vắng mặt. Ngày cha về nhận coi sóc giáo xứ tôi và thêm ba giáo xứ nữa trong huyện, người già, người trẻ quây quần bên Cha, ông và bà cũng có mặt, bà bảo “biết là từ nay Chúa Nhật nào cũng sẽ được dự thánh lễ do Cha chủ trì nhưng mừng quá phải ra gặp Cha bằng được”. Vậy là từ nay giáo xứ mình hết mồ côi, vậy là sẽ được nghe Cha giảng lời Chúa, rồi tụi nhỏ sẽ được học giáo lý thường xuyên, rồi sẽ có nhiều người con trở lại với Chúa… Bà vừa nói vừa lau những giọt nước mắt hạnh phúc trên gương mặt nhiều nếp nhăn của con người đã chứng kiến biết bao thăng trầm của cuộc đời.

Bà có con cháu đề huề, nhưng chỉ có ông bà theo Chúa, những người con của bà lúc đầu phản đối, không cho ông bà đi lễ, vì ở nơi đó, không ai theo đạo Chúa, mọi người cứ nghĩ theo Chúa là vì ngày xưa theo giặc, rồi tới ngày giỗ của cha mẹ, ông bà không đặt mâm cơm cúng là bất hiếu, là bỏ ông bà tổ tiên, nhưng ông bà cương quyết không bỏ Chúa. Bà vừa khóc vừa nói:

- Các con đừng nghĩ mẹ không đốt vàng mã, không đặt cơm cúng trước bàn thờ ông bà là bất hiếu. Đâu cần đợi tới ngày giỗ ông bà mới nhớ ông bà, Chúa Nhật nào ba mẹ cũng xin lễ cho ông bà, ngày nào cũng cầu nguyện cho ông bà. Không ai thờ cúng ông bà tổ tiên nhiều hơn đạo Chúa đâu.

Trước sự sốt sắng ấy của ông bà, các con ông bà cũng dần chấp nhận để bố mẹ mình theo đạo, đi lễ. Bà hay nhắc tôi chăm chỉ học giáo lý, để sau này dù người ta có nói gì đi nữa, dù có nhiều thứ cám dỗ cũng không để mất đức tin, đức cậy, đức mến của mình. Bà hay tự trách mình chưa đủ tốt để làm con cái yêu mến và đi theo Chúa. Rồi, mấy lần người ta hỏi:

- “Sao không thấy bà Quý đi lễ vậy?”

- “Chắc bà không xin được xe, khổ thân!”

Ngày trước còn khỏe, ông chở bà bằng xe đạp để đến ngôi nhà nguyện nhỏ, nhưng bao giờ cũng đầy ắp người, những người con yêu Chúa. Sau này, ông yếu hơn, hai ông bà sắm chiếc xe đạp điện rồi cùng nhau đến gặp Chúa, rước Mình Máu Ngài. Nhưng rồi, ông bị tai biến, liệt nửa người, không thể cử động như trước được. Mấy lần được về quê nghỉ hè, gặp bà, tôi hỏi bà có trách Chúa không, bà cười, “Ông vẫn cùng đọc kinh sáng tối với bà, ông vẫn nói chuyện được, vậy đã là hồng ân to lớn của Chúa dành cho ông bà rồi”. Bà không biết đi xe nên những lúc con cháu được nghỉ bà nhờ chở đi, những lúc con cháu bận, bà lại ra ngoài đường xem có ai đi ra Vạn Ninh không để xin đi nhờ, có người cho, có người sợ chở người già phiền phức, lỡ có chuyện gì nên từ chối. Cứ như vậy, tầm 12 giờ trưa Chủ Nhật, người ta lại thấy một bà lão đứng bên vệ đường, xin đi nhờ xe cho kịp thánh lễ lúc 3 giờ chiều.

Cái nắng thiêu đốt mùa hè hắt hình người xuống mặt đường bé tí, gió Lào thổi xốc đám bụi khô xoáy vòng.

- Cô có đi ra Vạn Ninh không?

 

- Chú có đi ra Vạn Ninh không chú?

BÃO BIỂN

Mã số: 16-018

- 60 tỷ, ok chứ?

- Cô đừng nói chuyện tiền bạc ở đây. Nhà thờ là tài sản của Giáo hội, của người Công giáo miệt này, tôi không quyết định được!

- Ối giời ơi, cầm từng ấy tiền linh mục muốn gì mà chả được. Cứ mua mảnh đất rộng hơn, xây nhà thờ to vật vã, hoành tráng lên cho dân chúng được nhờ…

Chưa dứt lời, người phụ nữ đã ngúng nguẫy ra xe. Chiếc lexus đen bóng lao nhanh khỏi nhà xứ để lại đằng sau lớp bụi cát mịt mù. Người đàn ông ngồi bất động, mặc ánh nắng chiều chếch xuống mái tóc hoa râm.

Hơn ba mươi năm từ khi cha Thể về đây coi xứ. Ngày đó đảo còn hoang sơ lắm, đi đâu cũng gặp những bãi cát mịn trải dài, những rặng dừa cong mình xanh mướt. Gia đình nào không có đất thì đi biển hoặc làm công cho các nhà thùng sản xuất nước mắm. Nhà trên đảo không hề đóng cửa, hiếm xảy ra chuyện trộm cắp. Ban ngày làm lụng vất vả nhưng đêm được yên giấc không phải lo lắng. Và nhịp sống yên bình đó chỉ nhộn nhịp khi đoàn tàu cá quay về. Chiều trên bãi biển, thấp thoáng bóng dáng những người phụ nữ đứng đợi người thân. Biển và bờ vỡ òa niềm vui khi từng con tàu cập bến. Cánh đàn ông nói cười rôm rã, nhảy vội lên bờ chọn vài con cá, con mực tươi ngon biếu người thân, chòm xóm, rồi mới bán cho thương lái. Tình người miền biển là vậy dù cuộc mưu sinh lắm nỗi nhọc nhằn. Tính cách họ phóng khoáng, ầm ào như sóng gió đại dương.

Lúc đầu, cha Thể lấy làm lạ vì cái kiểu ăn nói cộc lốc ở đây. Dần dần, ông nghiệm ra đó là đặc trưng văn hóa của người miền biển. Bởi ngoài khơi xa, giữa tiếng sóng gió ồn ào, người đầu thuyền, kẻ cuối thuyền, đã quen ăn to nói lớn. Nên họ mới có biệt danh là người “ăn đầu sóng, nói đầu gió”. Họ cục mịch nhưng chân thành, thô cộc mà nhân ái bao dung. Có thể ít học, nhưng người ngư dân vùng này vẫn luôn cậy dựa, phó thác vào Chúa.

Sống cùng ngư dân, cha mới biết, những cơn bão biển là nỗi ám ảnh triền miên đối với họ. Chỉ khi tận mắt chứng kiến, người ta mới hiểu hết sức tàn phá khủng khiếp của bão và càng thấm thía nỗi mất mát, đau thương khi cơn bão đi qua. Ngày bão giông, biển đổi màu đen sậm. Trên cao, dọc ngang những vệt sấm chớp ngoằn ngoèo như xé nát bầu trời xám ngắt. Bên dưới, từng đợt sóng to hất tung mọi ghềnh đá. Cây cối trên bờ rạp mình nghiêng ngã. Biển cuồng điên, vẫy vùng đến nỗi xoá nhoà cả khoảng không tưởng chừng vô tận giữa trời với nước. Biển nuôi dưỡng, vun đắp nhưng cũng huỷ diệt sự sống. Biển đưa người đi và trong một ngày giông tố biển đã không đưa người trở về. Biển mở rộng vòng tay đón nhận con người rồi cũng chính biển xiết chặt, vùi sâu con người dưới lòng đại dương sâu thẳm. Mỗi cơn bão đi qua, nhiều nỗi đau để lại. Những tiếng khóc thê lương giữa cảnh hoang tàn, đổ nát. Cha mẹ khóc con, vợ khóc chồng và cả tiếng khóc ngơ ngác của nhiều đứa trẻ chưa kịp hiểu hết hai tiếng mồ côi. Sau cơn bão, bãi biển trở thành bến đợi. Nơi chờ mong những cuộc trở về. Để rồi khi thời gian không còn đủ cho những đợi chờ cũng là lúc bãi tha ma cuối đảo xuất hiện thêm nhiều ngôi mộ gió. Và bao đời, biển vẫn thế.

Nhưng hôm nay, cha Thể đang nghĩ đến cơn bão khác. Một cơn bão đang từng ngày, từng giờ phá nát sự yên bình, làm thay đổi tận gốc cuộc sống nơi đây. Cuộc gặp mặt giữa ông và người khách lạ vừa rồi đã nói lên điều đó. Đúng như những lời đồn đoán, người phụ nữ kia đã tới tìm ông bằng cái kiểu của kẻ lắm bạc, nhiều tiền. Bà đại diện một tập đoàn nước ngoài với dự án xây dựng resort năm sao trên đảo. Chỉ trừ khuôn viên nhà thờ, còn lại bao nhiêu đất đai, nhà cửa từ bãi dài đến sát chân núi đã bị bà thâu tóm nhanh gọn trong vòng hai tháng. Cha sợ đến ngày ngôi nhà thờ duy nhất trên đảo cũng bị bứng đi nhường chỗ cho các dự án du lịch. Bởi ông hiểu câu nói cửa miệng người đời: Cái gì không mua được bằng tiền sẽ được mua bằng rất nhiều tiền.

Cơn sốt đất đã khiến nhiều gia đình bất ngờ trở thành tỉ phú. Bi đát ở chỗ cuộc sống giàu sang đến với họ chỉ thoáng qua như một giấc mơ. Nhiều ngư dân cả đời tần tảo, sống yên lành bên vườn dừa, bãi cát thì nay chỉ trong chớp mắt được khoác lên người chiếc áo tỉ phú. Nhưng cùng lúc đó họ phải rời xa nơi mình sinh sống. Thêm một tỉ phú thì cũng thêm nhiều người trong gia đình mất đất, bỏ nghề. Ai cũng thấy, tiền có được từ trúng đất còn gấp nhiều lần trúng số. Giờ đi trên đảo dễ dàng bắt gặp anh thợ hồ, chị bán cá hay ông xe ôm đã từng biết qua cảm giác làm tỉ phú. Nhiều người cầm tiền tỉ trong tay nhưng chẳng biết làm gì với số tiền vượt quá tầm quản lý của họ. Bán đất dễ lắm, đến lúc cầm tiền rồi thì khó mà mua lại được miếng khác trên đảo.

Số tiền bán đất cũng mang đến nhiều bất ổn cho các gia đình Công giáo. Tiền bạc thêm nhiều càng dễ làm người ta thêm bạc tình, bạc nghĩa. Họp ban hành giáo, tháng nào cha Thể cũng phải phân xử đủ loại kiện tụng. Hầu như tệ nạn nào cũng có người Công giáo góp mặt tham gia. Chính ông cũng không ngờ cuộc sống của bà con giáo dân giờ phức tạp, rối rắm đến vậy. Như chuyện nhà Hai Tân ở bãi Giữa, bán đất xong, con cái lao vào bài bạc. Chơi trên đảo chưa đã tay, thằng con ôm tiền qua Campuchia nướng tiếp vô casino. Tới lúc thua hết, nó tự cầm mạng mình lấy tiền gỡ gạc. Cuối cùng ông Hai Tân phải vác nửa tỉ bạc đi chuộc thằng quý tử về. Rồi vụ Ba Xê cũng ở gần đó, cầm mấy chục tỉ tiền bán đất lao vô nhậu nhẹt, đá gà, cá độ rồi bỏ vợ, đi theo con nhỏ tiếp viên đáng tuổi con cháu vô đất liền. Nhưng điều làm cha Thể đau lòng nhất là chuyện nhà bà Bảy Châu. Bán hai công đất nghe đâu được vài chục tỉ. Tiền chưa tới tay, mấy thằng con đã nhào vô tranh chấp, vác mã tấu rượt nhau rần rần. Con không cha như nhà không nóc, ông Bảy mất tích sau trận bão lớn, giờ một mình bà khóc cạn nước mắt nhìn cảnh huynh đệ tương tàn. Cũng mấy lần cha Thể ghé qua thu xếp, giảng hoà nhưng đều thất bại. Rượu vào lời ra, ông cha chưa kịp bước qua cổng tụi nó đã văng tục chửi rủa. Có lần thằng Trọng, đứa lớn nhất, xách dao rượt ông và ban hành giáo chạy mất dép vì dám xía vô chuyện gia đình tụi nó. Đưa ra chính quyền chỉ phạt hành chính rồi cho về. Người ta giải thích, đó mới là hăm doạ thôi chứ chưa gây án nên không thể bắt giam hay đưa đi cải tạo. Nhưng cha Thể vẫn thấy lo lắm vì từ lúc rủng rỉnh tiền bạc, tụi nó bắt đầu tập tành hút hít. Khi bị kích động của ảo giác, ai dám chắc không xảy ra án mạng.

Mỗi tuần cha Thể đi dâng lễ ở các giáo điểm rải rác trên đảo. Càng đi, cha càng tiếc nuối vì đảo không còn xinh đẹp và bình yên như ngày xưa nữa. Chỉ sau một tuần, những nơi ông đến đều thay đổi đến mức không còn nhận ra. Ngày càng xuất hiện nhiều hơn những cánh rừng bị phá nát, phân lô chờ đền bù, giải toả. Có cầu thì ắt có cung, nhiều băng nhóm “giang hồ đất” cát cứ từng vùng để giải quyết chuyện tranh chấp, mâu thuẫn đất đai theo kiểu xã hội đen. Đảo khá xa đất liền nên là nơi ẩn náu lý tưởng của đủ loại tội phạm. Những thứ xưa nay hiếm giờ nhan nhãn khắp nơi: lừa đảo, trộm cắp, cướp giật, đâm chém, ma tuý, đĩ điếm…

Người ta đang khai thác đến cạn kiệt mọi thứ tài nguyên nơi đây với lý do làm du lịch. Chỗ nào cũng thấy rác, cả hòn đảo ngập ngụa trong rác. Khi thuỷ triều xuống, dọc bãi biển rác rến tràn lan. Bao nhiêu nước thải đều tống thẳng ra biển tạo nên những dòng chảy đen ngòm, tanh tưởi. Mấy năm gần đây những hàng phi lao ven biển đã bị đốn sạch để dọn đường cho nhiều bãi tắm cao cấp, resort đắt tiền. Lợi ích chưa thấy đâu nhưng hậu quả mà người dân đảo phải gánh chịu thì nhiều vô kể. Những hàng phi lao dày đặc trước kia là bức tường xanh che chắn sóng gió mỗi mùa giông bão, giờ thì chỉ một cơn gió cũng đủ làm cát biển bay mịt mù vô tận làng trên, xóm dưới. Cũng vì không còn những hàng phi lao nên mỗi năm biển xâm thực càng sâu vào bên trong đảo. Mỗi cơn bão đi qua, bờ biển lại thêm nham nhở, tan hoang.

Lúc chiều, gia đình Hai Tân tới chào cha trước lúc đi xa. Gặng hỏi mãi, mới biết cả nhà khăn gói vô đất liền làm mướn kiếm sống. Họ ra đi âm thầm không cho ai biết vì ngại ngùng, xấu hổ. Mới ngày nào còn mang danh tỉ phú, giờ đất cát không còn, nghề ngỗng cũng không. Cha Thể tự hỏi, sẽ đến lượt ai nối gót họ tha phương cầu thực trong những ngày sắp tới.

Bất chợt, đằng xa vẳng lại những tiếng la thét hoảng loạn. Tiếng bước chân mỗi lúc một gần. Ông trùm Nam chạy vô nhà xứ với nét mặt hớt hãi, tái mét:

- Thưa cha, thằng Trọng vừa đâm chết bà Bảy. Người ta nói nó xài ma tuý đá nên hung hăng lắm, không ai dám nhào vô!

Cha Thể cảm giác rụng rời tay chân. Điều ông lo sợ lâu nay đã đến, con chiên của ông đã thật sự bán mình cho quỷ. Bàn tay thằng Trọng đang vấy máu chính người đã cưu mang, nuôi dưỡng nó. Tiếng súng vang lên chát chúa, hình như công an bắn chỉ thiên để trấn áp. Ông Nam giật mình lắp bắp:

- Vậy Cha có xuống xức dầu cho bà Bảy hay giải tội cho nó trước lúc vô tù không, thưa Cha?

Cha Thể im lặng hồi lâu rồi thở dài lên tiếng:

- Chắc không cần đâu. Bà Bảy chết rồi. Còn nó lúc này ý thức được gì đâu mà xưng với thú. Chỉ cầu xin Lòng Thương Xót Chúa hoán cải và tha thứ cái tội tày trời của nó!

 

Cha Thể bước ra sân, những cơn gió lạnh thấu xương thổi ào ạt như muốn cuốn lấy, quật ngã ông. Ngoài xa từng con sóng đen ngòm nối tiếp nhau tạo nên nhiều hình thù kỳ dị, ma quái phủ cao, dựng đứng rồi đổ ập tung toé lên tận thềm nhà thờ. Bão đã vào bờ.

Chuyên mục phụ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %